CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHÓM 1.1 Các khái niệm và lợi ích của làm việc nhóm 1.1 Các khái niệm Khái niệm Kỹ năng Sự thành công của con người ngày nay được đánh giá là dựa vào ba yếu tố căn bản: kiến thức, k ỹ năng và thái độ. Còn Ngân hàng Thế giới khẳng định rằng thế kỉ 21 là “kỷ nguyên của một nền kinh tế dựa vào kỹ năng”. Việc tiếp thu kiến thức và vận dụng kiến thức vào đời sống thực tiễn là một khoảng cách rất lớn. Tương tự như vậy, việc nắm được các kỹ năng và thực hành thành thạo các kỹ năng là hai việc hoàn toàn khác.
Tuy nhiên, chỉ có vận dụng kiến thức vào thực tế hay việc thực hiện các kỹ năng một cách thành thạo mới giúp đem lại một kết quả cụ thể. Bất kỳ một công việc hay một hoạt động nào đều đòi hỏi những kỹ năng tương ứng. Và để đạt hiệu quả cao trong các hoạt động hay công việc thì mỗi người đều cần phải thực hành các kỹ năng một cách thành thục, nhuần nhuyễn và hiệu quả. Các nước phát triển như Mỹ, Úc, Canada, Anh, Pháp, Singapore,… đều coi trọng việc rèn luyện và phát triển các kỹ năng nhằm xây dựng nguồn nhân lực mạnh, tăng cường hiệu suất làm việc và nâng cao chất lượng của cuộc sống.
K ỹ năng được phân làm 2 loại: - Kỹ năng nghề nghiệp: là các kỹ năng liên quan đến các ngành nghề cụ thể như kỹ năng lái xe, đánh máy, khoan, hàn, tiện, bán hàng, tư vấn, kế toán, giám sát, quản lý,… - Kỹ năng sống: là những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống hàng ngày như kỹ năng giao tiếp, ứng xử, lắng nghe, thuyết trình, hợp tác, chia sẻ, tư duy sáng tạo, học và tự học, quản lý bản thân, giải quyết vấn đề,… Vậy Kỹ năng là gì? Theo Từ điển tiếng Việt: “Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thức thu được trong một lĩnh vực nào đó vào thực t ế”. Theo Từ điển giáo khoa tiếng việt: “Kỹ năng là khả năng thực hành thành thạo”. Tổng hợp các khái niệm trên, có thể đưa ra một khái niệm như sau: “Kỹ năng là hành động tự động hóa một cách thành thục và hiệu quả nhờ quá trình học tập và rèn luyện”. 6 Nguồn gốc hình thành nên “Kỹ năng” xuất phát từ lý thuyết Phản xạ có điều kiện và không có điều kiện.
Con người từ khi sinh ra, lớn lên và tham gia vào các hoạt động trong đời sống thực tế đều hoạt động theo phản xạ. Phản xạ không điều kiện (gần như là theo bản năng) có ngay từ khi con người vừa mới sinh ra, không cần học tập. Còn phản xạ có điều kiện là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện trong đời sống thực tiễn. Vì vậy thực chất k ỹ năng của mỗi cá nhân có nguồn gốc từ phản xạ có điều kiện.
Bản thân chúng ta sinh ra đều chưa có bất kì một k ỹ năng nào (ngoài bản năng). Thế nên để đạt được các kỹ năng thì tất cả mọi cá nhân đều phải học tập và rèn luyện. Đó là lí do khiến bất kỳ quốc gia nào trên thế giới ngày nay đều chú trọng việc hình thành và phát triển các cơ sở đào tạo kỹ năng nghề nghiệp và kỹ năng sống nhằm giúp con người sống và làm việc hiệu quả hơn. Khái niệm Nhóm Việc sử dụng nhóm trong các tổ chức trong những năm vừa qua được coi như một sự “bùng nổ ngoạn mục”.
Liệu trên thế giới này có nơi nào đó mà cấu trúc nhóm trở nên vô nghĩa? Câu trả lời là: “Không!”. Ai cũng thấy sức mạnh của nhóm là rất lớn và xu hướng tăng cường, củng cố, thúc đẩy nhóm đang lan rộng ở hầu hết mọi nơi, mọi chỗ. Vậy nhóm có phải đơn thuần là nhiều người tập hợp lại với nhau không? Có rất nhiều khái niệm khác nhau được các chuyên gia, các nhà nghiên cứu đưa ra: “Nhóm là một mô hình tổ chức bao gồm hai hay nhiều cá nhân tương tác và phụ thuộc lẫn nhau nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể”. “Nhóm là tập hợp những cá nhân có các kỹ năng bổ sung cho nhau và cùng cam kết chịu trách nhiệm thực hiện một mục tiêu chung”.
Trên cơ sở các khái niệm về nhóm, nhiều người công nhận rằng: Nhóm là một tập hợp những người có vai trò và trách nhiệm rõ ràng, có quy tắc chung chi phối lẫn nhau, thường xuyên tương tác với nhau và cùng nỗ lực để đạt được m ục tiêu chung của cả nhóm. Trong xã hội luôn tồn tại rất nhiều kiểu nhóm khác nhau: nhóm gia đình, bạn bè, xóm giềng, học tập, nghiên cứu, sản xuất, vui chơi, thể thao,. Nhóm có thể được thành lập dựa trên mối quan hệ, sở thích hay mối quan tâm chung của các thành viên. Một người có thể cùng lúc là thành viên của nhiều nhóm khác nhau.
Nhưng một khi đã là thành viên của một nhóm nào đó, họ đều đảm nhận một vai trò nhất định và thể 7 hiện tinh thần trách nhiệm đối với công việc cũng như với các thành viên khác trong nhóm. Mỗi người đều có ý nghĩa riêng của mình, mỗi người đều có lí do để tồn tại trong nhóm đó và mỗi người là một mắt xích không thể thiếu trong chuỗi liên kết nhóm. Chẳng hạn trong nhóm gia đình, các vai trò khác nhau như: ông, bà, bố, mẹ, con trai, con gái hay trong một nhóm thực hiện dự án xây dựng bao gồm chủ đầu tư, giám đốc dự án, kế toán, thư ký, nhân viên hành chính,… ; một nhóm thiết kế phần mềm mới bao gồm: quản lý dự án, trưởng nhóm, thiết kế hệ thống, lập trình viên, kiểm thử. Làm việc nhóm không phải là ỷ l ại, dựa dẫm, đùn đẩy hay thậm chí phó mặc cho các thành việc khác trong nhóm.
Người có trách nhiệm là người làm việc với tính tự giác và tinh thần kỷ luật cao độ. Họ biết mình cần phải đầu tư thời gian, công sức để hoàn thành nhiệm vụ, thậm chí đôi khi còn phải biết hy sinh “cái tôi” vì thành công chung của cả nhóm. Hơn ai hết, họ hiểu rằng khi một đội bóng chiến thắng, tất cả các thành viên đều chiến thắng và khi đội bóng bại trận, tất cả họ đều thua. Mỗi người là một tính cách, hoàn cảnh, khả năng, kỹ năng, kinh nghiệm khác nhau nhưng khi đã là thành viên của một nhóm thì phải tuân thủ các quy tắc chung của nhóm.
Quy tắc nhóm giúp cho một nhóm hoạt động chặt chẽ, gắn kết, thống nhất. Nếu không có quy tắc hoạt động chung, các thành viên trong nhóm thường có xu hướng hành động tự do theo ý muốn của cá nhân dẫn đến một nhóm hoạt động hời hợt, lỏng lẻo. Các thành viên trong nhóm được liên kết với nhau thông qua quá trình tương tác qua lại đa chiều, điều này tạo nên sức mạnh tổng hợp của nhóm và mang lại một kết quả lớn lao. Tương tác được biểu hiện thông qua sự trao đổi, trò chuyện, chia sẻ, thông báo, hội họp, thảo luận, thậm chí cả những cuộc tranh cãi, xung đột,.
nhằm giải quyết những vấn đề chung của nhóm. Tương tác càng nhiều, các thành viên nhóm càng hiểu nhau hơn, tin tưởng hơn, gắn kết hơn và dễ đạt được sự đồng thuận. Vì vậy chất lượng của sự tương tác là yếu tố quan trọng quyết định thành công của một nhóm. Bất cứ nhóm nào được thành lập cũng đều có lí do, trong đó mục tiêu chung của cả nhóm chính là lí do hàng đầu để thành lập nhóm hoặc để cuốn hút các cá nhân gia nhập nhóm.
Mục tiêu giúp cho nhóm xác định rõ nhiệm vụ cần phải làm và là nguồn năng lượng khơi dậy lòng nhiệt tình, tận tâm của mỗi thành viên. Là thành viên của một nhóm, cần phải cam kết phấn đấu để đạt được mục tiêu chung. Ví dụ nhóm 8 các nhà khoa học Trường Đại học Pennsylvania (Mỹ) đã cho ra mắt chiếc máy tính điện tử đầu tiên trên thế giới năm 1946, nhóm kỹ sư hãng IBM đã nỗ lực mang đến cho loài người chiếc máy tính cá nhân đầu tiên năm 1981, nhóm Apollo đã đưa con người đặt chân lên mặt trăng lần đầu vào năm 1969,. Khái niệm Kỹ năng làm việc nhóm Bất cứ ai cũng từng tham gia vào một trò chơi đồng đội nào đó như: bóng đá, bóng chuyền, bóng rổ, chèo thuyền, kéo co, đánh đu; nhảy dây, múa, hát, đàn, nấu ăn,.
Trên thực tế, thành công của nhóm phụ thuộc vào quá trình tương tác và sự đóng góp của tất cả các thành viên. Một đội bóng thành công không có chỗ cho những kẻ lười biếng, trì trệ. Một nhóm hát không thể thành công nếu có những thành viên thiếu sự nhiệt tình, hăng say và hành động “lỗi nhịp” so với nhóm. Nhóm trong công việc cũng vậy, để đạt được thành công, không chỉ cần họ nói mà cần họ phải bắt tay với những người khác để triển khai hành động một cách nghiêm túc.
Trên thực tế có những người không hề thích thú với việc bắt tay hợp tác với người khác, không thể hòa hợp với người khác, không biết cách tạo ra các mối quan hệ tốt đẹp, thậm chí thường gặp phải những r ắc rối hay xung đột với các thành viên trong nhóm vì một lẽ họ chưa có Kỹ năng làm việc nhóm. Vậy Kỹ năng làm việc nhóm là gì ? Kỹ năng làm việc nhóm là khả năng tương tác giữa các thành viên trong một nhóm nhằm phát triển tiềm năng, năng lực của tất cả các thành viên và thúc đẩy hiệu quả công việc. Để đạt được k ỹ năng làm việc nhóm thì bắt buộc mỗi cá nhân phải đảm bảo ba yếu tố sau: Thứ nhất, khả năng tương tác với các thành viên khác. Theo John C Maxwell thì cách thức để xây dựng và phát triển nhóm là giữa các cá nhân phải có sự tương tác với nhau như một chuỗi phản ứng hóa học.
Vấn đề quan trọng của nhóm không phải là số lượng bao nhiêu người mà là sự tương tác như thế nào. Nhóm thực chất phải là nhóm những cá nhân luôn biết hợp tác, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, tạo động lực cho nhau phát triển. Sự tương tác là chất men gây tác động mạnh mẽ đến suy nghĩ và là chất xúc tác cho những hành động của mỗi cá nhân trong nhóm. Chỉ có sự tương tác 9 mới có thể tạo ra sức mạnh lớn nhất của nhóm.
Vì vậy nó có ý nghĩa rất lớn đối với thành công của từng thành viên cũng như của cả nhóm. Thứ hai, phát triển tiềm năng, năng lực của bản thân cũng như của tất cả các thành viên trong nhóm.