Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục của tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền có tiêu đề "Giáo dục kĩ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua trải nghiệm mô phỏng", thuộc chuyên ngành Lí luận và lịch sử giáo dục (Mã số: 09.02), được bảo vệ tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam vào năm 2022 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Trinh và PGS.TS. Lê Thị Thu Hiền.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Tai nạn thương tích (TNTT) là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, sự phát triển của trẻ em. Theo số liệu thống kê của Cục Quản lý môi trường - Bộ Y tế (2017) được tác giả dẫn chứng, mỗi năm Việt Nam có trung bình hơn 370.000 trẻ em bị TNTT, trong đó nhóm 0 - 4 tuổi chiếm 19,5% và nhóm 5 - 14 tuổi chiếm 36,9%. Nguyên nhân sâu xa xuất phát từ việc trẻ thiếu hụt kĩ năng phòng tránh. Trong thực tế giáo dục mầm non, người lớn thường có xu hướng bao bọc, cấm đoán hoặc làm thay, chưa tạo điều kiện cho trẻ tự nhận biết và ứng phó với các mối nguy hiểm. Trẻ 5 - 6 tuổi có kiểu tư duy trực quan hành động và trực quan - hình tượng, do đó việc rèn luyện kĩ năng đòi hỏi trẻ phải được thao tác trực tiếp trong môi trường an toàn. Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là: mặc dù các trường mầm non đã quan tâm đến phòng chống TNTT nhưng chủ yếu dừng lại ở việc tạo dựng môi trường an toàn thụ động; giáo viên còn lúng túng về phương pháp, nội dung và chưa có một tiến trình tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng phòng tránh TNTT có hệ thống thông qua trải nghiệm mô phỏng.
Mục tiêu và giả thuyết nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận án đề xuất tiến trình tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng phòng tránh TNTT cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua trải nghiệm mô phỏng nhằm nâng cao kĩ năng phòng tránh TNTT cho trẻ.
- Giả thuyết khoa học: Hiện nay, các trường mầm non đã quan tâm đến giáo dục kĩ năng phòng tránh TNTT cho trẻ, nhưng trên thực tế, kĩ năng phòng tránh TNTT của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi còn hạn chế do nhiều nguyên nhân, trong đó có việc thực hiện tiến trình tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng phòng tránh TNTT chưa chú ý tới trải nghiệm mô phỏng. Nếu tiến trình tổ chức các hoạt động giáo dục kĩ năng phòng tránh TNTT dựa vào trải nghiệm mô phỏng đảm bảo sự nhất quán giữa mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức hoạt động và môi trường giáo dục, thông qua việc tổ chức hướng dẫn trẻ trải nghiệm mô phỏng, rèn luyện các kĩ năng phòng tránh TNTT cho trẻ thì sẽ góp phần nâng cao kết quả giáo dục kĩ năng phòng tránh TNTT cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của giáo dục kĩ năng phòng tránh TNTT cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua trải nghiệm mô phỏng.
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng giáo dục kĩ năng phòng tránh TNTT qua trải nghiệm mô phỏng và thực trạng kĩ năng phòng tránh TNTT ở trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi.
- Xây dựng tiến trình tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng phòng tránh TNTT cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua trải nghiệm mô phỏng và thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi, hiệu quả.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục kĩ năng phòng tránh TNTT cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở trường mầm non.
- Đối tượng nghiên cứu: Tiến trình tổ chức các hoạt động giáo dục kĩ năng phòng tránh TNTT cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua trải nghiệm mô phỏng.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào kĩ năng phòng tránh TNTT liên quan đến vật dụng, địa điểm hoạt động và hành động của trẻ; cấu trúc 3 kĩ năng thành phần (nhận diện nguy cơ, xử lý khi phát hiện nguy cơ, chủ động thay đổi hành vi); tiến trình tổ chức hoạt động qua trải nghiệm mô phỏng.
- Phạm vi khách thể khảo sát: 280 giáo viên mầm non tại 17 trường mầm non thuộc 5 tỉnh Đông Bắc (Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang); 90 trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại Trường Mầm non 19/5 (Thái Nguyên), Trường Mầm non Xuất Lễ (Lạng Sơn), Trường Mầm non Hoa Hồng (Tuyên Quang).
- Địa bàn và thời gian thực nghiệm: Trường Mầm non Đồng Quang và Trường Mầm non Quyết Thắng (TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên), thực hiện từ tháng 9/2019 đến tháng 01/2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo ba nhóm vấn đề trọng tâm:
1. Nghiên cứu về kĩ năng phòng tránh tai nạn thương tích của trẻ em
Các nghiên cứu quốc tế của Mulvaney (2012), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO 2008, 2010), UNESCO, UNICEF xem kĩ năng phòng tránh TNTT là bộ phận của kĩ năng sống, thuộc nhóm tự nhận thức và bảo vệ bản thân. Raymond G. Miltenberger (2008) xác định cấu trúc kĩ năng an toàn gồm: nhận diện mối đe dọa, tránh xa mối đe dọa, thông báo cho người lớn có trách nhiệm. Hướng nghiên cứu này được cụ thể hóa trong các nghiên cứu phòng tránh thương tích do súng, chất độc, bắt cóc của Gatheridge BJ và cộng sự (2004), Gross A. và cộng sự (2007), Himle M.B. và cộng sự (2004, 2005). Các yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng phòng tránh TNTT như sự chú ý, tuổi và giới tính được kiểm chứng trong công trình của Tabibi Z. & Pfeffer K. (2003), Congiu M. và cộng sự (2005), Craig J. và cộng sự (1998). Tại Việt Nam, Lê Bích Ngọc (2013), Trương Thị Hoa Bích Dung (2012) phân loại kĩ năng an toàn vào nhóm ý thức bản thân của trẻ mầm non và tiểu học.
2. Nghiên cứu về giáo dục qua trải nghiệm
Luận án kế thừa các tư tưởng nền tảng: quan điểm về vùng phát triển gần nhất và học qua tương tác của L. Vygotsky; lý thuyết phát triển nhận thức qua hành động tương tác với môi trường của J. Piaget; quan điểm gắn lý thuyết với thực tiễn của Kurt Lewin; nguyên lý "giáo dục bằng việc làm" của John Dewey; và đặc biệt là chu trình học tập qua trải nghiệm 4 giai đoạn của David Kolb (1984): Trải nghiệm cụ thể -> Quan sát suy ngẫm -> Khái niệm hóa -> Thử nghiệm thực tế. Tại Việt Nam, nhóm tác giả Hoàng Thị Phương, Lã Bắc Lý, Bùi Thị Lâm, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Thị Mỹ Dung, Vũ Thanh Vân (2018), Nguyễn Mạnh Tuấn & Hoàng Thị Phương (2017), Nguyễn Thị Thu Hạnh (2021), Nguyễn Thị Mỹ Dung (2021) đã nghiên cứu vai trò, thực trạng và các biện pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm trong giáo dục mầm non.
3. Nghiên cứu về trải nghiệm mô phỏng và phương pháp giáo dục an toàn
Hiệu quả của mô phỏng được chứng minh trong y tế và giáo dục qua các nghiên cứu của Issenberg và cộng sự (2005), Clapper (2010), Kaufman & Ireland (2016), Adam Cheng (2007), Cruz & Patterson (2005), Lyons (2012), Stevens R. (2015). Các mức độ mô phỏng gồm có nhập vai (Clapper, Chilcott), mô phỏng lớp học/mô hình hóa (Kleinert và cộng sự, Alberto và cộng sự, Yasemin Ergenekon) và mô phỏng thực tế ảo (Huang Xinyuan, Xiang Ming, Catherine Purcell & Amy Romijn, Shana Smith & Emily Ericson, Kee Man Chuah và cộng sự). Về phương pháp huấn luyện kĩ năng, phương pháp Huấn luyện Kĩ năng Hành vi (Behavioral Skills Training - BST) gồm 6 bước được Himle và cộng sự (2004), Gatheridge và cộng sự (2004) áp dụng thành công. Các nghiên cứu của Cheryl Poche và cộng sự (1988), Chapman & Schwebel (2014 - phần mềm The Blue Dog, BARK), Bowman và cộng sự (1987), Rothengatter (2007), Renaud & Suissa (1989) chứng minh thực hành mô phỏng giúp chuyển biến hành vi hiệu quả hơn so với chỉ truyền đạt lý thuyết thuần túy. Ở Việt Nam, các tài liệu hướng dẫn của Huyền Linh (2011), Lâm Trinh (2011), Nguyễn Thị Hiếu và cộng sự (2015), Nguyễn Khánh Phương (2013), Trần Thu Hòa (2014) cung cấp nội dung thực hành nhưng chưa chuẩn hóa quy trình sư phạm.
Khoảng trống luận án giải quyết
Mặc dù các nghiên cứu trước đã chỉ rõ vai trò của trải nghiệm và mô phỏng, song việc xây dựng một tiến trình tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng phòng tránh TNTT qua trải nghiệm mô phỏng cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi với các giai đoạn, các bước và tiêu chí đánh giá tường minh vẫn chưa được nghiên cứu một cách đồng bộ. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm công cụ
- Khái niệm kĩ năng: Luận án tổng hợp hai hướng tiếp cận (hướng kĩ thuật hành động của Kovaliov, Đặng Thành Hưng và hướng năng lực của Platonov, Nguyễn Quang Uẩn, Huỳnh Văn Sơn, Levitov) để định nghĩa: Kĩ năng là một mặt của năng lực, là những hành động được thực hiện nhờ việc áp dụng tri thức được trang bị, huy động nhu cầu, tình cảm, ý chí của cá nhân nhằm thực hiện thành công mục đích. Cấu trúc kĩ năng gồm 3 thành tố: Tri thức/hiểu biết; Ý thức; Thao tác kĩ thuật.
- Khái niệm kĩ năng phòng tránh TNTT của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi: Là biểu hiện năng lực hành động dựa trên việc áp dụng tri thức được trang bị, kinh nghiệm đã có, huy động nhu cầu, tình cảm, ý chí của bản thân để chủ động phòng tránh những yếu tố nguy hiểm hoặc giảm thiểu yếu tố nguy cơ không an toàn có thể gây ra thương tổn cho bản thân hoặc cho người khác.
- Cấu trúc kĩ năng phòng tránh TNTT (3 thành tố):
- Kĩ năng nhận diện, phát hiện tình huống/yếu tố nguy cơ gây TNTT: Quan sát môi trường xung quanh; Phát hiện các biểu hiện bất thường qua các giác quan; Phán đoán mức độ nguy cơ và hậu quả.
- Kĩ năng xử lý khi phát hiện tình huống/yếu tố nguy cơ gây TNTT: Đưa ra thông báo khẩn (gọi, hét, đập cửa, nhấn chuông); Xác định đối tượng phù hợp để nhờ giúp đỡ (người lớn gần nhất, công an, bảo vệ, gọi số khẩn cấp 111, 113, 114, 115); Cung cấp thông tin bản thân (tên, tuổi, số điện thoại người thân, địa chỉ) và thông tin tình huống.
- Kĩ năng chủ động thay đổi hành vi bản thân để ứng phó hiệu quả tình huống gây TNTT: Hành động giảm thiểu mức độ nguy hiểm; Hành động giảm thiểu yếu tố nguy cơ; Hành động ứng phó hiệu quả khi TNTT xảy ra.
- Quy trình hình thành kĩ năng ở trẻ 5 - 6 tuổi: Luận án xác định chu trình 3 bước: Bước 1: Quan sát mẫu hành động -> Bước 2: Thực hiện hành động -> Bước 3: Luyện tập củng cố.
- Cơ sở tâm sinh lý lứa tuổi: Trẻ 5 - 6 tuổi có các giác quan (thị giác, khứu giác, xúc giác) phát triển tương đối hoàn thiện; khối lượng và tính bền vững của chú ý có chủ định tăng (tập trung 37 - 51 phút, phân phối 2 - 3 đối tượng); tư duy trực quan - hình tượng chiếm ưu thế, bước đầu hình thành khả năng suy luận nhưng nhận thức còn mang tính cảm tính, cần môi trường trực quan cụ thể.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Luận án vận dụng 5 tiếp cận: tiếp cận hoạt động, tiếp cận hệ thống, tiếp cận cá nhân, tiếp cận thực tiễn và tiếp cận phát triển. Hệ thống phương pháp nghiên cứu bao gồm:
| Nhóm phương pháp |
Phương pháp cụ thể |
Mục đích và đối tượng áp dụng |
| Nghiên cứu lý luận |
Phân tích, tổng hợp tài liệu |
Xây dựng khung lý thuyết về TNTT, kĩ năng phòng tránh TNTT và trải nghiệm mô phỏng. |
| Nghiên cứu thực tiễn |
Phương pháp chuyên gia |
Tham vấn chuyên gia về khái niệm, bộ tiêu chí đánh giá và tiến trình tổ chức hoạt động. |
|
Điều tra bằng bảng hỏi |
Khảo sát nhận thức, thực trạng tổ chức của 280 giáo viên mầm non tại 17 trường và cha mẹ trẻ. |
|
Bài tập đo nghiệm |
Đánh giá mức độ kĩ năng phòng tránh TNTT trên 90 trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại 3 trường mầm non. |
|
Quan sát sư phạm |
Ghi nhận hoạt động dạy học của giáo viên và hành vi ứng phó của trẻ qua biên bản quan sát. |
|
Đàm thoại, phỏng vấn sâu |
Phỏng vấn cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh và trò chuyện với trẻ nhằm đào sâu thực trạng. |
|
Thực nghiệm sư phạm |
Thực nghiệm 2 vòng (thăm dò và chính thức) tại MN Đồng Quang và MN Quyết Thắng (TP. Thái Nguyên). |
| Thống kê toán học |
Xử lý dữ liệu bằng Excel |
Tính toán tần số, điểm trung bình, tần suất hội tụ tiến, kiểm định tương quan giữa các kĩ năng. |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của giáo dục kĩ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua trải nghiệm mô phỏng
Chương này làm rõ cơ sở lý luận của đề tài thông qua các nội dung chính:
- Phân loại các yếu tố nguy cơ gây TNTT cho trẻ mẫu giáo theo 4 nhóm: (1) Nguy cơ do vật dụng (đồ dùng sắc nhọn, thiết bị điện, hóa chất, đồ vật nóng); (2) Nguy cơ do địa điểm hoạt động (nơi có độ cao, chướng ngại vật, nguồn nước không rào chắn); (3) Nguy cơ do hành động của trẻ (leo trèo, nghịch cửa, nuốt dị vật, đùa nghịch khi ăn); (4) Nguy cơ trong tình huống khẩn cấp (hỏa hoạn, đi lạc, có người lạ dụ dỗ).
- Xác lập cấu trúc 3 kĩ năng thành phần của kĩ năng phòng tránh TNTT và 3 bước hình thành kĩ năng (Quan sát mẫu -> Thực hiện hành động -> Luyện tập củng cố).
- Phân tích bản chất, vai trò, đặc điểm và các cấp độ của giáo dục qua trải nghiệm mô phỏng (từ đóng vai, mô hình hóa lớp học đến ứng dụng phần mềm/thực tế ảo).
- Luận chứng 3 luận điểm bảo vệ: (1) Cấu trúc 3 thành tố của kĩ năng; (2) Trải nghiệm mô phỏng là cách tiếp cận hiệu quả vì an toàn tuyệt đối, cho phép lặp lại nhiều lần trong môi trường gần với thực tế; (3) Tiến trình tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng trải qua chu trình 4 bước trải nghiệm.
Chương 2: Thực trạng giáo dục kĩ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua trải nghiệm mô phỏng
Chương 2 phân tích thực trạng giáo dục kĩ năng phòng tránh TNTT trong Chương trình GDMN và khảo sát thực địa:
- Phân tích chương trình: Nội dung phòng tránh TNTT đã được đề cập trong mục tiêu và nội dung chăm sóc - giáo dục nhưng các chỉ dẫn về phương pháp trải nghiệm mô phỏng còn mang tính khái quát, thiếu bài tập tình huống chuẩn hóa.
- Thực trạng nhận thức và tổ chức thực hiện của giáo viên mầm non (khảo sát 280 giáo viên tại 17 trường mầm non thuộc 5 tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang): Đa số giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng phòng tránh TNTT. Tuy nhiên, việc tổ chức trải nghiệm mô phỏng còn hạn chế: giáo viên chủ yếu dùng phương pháp dùng lời, cho trẻ xem tranh ảnh hoặc video; lúng túng trong việc thiết kế các tình huống mô phỏng hành động; các trường tập trung đầu tư môi trường an toàn vật lý hơn là tổ chức cho trẻ luyện tập ứng phó.
- Thực trạng từ phía gia đình: Cha mẹ trẻ có xu hướng bảo bọc quá mức, cấm đoán hoặc giải quyết thay trẻ, ít tạo cơ hội cho trẻ trải nghiệm tình huống giả định an toàn tại nhà.
- Thực trạng kĩ năng phòng tránh TNTT của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi (đo trên 90 trẻ): Điểm đánh giá kĩ năng của trẻ còn ở mức trung bình và thấp. Trẻ nhận diện được một số nguy cơ trực quan quen thuộc nhưng gặp khó khăn khi phát hiện các dấu hiệu gián tiếp (mùi khét, âm thanh lạ); kĩ năng xử lý tình huống khẩn cấp còn lúng túng (nhiều trẻ không nhớ số điện thoại khẩn cấp hoặc thông tin địa chỉ gia đình); kĩ năng chủ động thay đổi hành vi để triệt tiêu nguy cơ cho người khác chưa cao.
Chương 3: Tiến trình tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua trải nghiệm mô phỏng và thực nghiệm sư phạm
Chương 3 trình bày giải pháp sư phạm và kết quả kiểm chứng:
- Tiến trình tổ chức hoạt động giáo dục gồm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Chuẩn bị: Xác định mục tiêu, lựa chọn nội dung phù hợp với chủ đề; xây dựng kịch bản tình huống mô phỏng an toàn; chuẩn bị đồ dùng, học liệu, không gian lớp học.
- Giai đoạn 2: Tổ chức hoạt động giáo dục theo chu trình 4 bước:
- Bước 1: Tổ chức cho trẻ trải nghiệm tình huống phòng tránh TNTT (trẻ quan sát hoặc trực tiếp tham gia xử lý tình huống mô phỏng).
- Bước 2: Tạo cơ hội cho trẻ chia sẻ cảm xúc, suy nghĩ, phản hồi kinh nghiệm về kĩ năng phòng tránh TNTT.
- Bước 3: Hướng dẫn trẻ đúc kết kinh nghiệm hình thành khái niệm (giáo viên hỗ trợ trẻ chốt lại quy tắc hành vi an toàn).
- Bước 4: Tổ chức cho trẻ vận dụng kinh nghiệm vào những tình huống/hoàn cảnh mô phỏng khác nhau (luyện tập củng cố, chuyển giao kĩ năng).
- Giai đoạn 3: Đánh giá - Điều chỉnh: Đánh giá kết quả của trẻ theo 3 tiêu chí kĩ năng thành phần và điều chỉnh nội dung, tình huống mô phỏng cho các hoạt động tiếp theo.
- Hệ thống điều kiện vận dụng tiến trình: Bao gồm điều kiện môi trường vật chất an toàn; môi trường tâm lý - xã hội khích lệ; hệ thống tình huống mô phỏng gắn với thực tế; sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng.
- Thực nghiệm sư phạm: Tiến hành qua 2 vòng tại Trường MN Đồng Quang và Trường MN Quyết Thắng (TP. Thái Nguyên) từ 09/2019 đến 01/2020:
- Trước thực nghiệm: Điểm số và mức độ kĩ năng phòng tránh TNTT của nhóm Thực nghiệm (TN) và nhóm Đối chứng (ĐC) tương đương nhau, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm cũng như giữa trẻ trai và trẻ gái.
- Sau thực nghiệm: Kết quả kiểm định thống kê trên phần mềm Excel cho thấy nhóm TN có sự tiến bộ rõ rệt so với trước thực nghiệm và đạt kết quả cao hơn hẳn nhóm ĐC ở cả 3 kĩ năng thành phần (KN nhận diện nguy cơ, KN xử lý tình huống, KN chủ động thay đổi hành vi). Tần suất hội tụ tiến điểm của nhóm TN dịch chuyển mạnh về phía điểm cao; mối tương quan giữa các kĩ năng thành phần ở nhóm TN sau thực nghiệm tăng lên rõ rệt.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm phong phú thêm cơ sở lý luận về giáo dục kĩ năng sống, kĩ năng phòng tránh TNTT cho trẻ mầm non thông qua tiếp cận trải nghiệm mô phỏng.
- Xác lập cấu trúc kĩ năng phòng tránh TNTT ở trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi gồm 3 kĩ năng thành phần với hệ thống tiêu chí, chỉ báo hành vi cụ thể; làm rõ quy trình 3 bước hình thành kĩ năng an toàn ở lứa tuổi mầm non.
- Xây dựng cấu trúc tiến trình tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng phòng tránh TNTT qua trải nghiệm mô phỏng gồm 3 giai đoạn và 4 bước trải nghiệm dựa trên việc vận dụng lý thuyết học tập trải nghiệm của David Kolb vào giáo dục mầm non.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp bộ dữ liệu thực trạng về nhận thức của giáo viên, phụ huynh và mức độ kĩ năng phòng tránh TNTT của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại 17 trường mầm non thuộc 5 tỉnh vùng Đông Bắc (Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang).
- Xây dựng tiến trình và hệ thống các tình huống trải nghiệm mô phỏng có tính khả thi, làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên mầm non và tổ chức hoạt động giáo dục an toàn tại các cơ sở giáo dục mầm non.
Khuyến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo: Cần ban hành các hướng dẫn chuyên đề cụ thể về việc áp dụng trải nghiệm mô phỏng trong giáo dục an toàn phòng tránh TNTT; chuẩn hóa các bộ tài liệu tập huấn chuyên môn cho giáo viên mầm non.
- Đối với các cơ sở đào tạo giáo viên mầm non: Đưa nội dung thiết kế tình huống và tổ chức trải nghiệm mô phỏng vào chương trình đào tạo sinh viên ngành Giáo dục Mầm non.
- Đối với trường mầm non và giáo viên: Ban giám hiệu cần tạo điều kiện về cơ sở vật chất, đồ dùng mô phỏng; giáo viên cần tích cực lồng ghép các tình huống mô phỏng vào các chủ đề giáo dục hàng ngày, chuyển từ hình thức truyền thụ lời nói thụ động sang tổ chức cho trẻ trực tiếp hành động.
- Đối với gia đình: Phối hợp chặt chẽ với nhà trường, tạo cơ hội cho trẻ thực hành các kĩ năng tự bảo vệ trong sinh hoạt gia đình, thay đổi thói quen làm giúp hoặc cấm đoán bằng việc hướng dẫn trẻ nhận biết và phòng tránh rủi ro.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Khảo sát thực trạng được giới hạn trong phạm vi 17 trường mầm non tại 5 tỉnh khu vực Đông Bắc (Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang); thực nghiệm sư phạm kiểm chứng tiến trình chỉ mới tiến hành tại 2 trường mầm non trên địa bàn thành phố Thái Nguyên trong khoảng thời gian từ tháng 9/2019 đến tháng 01/2020 trên đối tượng trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Luận án gợi mở việc mở rộng phạm vi nghiên cứu thực nghiệm sang các nhóm tuổi mầm non khác (nhà trẻ, mẫu giáo 3 - 4 tuổi, mẫu giáo 4 - 5 tuổi); khảo sát và kiểm chứng trên các địa bàn có đặc điểm kinh tế - xã hội và địa hình khác nhau (vùng đồng bằng, đô thị lớn, vùng miền núi Tây Bắc, Tây Nguyên); nghiên cứu ứng dụng sâu hơn các công nghệ mô phỏng số, môi trường thực tế ảo (VR) vào giáo dục an toàn cho trẻ.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo học thuật và thực tiễn hữu ích cho nhiều đối tượng:
- Học viên, nghiên cứu sinh ngành Khoa học Giáo dục, Giáo dục mầm non, Lí luận và phương pháp dạy học: Tham khảo khung lý thuyết về giáo dục trải nghiệm, cấu trúc kĩ năng phòng tránh TNTT, phương pháp xây dựng bài tập đo lường và quy trình xử lý dữ liệu thống kê trong thực nghiệm sư phạm.
- Cán bộ quản lý và giảng viên sư phạm mầm non: Sử dụng làm tài liệu biên soạn bài giảng, xây dựng nội dung bồi dưỡng thường xuyên về kĩ năng tổ chức hoạt động trải nghiệm mô phỏng cho giáo viên mầm non.
- Giáo viên mầm non trực tiếp đứng lớp: Tham khảo quy trình 3 giai đoạn, chu trình 4 bước tổ chức và hệ thống tình huống mô phỏng mẫu để ứng dụng trực tiếp vào các hoạt động giáo dục kĩ năng sống, giáo dục an toàn tại lớp học.
- Các bậc cha mẹ có con trong độ tuổi mầm non: Tham khảo phương pháp tiếp cận hướng dẫn trẻ tự nhận biết và ứng phó với các nguy cơ TNTT trong sinh hoạt gia đình.
Câu hỏi thường gặp
1. Cấu trúc kĩ năng phòng tránh tai nạn thương tích của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong luận án gồm những thành tố nào?
Luận án xác định cấu trúc kĩ năng gồm 3 kĩ năng thành phần:
- Kĩ năng nhận diện, phát hiện tình huống/yếu tố nguy cơ gây TNTT (quan sát môi trường, phát hiện biểu hiện bất thường qua các giác quan, phán đoán mức độ nguy cơ).
- Kĩ năng xử lý khi phát hiện tình huống/yếu tố nguy cơ gây TNTT (đưa ra thông báo khẩn, xác định đối tượng trợ giúp/gọi số khẩn cấp 111, 113, 114, 115, cung cấp thông tin bản thân và tình huống).
- Kĩ năng chủ động thay đổi hành vi bản thân để ứng phó hiệu quả tình huống gây TNTT cho bản thân và người khác (hành động giảm thiểu mức độ nguy hiểm, giảm thiểu yếu tố nguy cơ, ứng phó hiệu quả khi TNTT xảy ra).
2. Khảo sát thực trạng trong luận án được tiến hành với quy mô mẫu và địa bàn nào?
Khảo sát thực trạng được thực hiện trên 280 giáo viên mầm non tại 17 trường mầm non thuộc 5 tỉnh Đông Bắc (Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang); khảo sát mức độ kĩ năng trên 90 trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại 3 trường mầm non đại diện: Trường Mầm non 19/5 (Thái Nguyên), Trường Mầm non Xuất Lễ (Lạng Sơn), Trường Mầm non Hoa Hồng (Tuyên Quang), cùng với ý kiến của cha mẹ trẻ.
3. Tiến trình tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng qua trải nghiệm mô phỏng gồm những giai đoạn và bước thực hiện nào?
Tiến trình tổ chức gồm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Chuẩn bị (xác định mục tiêu, thiết kế tình huống mô phỏng, chuẩn bị môi trường).
- Giai đoạn 2: Tổ chức hoạt động giáo dục theo chu trình 4 bước: (1) Tổ chức cho trẻ trải nghiệm tình huống phòng tránh TNTT; (2) Tạo cơ hội cho trẻ chia sẻ cảm xúc, suy nghĩ, phản hồi kinh nghiệm; (3) Hướng dẫn trẻ đúc kết kinh nghiệm hình thành khái niệm; (4) Tổ chức cho trẻ vận dụng kinh nghiệm vào những tình huống/hoàn cảnh mô phỏng khác nhau.
- Giai đoạn 3: Đánh giá - Điều chỉnh.
4. Thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại đâu, trong thời gian nào và thu được kết quả gì?
Thực nghiệm được tiến hành tại Trường Mầm non Đồng Quang và Trường Mầm non Quyết Thắng thuộc thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên trong thời gian từ tháng 9/2019 đến tháng 01/2020. Kết quả xử lý thống kê bằng Excel cho thấy trẻ ở nhóm Thực nghiệm có sự tiến bộ rõ rệt và đạt điểm số kĩ năng ở cả 3 kĩ năng thành phần cao hơn rõ rệt so với nhóm Đối chứng sau thực nghiệm.
5. Luận án kế thừa mô hình lý thuyết trải nghiệm nào để xây dựng tiến trình giáo dục?
Luận án kế thừa và phát triển trực tiếp từ chu trình học tập qua trải nghiệm 4 giai đoạn của David Kolb (Trải nghiệm cụ thể -> Quan sát suy ngẫm -> Khái niệm hóa -> Thử nghiệm thực tế), kết hợp với quan điểm vùng phát triển gần nhất của L. Vygotsky và quy trình hình thành kĩ năng của Lê Bích Ngọc.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu thông qua việc xác lập cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng tại 5 tỉnh Đông Bắc và đề xuất tiến trình tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng phòng tránh TNTT cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua trải nghiệm mô phỏng gồm 3 giai đoạn và 4 bước trải nghiệm. Kết quả thực nghiệm sư phạm tại Trường Mầm non Đồng Quang và Trường Mầm non Quyết Thắng (TP. Thái Nguyên) đã khẳng định tính đúng đắn của giả thuyết khoa học và tính hiệu quả của tiến trình trong việc nâng cao kĩ năng nhận diện, xử lý và thay đổi hành vi phòng tránh TNTT của trẻ. Công trình cung cấp hệ thống luận cứ khoa học và tài liệu sư phạm có giá trị ứng dụng thực tiễn cho công tác nghiên cứu, đào tạo và giảng dạy trong ngành giáo dục mầm non.