Luận văn kiến thức thái độ thực hành phát hiện và can thiệp sớm khuyết tật ở trẻ dưới 6 tuổi của giáo viên mầm non và một số yếu tố liên quan tại huyện cao lãnh tỉnh đồng tháp năm 2017

Luận văn nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành phát hiện và can thiệp sớm khuyết tật ở trẻ dưới 6 tuổi của giáo viên mầm non tại huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp năm 2017.

Chuyên ngành

Y tế Công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

125
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khuyết tật trẻ em và vai trò của giáo viên mầm non

Khuyết tật trẻ em là vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của trẻ. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khuyết tật bao gồm các thiếu hụt về cấu trúc cơ thể, suy giảm chức năng và hạn chế trong hoạt động. Giáo viên mầm non đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện sớmcan thiệp sớm khuyết tật ở trẻ dưới 6 tuổi. Nghiên cứu tại Cao Lãnh, Đồng Tháp năm 2017 cho thấy, 65.4% giáo viên thiếu kiến thức về phát hiện sớmcan thiệp sớm, đặc biệt là nhận biết các dạng khuyết tật như tự kỷ.

1.1. Định nghĩa và phân loại khuyết tật

Khuyết tật được định nghĩa là sự thiếu hụt về cấu trúc cơ thể hoặc suy giảm chức năng, gây khó khăn trong hoạt động hàng ngày. Trẻ khuyết tật được phân loại thành các nhóm như khuyết tật vận động, khiếm thính, khiếm thị, khuyết tật trí tuệ và tự kỷ. Tại Việt Nam, Luật Người khuyết tật chia thành 6 nhóm chính, bao gồm khuyết tật vận động, nghe, nói, nhìn, thần kinh và trí tuệ.

1.2. Nguyên nhân khuyết tật ở trẻ

Nguyên nhân khuyết tật ở trẻ có thể do yếu tố trước sinh, trong sinh và sau sinh. Trước sinh, các yếu tố như bệnh của mẹ, ngộ độc thai nghén hoặc nhiễm trùng có thể gây khuyết tật. Trong sinh, các biến chứng như ngạt khi sinh hoặc sinh non cũng là nguyên nhân phổ biến. Sau sinh, trẻ có thể bị khuyết tật do suy dinh dưỡng, nhiễm trùng hoặc tai nạn.

II. Phát hiện sớm và can thiệp sớm khuyết tật

Phát hiện sớmcan thiệp sớm là các biện pháp quan trọng giúp giảm thiểu ảnh hưởng của khuyết tật đến sự phát triển của trẻ. Giáo viên mầm non cần được trang bị kiến thức và kỹ năng để nhận biết các dấu hiệu bất thường ở trẻ. Nghiên cứu tại Cao Lãnh, Đồng Tháp năm 2017 chỉ ra rằng, 35.8% giáo viên có thái độ không tích cực trong việc phối hợp với gia đình để can thiệp sớm.

2.1. Quy trình phát hiện sớm khuyết tật

Phát hiện sớm bao gồm các bước sàng lọc rối loạn phát triển của trẻ theo độ tuổi. Giáo viên cần quan sát, theo dõi và so sánh sự phát triển của trẻ với các bạn cùng lớp. Nếu phát hiện dấu hiệu bất thường, trẻ cần được gửi đi khám và đánh giá chuyên sâu để xác định loại khuyết tật.

2.2. Can thiệp sớm và vai trò của giáo viên

Can thiệp sớm là các biện pháp hỗ trợ kịp thời để giúp trẻ phát triển tối đa tiềm năng. Giáo viên cần phối hợp với gia đình và các chuyên gia để xây dựng kế hoạch can thiệp phù hợp. Nghiên cứu cho thấy, giáo viên có trình độ trung cấp và chưa được tập huấn thường có thực hành không thường xuyên trong can thiệp sớm.

III. Thực trạng kiến thức thái độ và thực hành của giáo viên mầm non

Nghiên cứu tại Cao Lãnh, Đồng Tháp năm 2017 cho thấy, giáo viên mầm non còn nhiều hạn chế trong kiến thức, thái độ và thực hành về phát hiện sớmcan thiệp sớm khuyết tật. 65.4% giáo viên có kiến thức không đạt, đặc biệt là nhận biết các dạng khuyết tật. 35.8% giáo viên có thái độ không tích cực trong việc phối hợp với gia đình. 32.5% giáo viên có thực hành không thường xuyên trong phát hiện sớm và 41.9% trong can thiệp sớm.

3.1. Kiến thức của giáo viên về khuyết tật

Nghiên cứu chỉ ra rằng, phần lớn giáo viên mầm non thiếu kiến thức về các dạng khuyết tật, đặc biệt là tự kỷ. 62.2% giáo viên không nhận biết được các dấu hiệu của khuyết tật trí tuệ và vận động. Điều này cho thấy cần tăng cường đào tạo và tập huấn cho giáo viên về nhận biết và xử lý các tình huống liên quan đến khuyết tật.

3.2. Thái độ và thực hành của giáo viên

Thái độ của giáo viên mầm non đối với phát hiện sớmcan thiệp sớm còn nhiều hạn chế. 37.8% giáo viên không tích cực trong việc phối hợp với gia đình. Thực hành của giáo viên cũng không thường xuyên, với 32.5% không thực hiện phát hiện sớm và 41.9% không thực hiện can thiệp sớm.

IV. Yếu tố liên quan đến kiến thức thái độ và thực hành

Nghiên cứu chỉ ra rằng, các yếu tố như trình độ học vấn, kinh nghiệm và việc tham gia tập huấn ảnh hưởng lớn đến kiến thức, thái độ và thực hành của giáo viên mầm non. Giáo viên có trình độ trung cấp và chưa được tập huấn thường có kiến thức và thực hành kém hơn. Ngoài ra, giáo viên chưa từng phát hiện trẻ khuyết tật cũng có thái độ và thực hành không tích cực.

4.1. Yếu tố nhân khẩu học

Trình độ học vấn và kinh nghiệm của giáo viên mầm non là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kiến thức và thực hành. Giáo viên có trình độ trên trung cấp và đã từng phát hiện trẻ khuyết tật thường có kiến thức và thực hành tốt hơn.

4.2. Yếu tố tăng cường

Việc tham gia các khóa tập huấn về phát hiện sớmcan thiệp sớm giúp cải thiện đáng kể kiến thức và thực hành của giáo viên. Nghiên cứu cho thấy, giáo viên đã được tập huấn có thái độ tích cực hơn trong việc phối hợp với gia đình và thực hiện can thiệp sớm.

V. Kết luận và khuyến nghị

Nghiên cứu tại Cao Lãnh, Đồng Tháp năm 2017 cho thấy, giáo viên mầm non còn nhiều hạn chế trong kiến thức, thái độ và thực hành về phát hiện sớmcan thiệp sớm khuyết tật. Cần tăng cường đào tạo và tập huấn cho giáo viên, đồng thời phối hợp chặt chẽ với gia đình để nâng cao hiệu quả can thiệp sớm.

5.1. Khuyến nghị đối với giáo viên

Giáo viên cần tham gia các khóa tập huấn về phát hiện sớmcan thiệp sớm để nâng cao kiến thức và kỹ năng. Đồng thời, cần tích cực phối hợp với gia đình và các chuyên gia để xây dựng kế hoạch can thiệp phù hợp cho trẻ khuyết tật.

5.2. Khuyến nghị đối với cơ quan quản lý

Các cơ quan quản lý giáo dục cần tổ chức các chương trình đào tạo và tập huấn thường xuyên cho giáo viên mầm non. Ngoài ra, cần cung cấp các tài liệu và công cụ hỗ trợ để giáo viên có thể thực hiện hiệu quả phát hiện sớmcan thiệp sớm.

23/02/2025
Luận văn kiến thức thái độ thực hành phát hiện và can thiệp sớm khuyết tật ở trẻ dưới 6 tuổi của giáo viên mầm non và một số yếu tố liên quan tại huyện cao lãnh tỉnh đồng tháp năm 2017

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Ở độ tuổi mầm non, trẻ phát triển liên tục với tốc độ nhanh. Bên cạnh đó, một số trẻ bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu khác biệt, chậm phát triển so với các trẻ khác. Phát hiện sớm những khó khăn, chậm trễ về phát triển ở trẻ trong giai đoạn này và có biện pháp hỗ trợ kịp thời sẽ giúp giảm thiểu những ảnh hƣởng bất lợi về khuyết tật đến sự phát triển của trẻ, giúp cho trẻ có cơ hội để phát triển hết khả năng của mình [16]. Qua khảo sát gánh nặng bệnh tật trên phạm vi toàn cầu, ƣớc tính có 95 triệu (5,1%) trẻ em ở độ tuổi từ 0-14 tuổi bị khuyết tật, trong đó 13 triệu (0,7%) trẻ em bị khuyết tật nặng[44].

Tuy nhiên có khoảng một nửa trẻ khuyết tật (TKT) trên thế giới không đƣợc xác định trƣớc tuổi đi học [34]. Theo báo cáo của Ủy Ban quốc gia về ngƣời khuyết tật Việt Nam năm 2017, Việt Nam có khoảng 7,2 triệu ngƣời khuyết tật từ 5 tuổi trở lên, chiếm 7,8% dân số; 28,3% ngƣời khuyết tật là trẻ em; 10,2% ngƣời khuyết tật là ngƣời cao tuổi [30]. Theo Tổ chức Y tế thế giới, 70% khuyết tật có thể phòng ngừa đƣợc nếu có những biện pháp chăm sóc thích hợp cho ngƣời mẹ mang thai và trẻ ở giai đoạn sơ sinh và những năm đầu đời. Việc phát hiện và can thiệp sớm ngay từ lứa tuổi mầm non là hết sức quan trọng góp phần tạo điều kiện cho trẻ phục hồi, hòa nhập và phát triển.

Do vậy giai đoạn này, GVMN đóng vai trò rất quan trọng trong việc quan sát, theo dõi, so sánh sự phát triển của trẻ với những trẻ khác trong lớp để phát hiện những dấu hiệu bất thƣờng ở trẻ. Trong những năm qua, với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo một số địa phƣơng xây dựng mô hình can thiệp sớm, bao gồm phát hiện đánh giá, can thiệp cá nhân. Khó khăn hiện nay là trình độ, năng lực phát hiện sớm TKT của GVMN còn hạn chế. Huyện Cao Lãnh nằm ở phía Bắc sông Tiền, cách trung tâm hành chính tỉnh Đồng Tháp 8 km, với mật độ dân số: 222.386 ngƣời khuyết tật (NKT) trong đó có 267 TKT [27].

Hiện tại huyện có 8.622 trẻ < 6 tuổi đi học ở các trƣờng mầm non (chiếm tỷ lệ 60,69% tổng số trẻ < 6 tuổi) [26]. Với số lƣợng trẻ đến trƣờng mầm non ngày càng tăng thì việc phát hiện sớm trẻ có dấu hiệu chậm phát triển trong các cơ sở giáo dục mầm non là hết sức cần thiết. Tuy nhiên hiện 2 nay, tại huyện nói riêng và tỉnh Đồng Tháp nói chung chƣa có một nghiên cứu nào về kiến thức, thái độ thực hành về phát hiện và can thiệp sớm khuyết tật ở trẻ của GVMN. Xuất phát từ thực tiễn trên, để trả lời câu hỏi: Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về phát hiện và CTS khuyết tật ở trẻ của GVMN nhƣ thế nào? Những yếu tố nào liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về phát hiện và CTS khuyết tật ở trẻ của GVMN? Nên chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành phát hiện và can thiệp sớm khuyết tật ở trẻ dưới 6 tuổi của Giáo viên mầm non và một số yếu tố liên quan tại huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp năm 2017”.

Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp bằng chứng để xây dựng các hoạt động nâng cao nhận thức của GVMN về phát hiện và CTS khuyết tật ở trẻ, góp phần nâng cao chất lƣợng phục hồi chức năng và giáo dục hòa nhập cho TKT tại huyện Cao Lãnh nói riêng và TKT nói chung. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về phát hiện và can thiệp sớm khuyết tật ở trẻ < 6 tuổi của GVMN huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp năm 2017. Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về phát hiện và can thiệp sớm khuyết tật ở trẻ < 6 tuổi của GVMN huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp năm 2017.

Mục tiêu cụ thể 2. Xác định mối liên quan giữa yếu tố nhân khẩu học và yếu tố tăng cƣờng đến kiến thức, thái độ và thực hành phát hiện và can thiệp sớm khuyết tật ở trẻ < 6 tuổi của GVMN. Xác định mối liên quan giữa kiến thức, thái độ với thực hành phát hiện và can thiệp sớm khuyết tật ở trẻ < 6 tuổi của GVMN. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

Định nghĩa khuyết tật, trẻ khuyết tật Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khái niệm khuyết tật gắn liền với 3 yếu tố cơ bản:thiếu hụt về cấu trúc cơ thể và sự suy giảm các chức năng, hạn chế trong hoạt động của cá nhân, khó khăn và trở ngại do môi trƣờng sống đem lại làm cho họ không thể tham gia đầy đủ và có hiệu quả trong mọi hoạt động của cộng đồng [25]. Trẻ khuyết tật là trẻ bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng đƣợc biểu hiện dƣới dạng tật, khiến cho các hoạt động và sinh hoạt hằng ngày gặp khó khăn [15]. Phân loại khuyết tật Tổ chức Y tế thế giới đã phân khuyết tật thành 7 nhóm gồm: khó khăn về vận động; khó khăn về nhìn; khó khăn về nghe, nói; khó khăn về học; hành vi xa lạ; mất cảm giác; động kinh. Tại Việt Nam, theo luật ngƣời khuyết tật, các dạng khuyết tật đƣợc chia ra bao gồm 6 nhóm chính: khuyết tật vận động, khuyết tật nghe, nói, khuyết tật nhìn, khuyết tật thần kinh, tâm thần, khuyết tật trí tuệ và khuyết tật khác [7].

Theo tài liệu bồi dƣỡng thƣờng xuyên của giáo viên mầm non về nội dung giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật thì TKT thƣờng đƣợc phân thành các nhóm sau: trẻ khiếm thính, trẻ khiếm thị, trẻ chậm phát triển trí tuệ hay trẻ khó khăn về học, trẻ khuyết tật vận động, trẻ khó khăn về ngôn ngữ, trẻ đa tật (trẻ có hai hoặc nhiều khuyết tật và trẻ có các dạng khuyết tật khác. Sau đây chỉ đề một số dạng khuyết tật gặp ở trẻ mầm non [15]. Trẻ khuyết tật vận động là trẻ khó khăn về vận động. Đó là những trẻ bị tổn thƣơng các cơ quan vận động tay, chân, hoặc cột sống….gây khó khăn về cầm nắm, nằm, ngồi, đi, đứng và di chuyển.

Trẻ khiếm thính là trẻ có khó khăn về nghe, bị suy giảm hay mất khả năng nghe dẫn đến chậm phát triển ngôn ngữ, hạn chế chức năng giao tiếp, trƣờng hợp nặng hơn trẻ không nói đƣợc. 5 Trẻ khuyết tật ngôn ngữ là trẻ bị tổn thƣơng cơ quan tiếp nhận, chỉ huy ngôn ngữ và các bộ phận của cơ quan phát âm làm cho trẻ nói khó khăn hoặc mất khả năng nói (câm). Trẻ khiếm thị là trẻ có khuyết tật thị giác, sau khi đã có các phƣơng tiện trợ giúp tối đa vẫn gặp nhiều khó khăn trong các hoạt động cần sử dụng mắt. Trẻ khuyết tật trí tuệ là trẻ có những hạn chế lớn về khả năng thực hiện các chức năng.

Trẻ tự kỉ là hội chứng rối loạn phát triển chung và các hành vi [15]. Nguyên nhân khuyết tật ở trẻ Khuyết tật có thể do một hoặc nhiều nguyên nhân gây nên. Nhƣng nhiều trẻ bị khuyết tật mà không rõ nguyên nhân. Một số nguyên nhân gây khuyết tật ở trẻ: Nguyên nhân trước sinh Do bệnh của bà mẹ khi mang thai (vi rút, bệnh giáp trạng, ngộ độc thai, tiểu đƣờng, chấn thƣơng…), mẹ dùng thuốc không đúng chỉ định.

Ngộ độc thai nghén; ngộ độc hóa chất độc hại. Mẹ mắc một số bệnh nhiễm trùng, kí sinh trùng trong thời kỳ mang thai: Sốt rét, lao, nhiễm trùng cấp, viêm họng, viêm phế quản…Mẹ bị ốm, dinh dƣỡng kém. Nguyên nhân trong sinh Mẹ đẻ khó, phải can thiệp bằng dụng cụ, mẹ chuyển dạ lâu trẻ bị ngạt, mẹ đẻ quá nhanh gây sang chấn thƣơng cho trẻ trong khi sinh. Trẻ ngôi ngƣợc; ngôi ngang sa tay, sa chân, trẻ bị đẻ non, thiếu tháng, trẻ thiếu cân dƣới 2500gram.

Nguyên nhân sau sinh Trẻ bị vàng da tan máu kéo dài, trẻ bị suy dinh dƣỡng do quá trình nuôi dƣỡng: thiếu sữa mẹ, nuôi không đúng cách, thiếu các vi chất dinh dƣỡng….Trẻ bị mắc các bệnh nhiễm trùng cấp tính: viêm phế quản cấp, ỉa chảy cấp, bại liệt, lao, ho gà, uốn ván, bạch hầu, viêm não….gây tổn thƣơng não và các cơ quan bộ phận. Trẻ bị tai nạn, phơi nhiễm với các chất độc hại [1]. Phát hiện sớm, can thiệp sớm và các bước Phát hiện sớm – Can thiệp sớm Phát hiện sớm khuyết tật là các biện pháp sàng lọc rối loạn phát triển của trẻ theo độ tuổi và giai đoạn nhằm phát hiện những trẻ có yếu tố nguy cơ bị chậm phát 6 triển hoặc bị khuyết tật để gửi đi khám và phân loại khuyết tật, từ đó có biện pháp can thiệp sớm. Can thiệp sớm khuyết tật là áp dụng bất kỳ một dịch vụ hoặc hình thức hỗ trợ nào cho TKT và cha mẹ trẻ hoặc gia đình và môi trƣờng xung quanh giúp trẻ phát triển và hòa nhập cuộc sống cộng đồng [6].

Các bước Phát hiện sớm - Can thiệp sớm Nhận biết sớm: Là quan sát đƣợc những dấu hiệu đầu tiên gợi ý sự phát triển của trẻ có thể có nguy cơ hoặc bất thƣờng về thể chất, giác quan, tâm thần, hành vi. Phát hiện sớm: Là sự nhận diện một cách hệ thống các dấu hiệu bất thƣờng về phát triển hoặc bất thƣờng về thể chất, giác quan, tâm thần và hành vi. Các công cụ sàng lọc để phát hiện các bất thƣờng sẽ đƣợc các thành viên gia đình, cộng đồng hoặc các nhà thực hành về Y tế hoặc giáo dục thực hiện. Kết quả sàng lọc chƣa phải là chuẩn đoán, trẻ cần đƣợc thăm khám chuyên khoa để có chẩn đoán cuối cùng.

Chẩn đoán: Là sự xác định các khiếm khuyết về phát triển hoặc bất thƣờng về thể chất, giác quan, tâm thần và hành vi do các nhà chuyên môn chuyên ngành sâu nhƣ Phục hồi chức năng, nhi khoa, chuyên gia tâm lý - giáo dục - xã hội…… Tập luyện: Bao gồm các hoạt động có mục tiêu nhằm tác động trẻ và môi trƣờng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của trẻ. Đó là những hoạt động nhƣ: kích thích phát triển, giáo dục, các dịch vụ y tế ( hoạt động trị liêu, vật lý trị liệu, ngôn ngữ trị liệu, thính học và dinh dƣỡng….

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Kiến thức, thái độ và thực hành phát hiện, can thiệp sớm khuyết tật ở trẻ dưới 6 tuổi của giáo viên mầm non tại Cao Lãnh, Đồng Tháp 2017 là một nghiên cứu quan trọng tập trung vào vai trò của giáo viên mầm non trong việc phát hiện và can thiệp sớm khuyết tật ở trẻ nhỏ. Tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về kiến thức, thái độ và thực hành của giáo viên, đồng thời đưa ra các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác này. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà giáo dục, quản lý giáo dục và phụ huynh quan tâm đến sự phát triển toàn diện của trẻ.

Để mở rộng hiểu biết về chủ đề này, bạn có thể tham khảo Luận văn kỹ năng giải quyết tình huống sư phạm của giáo viên mầm non, nghiên cứu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách giáo viên ứng phó với các tình huống thực tế trong giáo dục trẻ. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động giáo dục trẻ tại các trường mầm non cung cấp góc nhìn toàn diện về quản lý giáo dục mầm non. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ quản lý phối hợp giữa gia đình và nhà trường sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự hợp tác cần thiết để hỗ trợ trẻ phát triển tối ưu.