Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc hình thành kỹ năng khai thác và sử dụng tài liệu trên internet cho học sinh trong học tập môn Lịch sử ở trường Trung học phổ thông Chương 2: Một số biện pháp hình thành kỹ năng khai thác và sử dụng tài liệu trên internet trong học tập phần Lịch sử thế giới cổ đại và trung đại (lớp 10) ở trường Trung học phổ thông 15 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH KỸ NĂNG KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG TÀI LIỆU TRÊN INTERNET CHO HỌC SINH TRONG HỌC TẬP MÔN LỊCH SỬ Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Quan niệm về kỹ năng khai thác và sử dụng tài liệu trên internet trong học tập lịch sử 1.Khái niệm kỹ năng, kỹ năng khai thác và sử dụng tài liệu trên internet Kỹ năng là một vấn đề được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Có nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng, tùy thuộc vào cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu.N Gônôbôlin cho rằng: “Kỹ năng là phương thức tương đối hoàn chỉnh của việc thực hiện những hành động bất kỳ nào đó. Các hành động này được hoàn thành trên cơ sở của các tri thức, kỹ năng và kỹ xảo- những cái con người được lĩnh hội trong quá trình hành động” [27, tr.
Levitôv cho rằng: “Kỹ năng là khả năng con người thực hiện một hành động bất kỳ nào đó hay các hành động trên cơ sở của kinh nghiệm- những cái đã được lĩnh hội từ trước” [27, tr.P Ênipôp trong giáo trình “Những cơ sở lý luận của dạy học” cho rằng: kỹ năng chính là khả năng con người biết sử dụng một cách có mục đích, sáng tạo những tri thức và kỹ xảo của mình trong quá trình hoạt động thực tiễn [10]. Petrovski: “Kỹ năng là cách thức hành động dựa trên cơ sở tri thức và được hình thành thông qua luyện tập, tập khả năng cho con người phản ứng được không chỉ trong điều kiện quen thuộc mà cả trong điều kiện mới phát sinh”[11]. Theo từ điển tiếng Việt thì kỹ năng là “Khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [34, tr. 16 z Theo gốc Hán-Việt thì “kỹ” là sự khéo léo, “năng” là có thể.
“Kỹ năng là khả năng vận dụng những tri thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn. Kỹ năng đạt tới mức hết sức thành thạo, khéo léo thì trở thành kỹ xảo” [11, tr. Nguyễn Thị Côi cho rằng: “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép” [4, tr. Tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt thì xác định: kỹ năng là cách thức hành động dựa trên cơ sở tổ hợp những tri thức và kỹ xảo.
Kỹ năng được hình thành bằng con đường luyện tập tạo kỹ năng cho con người thực hiện hành động không chỉ trong những điều kiện quen thuộc mà cả trong những điều kiện đã thay đổi [25, tr. Như vậy có thể thấy những quan niệm về kỹ năng là rất đa dạng, nhưng thực chất các quan niệm này không mâu thuẫn nhau. Có chăng, sự khác nhau ở đây là do việc mở rộng hay thu hẹp thành phần cấu trúc của kỹ năng. Chúng tôi khái quát lại như sau: - Về mặt cấu trúc: kỹ năng gồm tri thức về hành động và các hành động cụ thể; kỹ năng có tính phức hợp, gồm nhiều hoạt động, kỹ năng nhỏ (tức là có tính chất thứ sinh) - Về mặt kết quả: kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một hoạt động nhất định.
- Về nguồn gốc: kỹ năng có được thông qua trải nghiệm, huấn luyện, đào tạo. - Về tính phát triển: kỹ năng có các mức độ phát triển khác nhau, từ thấp đến cao và mức hoàn thiện là kỹ xảo; từ mức kỹ thuật hành động đến mức trở thành phẩm chất, năng lực con người tức trở thành một loại phẩm chất nhân cách; từ tạm thời đến bền vững; mang tính khu trú trong một phạm vi hoạt động đến linh hoạt chuyển hóa sang các lĩnh vực khác nhau. 17 z Từ các quan niệm trên có thể hiểu: kỹ năng là khả năng của chủ thể có thể có được qua đào tạo, rèn luyện để thực hiện một cách linh hoạt các hoạt động với kết quả tốt. Việc hình thành bất cứ kỹ năng nào cũng cần được thực hiện theo một quy trình nhất định.
Quy trình là một tập hợp các giai đoạn, các bước, các thao tác và hành vi được sắp xếp theo một trình tự hợp lý để tác động đến đối tượng nhằm biến đổi đối tượng theo mục đích mà chủ thể dự kiến. Quy trình hình thành kỹ năng cũng đã được nghiên cứu nhiều và cũng rất đa dạng, khác nhau qua từng loại nhóm kỹ năng. Trong dạy học Lịch sử hiện nay, ngoài những nguồn tài liệu in như: SGK, sách tham khảo… thì từ những sản phẩm của CNTT, GV có thể hướng dẫn HS tiếp cận một lượng thông tin phong phú, đa dạng, sinh động và trực quan về sự kiện lịch sử. Cách tiếp cận như vậy sẽ là cầu nối lý tưởng giữa nhận thức của HS với hiện thực Lịch sử khách quan, đồng thời củng cố cho các em nhận thức đúng đắn: Lịch sử là có thật, là cụ thể và từ đó tạo biểu tượng lịch sử một cách rõ nét.
Đây là khâu có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình dạy học, là cơ sở giúp HS hình thành khái niệm và hiểu sâu sắc bản chất của Lịch sử. Việc hướng dẫn HS hình thành được các kỹ năng khai thác và sử dụng tài liệu trên internet sẽ giúp GV tiết kiệm được thời gian trình bày bảng đen cũng như thao tác sử dụng đồ dùng trực quan truyền thống, do đó GV sẽ có nhiều thời gian hơn để tổ chức dạy học nêu vấn đề, trao đổi thảo luận, hoạt động nhóm, kiểm tra đánh giá, thực hành…nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động, tư duy, sáng tạo của HS. Từ đó, có thể khẳng định: kỹ năng khai thác và sử dụng tài liệu trên internet là khả năng tìm kiếm, chọn lọc thông tin, tư liệu từ các trang web và thực hiện các hoạt động học tập để đạt được mục tiêu đề ra. Để hình thành một kỹ năng, GV phải hướng dẫn HS trải qua các giai đoạn sau: - Giai đoạn 1: GV giúp HS nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện hành động, đồng thời phải nắm vững các bước của kỹ năng.
18 z - Giai đoạn 2: Là giai đoạn GV làm mẫu bằng các ví dụ minh họa cụ thể qua các tiết học, bài học, HS sẽ “quan sát mẫu” và “làm thử theo mẫu”. Công việc này sẽ giúp các em thấy được khả năng vận dụng tri thức vào hoạt động thực tiễn, xem hành động có những ưu và nhược điểm gì cần sửa chữa và củng cố tri thức đã biết. Ở giai đoạn này, việc thử làm ngắn hay dài tùy theo năng lực của mỗi HS. - Giai đoạn 3: Sau khi đã làm thử để biết cách làm, người học phải tiến hành luyện tập, luyện tập nhiều lần.
Ở giai đoạn này, các thao tác, các bước thực hiện hành động dần dần được hoàn chỉnh hơn. Đồng thời các tri thức và cách thức hành động được ôn luyện làm cho người học nắm chắc hành động hơn. Đến đây có thể nói kỹ năng đã được hình thành, song chưa hoàn toàn ổn định. Kỹ năng thực sự ổn định khi trong điều kiện khác con người hành động vẫn đạt kết quả.
- Giai đoạn 4: GV phải kiểm tra và điều chỉnh việc thực hiện kỹ năng của HS. Việc kiểm tra giúp GV có thể nắm bắt được khả năng lĩnh hội kiến thức và hình thành kỹ năng của HS. Qua đó, GV có thể điều chỉnh các bước hình thành kỹ năng cho phù hợp với từng đối tượng HS, có thể tăng thời lượng của bước “làm mẫu” hoặc bước luyện tập. Hệ thống kỹ năng khai thác và sử dụng nguồn tài liệu trên internet cần hình thành cho học sinh Với một khả năng kết nối mở, internet đã trở thành một mạng lớn nhất trên thế giới, mạng của các mạng, xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: thương mại, chính trị, quân sự, nghiên cứu, giáo dục, khoa học, văn hóa, xã hội… Do khối lượng thông tin khổng lồ trên internet nên tất cả các loại tài liệu đều có thể tìm thấy trên internet ở dạng văn bản, hoặc hình ảnh, âm thanh, phim… Ngoài ra, chúng ta có thể tìm thấy trên internet hàng trăm ngàn các website về các nhân vật lịch sử, các cuộc chiến tranh vĩ đại, những trận đánh nổi tiếng, những thông tin khác liên quan đến lịch sử như kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học- kĩ thuật… từ thời cổ đại đến đương đại và những 19 z sự kiện khác đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ ở Việt Nam cũng như trên thế giới.
Những văn kiện, tài liệu có liên quan trực tiếp đến sự kiện, thời điểm ra đời, nơi xảy ra các sự kiện, các văn tự cổ, các hiệp ước, tuyên ngôn… đều có thể tìm thấy trên internet. Tóm lại, tất cả các loại tài liệu tham khảo sử dụng trong học tập lịch sử (trên lớp hay ngoài giờ), đều có thể khai thác trên internet. Tuy nhiên với một khối lượng thông tin đồ sộ như vậy, giáo viên phải hình thành cho HS một số kỹ năng để khai thác và sử dụng tài liệu trên internet hợp lý. Hệ thống kỹ năng khai thác và sử dụng nguồn tài liệu trên internet cần hình thành cho HS trong học tập môn Lịch sử được xác định dựa trên hệ thống các thao tác cần thực hiện khi khai thác tài liệu (tìm kiếm, chọn lọc, lưu giữ thông tin), khi sử dụng trong các hoạt động học tập (trao đổi, thảo luận) phù hợp với đặc trưng môn học và yêu cầu của việc học tập Lịch sử.
Vì vậy, để khai thác và sử dụng tài liệu trên internet hiệu quả, GV cần hình thành cho HS một số kỹ năng sau: Kỹ năng sử dụng các công cụ tìm kiếm + Xác định các vấn đề có liên quan đến nội dung tìm kiếm Đây là thao tác quan trọng nhất khởi đầu cho việc tìm kiếm thông tin trên mạng internet.