CHƯƠNG 1 CO SO LY LUAN VE DONG LUC VE TAO DONG LUC LAO DONG TRONG TO CHUC 1. Một số khái niệm liên quan 1. Nhu cầu "Nhu cẩu là trạng thái tâm lỷ mà con người cảm thấy thiếu thôn không thoả mãn về một cái gì đó và mong được đáp ứng nó"[4]. Như vậy nhu cầu chính là cảm giác thiếu hụt một thứ gì đó mà con người có thể cảm thấy được, nó là sự mong muốn, đòi hỏi, khao khát của con người về một vấn đề gì đó.
Động cơ Động cơ được hiểu là một bộ phận quyết định sự chuyển động hay hành động. Vì vậy, động cơ lao động chính là các yếu tố bên trong người lao động, thúc đây người lao động làm việc, nó bắt nguồn từ nhu cầu bản thân, gia đình và xã hội. Theo tác giả Đỗ Văn Phức (2010), Tâm lý trong quản lý doanh nghiệp: “Động cơ là sự thôi thúc con người hướng tới một hoạt động cụ thể nào đó nhằm thỏa mãn một hoặc một số nhu cầu”. Hay: “Động cơ là tat cả các yếu tố thúc đầy cá thê hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu và định hướng hoạt động đó” của nhà tâm lý học người Thụy Sỹ J.
Động cơ lao động có một số đặc điểm sau: Động cơ xảy ra bên trong con người , nó ở dạng vật chất vô hình nên khó nhận biết. Nên để phát hiện ra động cơ lao động chỉ có thé quan sat tir biểu hiện bên ngoài, như vậy dẫn đến những đánh giá sai lệch, sai lầm đo động cơ không phải lúc nào cũng đồng nhất với hành vi bên ngoài. Động cơ lao động của con người đa đạng và biến đổi theo thời gian và chịu tác động của các yếu tố ngoại cảnh. Ngoài ra, động cơ của con người đôi khi là hành động vô thức.
Qua nghiên cứu đặc điểm của động cơ ta có thể kết luận được rằng rất khó nhận biết được động cơ song việc nhận biết nó lại rất quan trọng và cần thiết, hiểu rõ những mong muốn của người lao động, biết được động cơ nào là cần thiết cho lợi ích của tổ chức, doanh nghiệp. Động cơ sẽ giúp ta trả lời cho các câu hỏi: “Vì sao người lao động lại làm việc”. Lợi ích “Lợi ích là kết quả mà con người nhận được qua các hoạt động của bản thân, cộng đồng, tập thể và xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu bản thân”. Lợi ích chính là tổng thê các giá trị vật chất và tinh thần mà mỗi cá nhân nhận được từ tổ chức.
Như vậy có thể hiểu “Lợi ích là mức độ thoả mãn các nhu cầu về vật chất, tỉnh thần của con người trong những điều kiện cụ thé nhất định”. Giữa lợi ích và nhu cầu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nếu không có nhu cầu thì không thê thoả mãn nhu cầu và lợi ích cũng không xuất hiện. Khi nhu cầu xuất hiện con người sẽ tìm cách để thoả mãn nhu cầu, kết quả của sự thoả mãn nhu cầu là lợi ích đạt được.
Khi khoảng cách giữa nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu chưa được rút ngắn thì nó còn thúc đây con người hành động để rút ngắn khoảng cách đó. Đó chính là động lực, động lực muốn rút ngắn khoảng cách đó đề đem lại lợi ích cao nhất. Động lực và tạo động lực lao động * Động lực lao động Trước khi xem xét động lực lao động là gì trước hết cần phải hiểu thế nảo là động lực. Theo Mitchell, ông cho rằng: Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình (khái niệm đưa ra trong cuốn sách Multlines, năm 1999 trang 418).
Theo Bolton: Động lực được định nghĩa như một khái niệm để mô tả các yếu tố được các cá nhân nảy sinh, duy trì và điều chỉnh hành vi của mình theo hướng đạt được mục tiêu. “Động lực lao động chính là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức”. Theo Marier và Lauler (1973) đã đưa ra mô hình về kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân như sau: Kết quả thực hiện công việc = Khả năng x Động lực Khả năng = Khả năng bâm sinh x Đào tạo x Các nguồn lực Động lực = Khao khát x Tự nguyện Như vậy, động lực có tác động rất lớn đến kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân. Kết quả thực hiện công việc được xem như một hàm số của năng lực và động lực lao động.
Năng lực làm việc phụ thuộc vào các yếu tố như giáo dục, kinh nghiệm, kỹ năng được huấn luyện. Động lực lao động có thể nhanh chóng được cải thiện hơn và cần được thường xuyên duy trì so với năng lực làm việc. Từ những định nghĩa trên ta có thể đưa ra một cách hiểu chung nhất về động lực như sau: "Động lực là tất cả những gì nhằm thôi thúc, khuyến khích con người nỗ lực thực hiện những hành vi theo mục tiêu". Biểu hiện của động lực lao động là sự sẵn sàng nỗ lực say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động.
Bản chất của động lực xuất phát từ nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu của con người. Giữa nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu có một khoảng cách nhất định và luôn có động lực đề rút ngắn khoảng cách đó. 10 * Tạo động lực lao động Trong sản xuất kinh đoanh, muốn đạt được hiệu quả cao, năng suất lao động cao thì bất kỳ tổ chức nào cũng cần phải có đội ngũ nhân viên mạnh. Ngoài trình độ chuyên môn, đạo đức thì van dé động lực lao động là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất và hiệu quả làm việc của người lao động.
Đề tạo cho nhân viên vui vẻ, tích cực và có tính sáng tạo cao trong công việc thì cần phải có biện pháp tạo động lực hiệu quả. Có nhiều quan điểm khác nhau về tạo động lực lao động. Với cách hiểu như trên về động lực lao động, có thể hiểu tạo động lực chính là quá trình làm nảy sinh động lực lao động trong mỗi cá nhân người lao động. “Tạo động lực lao động là hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của tổ chức tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực lao động trong công việc, thúc đây họ hài lòng hơn với công việc và nỗ lực phấn đấu đề đạt được các mục tiêu của bản thân và tô chức”.
Vậy thực chất của tạo động lực chính là việc xác định các nhu cầu của người lao động, thỏa mãn các nhu cầu hợp lý của người lao động làm tăng thêm lợi ích cho họ đề họ có thể làm việc tích cực, tự giác, sáng tạo và hiệu quả nhất. Hay theo tác giả Lê Thanh Hà cho rằng: “Tạo động lực là xây dựng và thực thi một hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản trị tác động đến người lao động khiến cho người lao động yêu thích và sáng tạo hơn trong công việc để đạt được kết quả tốt nhất có thể đối với mỗi nhiệm vụ cụ thể được giao” (2009), Giáo trình QTNL, NXB Lao động — Xã hội. “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc”.91 | 11 Đối với người lao động, quá trình lao động ở tô chức luôn có xu hướng bị nhàm chán, bị tác động bởi các yếu tố trong quan hệ lao động và quan hệ xã hội. Do vậy, tinh thần thái độ và tích cực của họ có xu hướng giảm sút và tất yếu họ sẽ tìm cách rời khỏi tổ chức.
Do đó, tổ chức cần sử dụng đúng đắn các biện pháp kích thích động lực lao động dé người lao động luôn hăng hái, tích cực, có tỉnh thần trách nhiệm cao. Có những người lao động họ vẫn hoàn thành nhiệm vụ dù không có động lực lao động nhưng là nhà quản lý thì luôn muốn họ hoàn thành vượt mức, đạt kết quả xuất sắc nhất. Vì vậy các biện pháp tạo động lực sẽ giúp tổ chức thực hiện được mục đích đó. Vậy thực chất của tạo động lực chính là việc xác định các nhu cầu của người lao động, thỏa mãn các nhu cầu hợp lý của người lao động làm tăng thêm lợi ích cho họ đề họ có thể làm việc tích cực, tự giác, sáng tạo và hiệu quả nhất.
Tóm lại nhà quản lý của tổ chức cần xây dựng và thực thi hệ thống các chính sách, các biện pháp trong quá trình quản trị nguồn nhân lực nhằm tác động đến người lao động giúp họ có động cơ, động lực lao động nhằm tạo ra năng suất, chất lượng lao động cao, khả năng làm việc, chất lượng công việc đồng thời người lao động tự hoàn thiện bản thân, phát huy, sáng tạo, cải tiến trong quá trình làm việc. Tạo động lực lao động cho giảng viên Tạo động lực lao động của giảng viên đại học là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất lao động và hiệu quả công việc, giúp trường đại học sử dụng tối ưu nguồn nhân lực giảng viên, giữ được giảng viên giỏi, nâng cao chất lượng đào tạo, tạo uy tín của trường đối với xã hội. Động lực lao động của giảng viên đại học biểu hiện qua thái độ và hành vi của giảng viên trong hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học, qua mức độ gắn bó và niềm tin đôi với nhà trường. Các học thuyết liên quan về tạo động lực 1.
Học thuyết nhu cầu của Abraham Maslow (1943) Một trong những học thuyết được ứng dụng phô biến trong tạo động lực đó chính là học thuyết về phân cấp nhu cầu của Abraham Maslow, một nhà tâm lý học người Mỹ. Thông qua nghiên cứu hệ thống nhu cầu của con người, ông cho rằng: mục tiêu, động lực thúc đây hoạt động của con người lànhằm thỏa mãn các nhu cầu. Theo đó, nhu cầu của con người được ông phân chia theo thứ bậc từ thấp đến cao, gồm 05 nhóm, đó là: Nhu cầu về sinh lý (vật chất), nhu cầu về an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng và cao nhất là nhu cầu tự hoàn thiện. Có thê nói, tháp nhu cầu của Maslow có ý nghĩa đặc biệt trong xác định các nhu cầu tự nhiên của con người nói chung, và người lao động nói riêng, từ đó giúp nhà quản lý đưa ra những biện pháp tác động phù hợp để xuất hiện nhu cầu, động lực lao động.