Luận văn kiến thức thái độ thực hành về phát hiện sớm khuyết tật ở trẻ dưới 06 tuổi của giáo viên mầm non tại huyện hoài đức hà nội năm 2014

Luận văn nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành của giáo viên mầm non về phát hiện sớm khuyết tật ở trẻ dưới 6 tuổi tại Hoài Đức, Hà Nội năm 2014.

Chuyên ngành

Y tế Công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

114
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Kiến thức của giáo viên mầm non về phát hiện sớm khuyết tật

Nghiên cứu chỉ ra rằng kiến thức của giáo viên mầm non tại Hoài Đức, Hà Nội về phát hiện sớm khuyết tậttrẻ dưới 6 tuổi còn hạn chế. Chỉ 53,8% giáo viên có kiến thức đạt chuẩn. Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm trình độ học vấn, xếp loại giáo viên năm học trước, và kinh nghiệm dạy trẻ khuyết tật. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc nâng cao nhận thức giáo viên thông qua các chương trình đào tạo và tập huấn chuyên sâu.

1.1. Yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức

Các yếu tố như trình độ học vấn, kinh nghiệm dạy trẻ khuyết tật, và xếp loại giáo viên năm học trước có tác động đáng kể đến kiến thức của giáo viên. Giáo viên có trình độ cao hơn và từng dạy trẻ khuyết tật thường có kiến thức tốt hơn. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tích lũy kinh nghiệm và nâng cao trình độ chuyên môn.

II. Thái độ của giáo viên mầm non về phát hiện sớm khuyết tật

Thái độ của giáo viên mầm non đối với phát hiện sớm khuyết tật khá tích cực, với 57,7% giáo viên có thái độ đạt chuẩn. Các yếu tố như trường đạt chuẩn quốc gia, triển khai thông tư của Bộ Giáo dục về trẻ khuyết tật, và việc được tập huấn về phát hiện sớm đã góp phần cải thiện thái độ. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc tạo môi trường hỗ trợ và cung cấp tài liệu hướng dẫn cho giáo viên.

2.1. Yếu tố ảnh hưởng đến thái độ

Các yếu tố như trường đạt chuẩn quốc gia, triển khai thông tư của Bộ Giáo dục, và việc được tập huấn về phát hiện sớm có tác động tích cực đến thái độ của giáo viên. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ từ các cấp quản lý giáo dục.

III. Thực hành của giáo viên mầm non về phát hiện sớm khuyết tật

Thực hành của giáo viên mầm non trong phát hiện sớm khuyết tật còn nhiều hạn chế, chỉ 30,7% giáo viên có thực hành đạt chuẩn. Các yếu tố như tuổi, kinh nghiệm dạy trẻ khuyết tật, và đào tạo nội dung liên quan đến khuyết tật tại trường sư phạm có ảnh hưởng đáng kể. Nghiên cứu đề xuất cần tăng cường đào tạo kỹ năng thực hành và cung cấp công cụ hỗ trợ cho giáo viên.

3.1. Yếu tố ảnh hưởng đến thực hành

Các yếu tố như tuổi, kinh nghiệm dạy trẻ khuyết tật, và đào tạo nội dung liên quan đến khuyết tật tại trường sư phạm có tác động lớn đến thực hành của giáo viên. Giáo viên có kinh nghiệm và được đào tạo chuyên sâu thường có thực hành tốt hơn. Điều này nhấn mạnh sự cần thiết của việc tích hợp nội dung đào tạo về khuyết tật trong chương trình sư phạm.

IV. Phát hiện sớm và can thiệp sớm khuyết tật ở trẻ

Phát hiện sớmcan thiệp sớm là các biện pháp quan trọng giúp giảm thiểu ảnh hưởng của khuyết tật đến sự phát triển của trẻ dưới 6 tuổi. Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của giáo viên mầm non trong việc nhận biết các dấu hiệu bất thường và phối hợp với các bên liên quan để thực hiện can thiệp sớm. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành giáo dục, y tế và các tổ chức xã hội.

4.1. Các bước triển khai phát hiện sớm

Quá trình phát hiện sớm bao gồm nhận biết sớm các dấu hiệu bất thường, sử dụng công cụ sàng lọc, và chẩn đoán chuyên sâu. Giáo viên cần được hướng dẫn sử dụng các công cụ sàng lọc và phối hợp với các chuyên gia y tế để đảm bảo hiệu quả của quá trình phát hiện sớm.

V. Khuyến nghị và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu đề xuất các khuyến nghị như tăng cường đào tạo kiến thức, thái độ, và thực hành cho giáo viên mầm non, lồng ghép hoạt động phát hiện sớm vào chương trình giáo dục, và đẩy mạnh phối hợp giữa các ban ngành. Những khuyến nghị này có thể áp dụng trong việc xây dựng chính sách và chương trình hỗ trợ trẻ khuyết tật tại Hoài Đức, Hà Nội và các khu vực khác.

5.1. Ứng dụng trong giáo dục mầm non

Các khuyến nghị từ nghiên cứu có thể được áp dụng để cải thiện chất lượng giáo dục mầm non, đặc biệt trong việc hỗ trợ trẻ khuyết tật. Việc lồng ghép hoạt động phát hiện sớm vào chương trình giáo dục sẽ giúp nâng cao nhận thức và kỹ năng của giáo viên, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của trẻ.

23/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa khuyết tật Quan niệm về khuyết tật được định nghĩa trong ICF (2001) như sau: Chức năng cơ thể là các chức năng sinh lý của hệ thống cơ thể (bao gồm cả chức năng tâm lý). Cấu trúc cơ thể là các bộ phận giải phẫu của cơ thể như các cơ quan, chân tay và các bộ phận hợp thành của nó. Sự suy yếu là tình trạng thiếu hụt hoặc bất bình thường về chức năng hoặc cấu trúc của cơ thể.

Hoạt động là việc thực hiện một nhiệm vụ hoặc một hành động của một cá nhân. Hạn chế hoạt động là tình trạng khó khăn một cá nhân gặp phải khi thực hiện các hoạt động. Sự tham gia là sự liên quan của con người trong cuộc sống, biểu thị chức năng xã hội. Hạn chế sự tham gia là tình trạng một người gặp khó khăn khi tham gia vào các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống.

Yếu tố môi trường tạo nên môi trường tự nhiên, xã hội và thái độ trong đó mọi người sống và thực hiện cuộc sống của họ [45]. Theo Luật NKT của Việt Nam do Quốc hội ban hành ngày 16/07/2010: NKT là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn [14]. Phân loại khuyết tật Căn cứ vào việc áp dụng bảng phân loại khuyết tật tại các nước trên thế giới. Căn cứ vào kinh nghiệm phân loại khuyết tật theo WHO áp dụng trong chương trình PHCNDVCĐ tại Việt Nam.

Căn cứ Luật NKT số 51/2010/QH12 ban hành ngày 16/07/2010 5 1) Khuyết tật vận động; 2) Khyết tật nghe, nói; 3) Khyết tật nhìn; 4) Khyết tật thần kinh, tâm thần; 5) Khuyết tật trí tuệ; 6) Các dạng khuyết tật khác. Nguyên nhân khuyết tật ở trẻ em Khuyết tật có thể do một hoặc nhiều yếu tố nguyên nhân gây nên. Nhưng nhiều trẻ bị khuyết tật mà không rõ nguyên nhân. Một số nguyên nhân gây khuyết tật ở trẻ: Nguyên nhân trước sinh - Do bệnh của bà mẹ khi mang thai (vi rút, bệnh giáp trạng, ngộ độc thai, tiểu đường, chấn thương.

- Tuổi của mẹ (trên 35 tuổi) và tuổi của bố (trên 45 tuổi) khi sinh con. - Mẹ phơi nhiễm với môi trường độc hại khi mang thai (các kim loại nặng; chất độc dùng trong nông nghiệp; thực phẩm; các loại thuốc; các chất kích thích như rượu, ma túy. - Dinh dưỡng bà mẹ khi mang thai. - Bất thường nhiễm sắc thể, gen, chất liệu di truyền thai nhi.

- Bệnh bất đồng nhóm máu Rh và những nhiễm trùng trong thời kỳ mang thai (rubella, vi rút cự bào, toxoplasmosis). Nguyên nhân trong sinh - Do các can thiệp sản khoa (dùng kẹp/hút lấy thai; mổ đẻ, kích thích đẻ.) - Trẻ đẻ non (trước 37 tuần tuổi); thiếu ô-xy não (ngạt); cân nặng khi sinh thấp (dưới 2.500 gram), vàng da nhân não do bất đồng nhóm máu mẹ con. Nguyên nhân sau sinh - Do chấn thương sọ não, chảy máu não, nhiễm trùng thần kinh, suy hô hấp.; phơi nhiễm với các yếu tố môi trường độc hại (tai nạn, hóa chất, thuốc trừ sâu, kim loại nặng.); sốt cao co giật [7]. Phát hiện sớm, can thiệp sớm khuyết tật ở trẻ Phát hiện sớm TKT là các biện pháp sàng lọc rối loạn phát triển của trẻ theo độ tuổi và giai đoạn nhằm phát hiện những trẻ có yếu tố nguy cơ bị khuyết tật để gửi đi khám và phân loại khuyết tật từ đó có biện pháp CTS [7].

Can thiệp sớm khuyết tật là áp dụng bất kỳ một dịch vụ hoặc hình thức hỗ trợ nào cho TKT và cha mẹ trẻ hoặc gia đình và môi trường xung quanh giúp trẻ phát triển và hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng [7]. Đối tượng của phát hiện sớm, can thiệp sớm khuyết tật Đối tượng của PHS khuyết tật là tất cả trẻ em tuổi từ 0 đến 06 tuổi tại cộng đồng (trẻ bình thường và TKT đã được chẩn đoán trước đó). Đối tượng của CTS là tất cả trẻ em tuổi từ 0 đến 06 tuổi được chẩn đoán khuyết tật ở các mức độ khác nhau, bị mắc các dạng khuyết tật khác nhau. Bất kỳ ai cũng có thể tham gia vào công tác PHS, CTS TKT, trong đó những đối tượng có vai trò chính là: - Cha mẹ, người thân, người chăm sóc chính.

- Cán bộ ngành Y tế: Y tế thôn bản, Trạm Y tế (TYT); TTYT huyện; Các bệnh viện tuyến tỉnh và trung ương (nhi khoa, tâm thần nhi, nhãn khoa, thính học, PHCN, chuyên gia tâm lý). - Cán bộ ngành Giáo dục: nhà trẻ; mẫu giáo; tiểu học; phổ thông. - Cán bộ ngành LĐ – TBXH. - Các tổ chức xã hội tại cộng đồng: Chữ thập đỏ; Phụ nữ.

Các bước triển khai phát hiện sớm, can thiệp sớm trẻ khuyết tật Nhận biết sớm là quan sát được những dấu hiệu đầu tiên gợi ý sự phát triển của trẻ có thể có nguy cơ hoặc bất thường về thể chất, giác quan, tâm thần và hành vi. PHS là sự nhận diện một cách hệ thống các dấu hiệu bất thường về phát triển, thể chất, giác quan, tâm thần và hành vi. Các công cụ sàng lọc để PHS các bất thường sẽ được thành viên gia đình, cộng đồng hoặc các nhà thực hành về y tế hoặc giáo dục thực hiện. Kết quả sàng lọc chưa phải là chẩn đoán, trẻ cần được khám chuyên khoa để có chẩn đoán cuối cùng.

7 Chẩn đoán là sự xác định các khiếm khuyết về phát triển hoặc bất thường về thể chất, giác quan, tâm thần và hành vi do các nhà chuyên môn chuyên ngành sâu như PHCN, nhi khoa, chuyên gia tâm lý – giáo dục – xã hội… thực hiện. Huấn luyện trẻ bao gồm các hoạt động có mục tiêu nhằm tác động tới trẻ và môi trường, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của trẻ. Đó là những hoạt động như kích thích phát triển, giáo dục, các dịch vụ y tế (hoạt động trị liệu, vật lý trị liệu, ngôn ngữ trị liệu, thính học và dinh dưỡng…). Hướng dẫn cha mẹ và gia đình gồm các huấn luyện và tư vấn cho cha mẹ trẻ và thành viên gia đình nhằm giúp phát hiện và chấp nhận trẻ, có đáp ứng phù hợp với hành vi của trẻ, hướng dẫn và tư vấn về các hoạt động kích thích phát triển, tập luyện đồng thời cung cấp các thông tin cần thiết cho gia đình [7].

Tỷ lệ trẻ khuyết tật trên thế giới và tại Việt Nam 1. Tỷ lệ khuyết tật chung Tình hình khuyết tật trên phạm vi toàn cầu đã có nhiều thay đổi trong vài thập kỷ trở lại đây. Báo cáo về tình hình khuyết tật được WHO và Ngân hàng Thế giới công bố đầu năm 2010 chỉ ra rằng tỷ lệ khuyết tật đã tăng từ 10% (thập kỷ 70 của thế kỷ trước) lên 15% tổng dân số thế giới. Như vậy, trên thế giới có khoảng trên 1 tỷ NKT [48].

Báo cáo khuyết tật ở các quốc gia cho thấy tỷ lệ khuyết tật ở các nước phát triển luôn cao hơn đáng kể so với các nước đang hoặc chậm phát triển. Sự khác nhau này là do mỗi nước áp dụng định nghĩa, phương pháp và công cụ đo lường khuyết tật khác nhau. Tuy nhiên kết quả từ hai cuộc điều tra quy mô toàn cầu với chung một cách thức và công cụ khảo sát lại cho thấy tỷ lệ khuyết tật ở các nước phát triển là thấp hơn so với nước đang hoặc chậm phát triển [7]. Kết quả tổng điều tra gánh nặng bệnh tật toàn cầu (2004) cho tỷ lệ khuyết tật ở các nước phát triển là khoảng 15,4% còn ở các nước có thu nhập trung bình và thấp hơn dao động từ 14,0% đến 16,4% tuỳ theo từng châu lục [46].

Khu vực Châu Á Thái Bình Dương có 400 triệu NKT, chiếm 2/3 NKT trên thế giới. Trong số đó, ước tính khoảng 80% NKT sống ở vùng nông thôn của những nước đang phát triển trong khu vực. Tuy nhiên, những số liệu này không được 8 chứng minh bằng bất kỳ phương pháp thống kê nào, do việc thu thập dữ liệu về NKT quốc tế rất khó khăn [7]. Tỷ lệ trẻ khuyết tật trên thế giới Theo WHO, ước tính có khoảng 200 triệu trẻ em trên thế giới bị khuyết tật [42].

Tỷ lệ khuyết tật ở trẻ em trên phạm vi toàn cầu qua Khảo sát gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm 2004 chiếm 5,1% ở nhóm 0 – 14 tuổi [46]. Tỷ lệ TKT tại các nước phát triển Tỷ lệ khuyết tật tại 27 nước Trung và Đông Âu (CEE) và cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS) trong vòng 10 năm tăng gấp 3 lần, từ 500. Theo điều tra của Ủy ban dân số Mỹ (1994 – 1995): Khoảng 10% trẻ dưới 15 tuổi tại các nước phát triển bị giảm chức năng; 9,1% trẻ trong độ tuổi 0 – 14 tuổi bị khuyết tật với 1,1% khuyết tật nghiêm trọng [41]. Tỷ lệ TKT trong độ tuổi từ 0 – 14 tại Australia (DISTAT, 1993) là 7,0%; tại New Zealand (1996) là 11%; tại Đức (1991) ước tính khoảng 6,0% đến 8,0% [38, 41].

Tỷ lệ khuyết tật ở trẻ dưới 06 tuổi tại một số quốc gia: Canada (2006): 1,2% trẻ 0 – 4 tuổi; New Zealand (2006): 5,8% trẻ từ 0 – 4 tuổi; Australia (2009): 3,4% trẻ 0 – 4 tuổi; Mexico (2010): 0,8% trẻ từ 0 – 4 tuổi; Chile (2006): 1,4% trẻ từ 0 – 5 tuổi; Mỹ (2010): 2,9% trẻ từ 0 – 5 tuổi [36]. Tỷ lệ TKT ở các nước đang phát triển Xu hướng báo cáo về tỷ lệ TKT cao hơn ở những nước có nền công nghiệp hiện đại và đô thị hóa. Các nước nghèo và dựa chủ yếu vào nông nghiệp báo cáo có ít trẻ bị khuyết tật và ngân sách dành cho TKT tại các nước này cũng ít hơn. Điều này cho thấy rằng ở các nước nghèo, trẻ em bị khuyết tật ít được phát hiện hơn [48].

Bên cạnh đó, việc phát hiện TKT ở những nước đang phát triển có thể là thách thức do sự hạn chế kiến thức về khuyết tật, cha mẹ TKT có xu hướng giấu diếm khuyết tật của trẻ [30]. Trong 10 năm gần đây, ước tính tỷ lệ TKT ở các nước đang phát triển có sự khác biệt đáng kể. Một đánh giá đã chỉ ra rằng, tỷ lệ trẻ em khuyết tật được báo cáo 9 từ 0,4% (4/1.000 trẻ) tùy thuộc và nghiên cứu và công cụ đánh giá [42]. Tỷ lệ trẻ khuyết tật tại Việt Nam Tại Việt Nam, chưa có số liệu chính thức về khuyết tật.

Theo khảo sát hộ gia đình năm 2004 của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) tỷ lệ khuyết tật ở mọi độ tuổi chiếm 6,34% dân số.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Kiến thức, thái độ và thực hành phát hiện sớm khuyết tật trẻ dưới 6 tuổi của giáo viên mầm non Hoài Đức, Hà Nội 2014" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của giáo viên mầm non trong việc nhận biết và hỗ trợ trẻ có nguy cơ khuyết tật. Nghiên cứu này tập trung vào kiến thức, thái độ và thực hành của giáo viên, từ đó đưa ra các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác phát hiện sớm. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà giáo dục, phụ huynh và nhà quản lý trong việc cải thiện chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non.

Để mở rộng hiểu biết về chủ đề này, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động giáo dục trẻ tại các trường mầm non quận Cái Răng, TP Cần Thơ, nghiên cứu này đi sâu vào quản lý hoạt động giáo dục, một yếu tố quan trọng trong việc hỗ trợ trẻ phát triển toàn diện. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc giáo dục trẻ 5-6 tuổi cung cấp góc nhìn về sự hợp tác giữa gia đình và nhà trường, một yếu tố không thể thiếu trong quá trình giáo dục trẻ. Cuối cùng, Luận văn kỹ năng giải quyết tình huống sư phạm của giáo viên mầm non sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách giáo viên ứng phó với các tình huống thực tế trong quá trình giáo dục trẻ.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mang đến các góc nhìn đa chiều, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về giáo dục mầm non. Hãy khám phá để nâng cao hiểu biết và kỹ năng của mình!