Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số 9229013) với đề tài "Kinh tế nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh trong 30 năm đổi mới (1986 - 2015)" do nghiên cứu sinh Phùng Thế Anh thực hiện tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Văn Đăng và TS. Nguyễn Việt Hùng, hoàn thành năm 2022.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ rõ nông nghiệp luôn giữ vị trí trọng yếu đối với nền kinh tế quốc dân trong việc cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyên liệu công nghiệp và giải quyết việc làm. Trước năm 1986, nông nghiệp Việt Nam mang tính chất sản xuất nhỏ, kỹ thuật lạc hậu, chịu hậu quả chiến tranh và cơ chế tập trung quan liêu bao cấp kìm hãm. Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn. Tại Thành phố Hồ Chí Minh – trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật của cả nước và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam – nông nghiệp chỉ chiếm tỷ trọng khoảng 1% trong cơ cấu GDP (các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ chiếm trên 99%), song thành phố vẫn sở hữu vùng ngoại thành rộng lớn với 5 huyện (Bình Chánh, Cần Giờ, Củ Chi, Hóc Môn, Nhà Bè) và hơn 115.000 ha đất nông nghiệp. Quá trình đô thị hóa nhanh chóng, biến động sử dụng đất đai và gia tăng dân số cơ học đã đặt ra bài toán bảo đảm an ninh thực phẩm, việc làm và cân bằng sinh thái. Tác giả nhận định, dù đã có nhiều công trình nghiên cứu nông nghiệp Việt Nam nói chung, việc tiếp cận kinh tế nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh như một đối tượng nghiên cứu độc lập, có hệ thống trong suốt 30 năm đổi mới dưới góc độ lịch sử kinh tế vẫn là khoảng trống khoa học cần được giải quyết.
Mục đích nghiên cứu của luận án là tái hiện bức tranh kinh tế nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh trong 30 năm đổi mới (1986 - 2015) một cách cụ thể, trung thực, đa chiều và toàn diện; phân tích những thành công và hạn chế trong tiến trình chuyển đổi sang mô hình nông nghiệp đô thị, nông nghiệp công nghệ cao; qua đó xác định những vấn đề đặt ra nhằm phục vụ định hướng phát triển bền vững. Để đạt mục đích này, luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng hợp, phân tích và đánh giá các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu.
- Phân tích các yếu tố tác động đến sự phát triển của kinh tế nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hệ thống hóa quan điểm, chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp của Đảng Cộng sản Việt Nam, Thành ủy và Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ 1986 - 2015.
- Làm rõ sự phát triển kinh tế nông nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1986 đến năm 2015 gắn với chủ trương xây dựng nông thôn mới.
- Đánh giá những thành tựu, hạn chế, đặc điểm, vai trò của kinh tế nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh trong 30 năm đổi mới (1986 - 2015) và một số vấn đề đặt ra để phát triển kinh tế nông nghiệp trong thời gian tới.
Đối tượng nghiên cứu là kinh tế nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh trong 30 năm đổi mới (1986 - 2015), bao gồm các nhân tố tác động, hệ thống chủ trương chính sách, diễn trình phát triển các ngành trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản và quá trình chuyển dịch cơ cấu theo hướng nông nghiệp đô thị, nông nghiệp công nghệ cao.
Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:
- Về nội dung: Tập trung vào các nhân tố ảnh hưởng, tiến trình tăng trưởng, sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nông nghiệp gắn với nông nghiệp đô thị, ứng dụng công nghệ cao và chương trình xây dựng nông thôn mới; đánh giá thành tựu, hạn chế, đặc điểm, vai trò và vấn đề đặt ra.
- Về không gian: Địa bàn toàn Thành phố Hồ Chí Minh, trọng tâm là 5 huyện ngoại thành (Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ) cùng một số quận có hoạt động sản xuất nông nghiệp (quận 9, quận 12, quận Thủ Đức, quận Gò Vấp...).
- Về thời gian: Khung thời gian trọng tâm là 30 năm đổi mới (1986 - 2015); đồng thời khảo cứu giai đoạn trước đổi mới (1975 - 1985) nhằm đảm bảo tính liên tục và hệ thống của tiến trình lịch sử.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã khảo cứu khối lượng tài liệu phong phú, phân loại thành các nhóm công trình chính trong và ngoài nước:
Nhóm nghiên cứu quốc tế về chuyển dịch cơ cấu và nông nghiệp đô thị: Tác giả điểm lại công trình của S. Kuznets (1975) về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở các nước đang phát triển; Powers và Robert McSorley (1998) về các nguyên lý sinh thái học nông nghiệp; Bakker và các cộng sự (1999) cùng các báo cáo của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc - FAO (2001, 2007) phân tích định nghĩa, tiềm năng, rủi ro và tính bền vững của nông nghiệp đô thị, ven đô. Đặc biệt, nghiên cứu của Rachel Nugent (2000) khảo sát tác động của nông nghiệp đô thị tới kinh tế hộ tại 17 thành phố lớn, trong đó có Thành phố Hồ Chí Minh; Mark Redwood (2009) luận giải việc tích hợp nông nghiệp vào quy hoạch đô thị để tạo sinh kế; Gordon MacAulay và Phạm Văn Hùng (2006) phân tích chính sách đất đai và rào cản hạn điền tại Việt Nam; Báo cáo của OECD (2015) đánh giá chính sách nâng cao năng lực cạnh tranh nông sản Việt Nam.
Nhóm nghiên cứu trong nước về đường lối, chính sách và chuyển đổi nông nghiệp: Tác giả khai thác các công trình lịch sử kinh tế như nghiên cứu của Trần Thị Thu Lương (1994) về chế độ sở hữu ruộng đất ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XIX; Đặng Phong (2008) về tư duy kinh tế Việt Nam giai đoạn 1975 - 1989; Nguyễn Sinh Cúc (2003) về nông nghiệp thời kỳ 1986 - 2002; Nguyễn Quang Bích (2007) đánh giá vai trò của Nghị quyết 10; nhóm nghiên cứu Lê Du Phong (2006, 2007, 2009) và Martin Ravallion, Dominique van de Walle (2008) về đất đai và việc làm của nông dân; Trần Thị Minh Châu (2007), Đặng Kim Sơn (2008, 2014), Đoàn Xuân Thủy (2011), Vũ Quang Hiển (2013), Phạm Thị Thanh Bình (2018) về chính sách hỗ trợ nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, luận án điểm cứu các nghiên cứu của Nguyễn Điền (1997), Lê Cao Đoàn (2001), Nguyễn Kế Tuấn (2006), Lê Quang Phi (2007), Phạm Ngọc Dũng (2011), Lê Quốc Lý (2012).
Nhóm công trình chuyên biệt về nông nghiệp đô thị, nông thôn mới và Thành phố Hồ Chí Minh: Các luận án và đề tài của Mai Văn Bảo (2000), Phạm Văn Khôi (2004), Trần Thị Hồng Việt (2006), Trần Trọng Phương (2012) cung cấp bài học thực tiễn về nông nghiệp sinh thái tại Hà Nội, Hải Phòng. Về xây dựng nông thôn mới, luận án tham khảo Phan Đại Doãn và Nguyễn Quang Ngọc (1994, 1996), Vũ Văn Phúc (2008), Dương Thị Bích Diệp (2014), Trần Thị Thu Lương (2015). Riêng địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả tổng hợp từ công trình của Nguyễn Văn Linh (1985), sách tổng kết kinh tế thành phố 30 năm (1975 - 2005) của Viện Kinh tế, 35 năm (1975 - 2010) của Viện Nghiên cứu Phát triển, các đề tài của Lê Thị Mỹ Hà (2012), Trần Tiến Khai (2015), Đinh Phương Duy và Nguyễn Việt Hùng (2016), Hoàng Thị Hương (2021).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra: Hầu hết các công trình đã công bố tiếp cận nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh ở các khía cạnh đơn lẻ như nông nghiệp sinh thái, chuyển dịch cục bộ, văn hóa làng xã hoặc chương trình xây dựng nông thôn mới trong một khoảng thời gian ngắn. Đến năm 2020, chưa có công trình nào nghiên cứu độc lập, toàn diện và có hệ thống toàn bộ tiến trình kinh tế nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh trong suốt 30 năm đổi mới (1986 - 2015) dưới góc độ lịch sử kinh tế, làm rõ sự tương tác giữa chính sách, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp đô thị - công nghệ cao và biến đổi không gian kinh tế ngoại thành.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm, đường lối phát triển kinh tế, kinh tế nông nghiệp của Đảng Cộng sản Việt Nam. Khung phân tích khái niệm được xác định rõ ràng:
- Khái niệm nông nghiệp được tiếp cận theo nghĩa rộng, bao gồm nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi), lâm nghiệp và ngư nghiệp (khai thác và nuôi trồng thủy sản), phù hợp với hệ thống phân ngành thống kê và quản lý của Việt Nam.
- Kinh tế nông nghiệp được định nghĩa là một ngành sản xuất vật chất của nền kinh tế quốc dân, nghiên cứu mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong nông nghiệp gắn với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội địa phương.
- Nông nghiệp đô thị (Urban Agriculture) được tiếp cận là ngành kinh tế tích hợp tại khu vực nội đô, ven đô và ngoại thành, tận dụng tài nguyên đô thị (lao động, đất đai xen kẽ, phụ phẩm) để cung cấp thực phẩm tươi sống, cảnh quan, dịch vụ sinh thái cho đô thị. Nông nghiệp công nghệ cao được xác định là phương thức sản xuất tích hợp công nghiệp hóa, cơ giới hóa, tự động hóa, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin và công nghệ nhà kính nhằm tối ưu hóa năng suất, chất lượng trên một đơn vị diện tích và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa lịch sử và logic trên cơ sở duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Phương pháp lịch sử giúp tái hiện trung thực, toàn diện tiến trình phát triển của kinh tế nông nghiệp thành phố theo trình tự thời gian và không gian. Phương pháp logic xâu chuỗi sự kiện, rút ra bản chất, xu hướng chuyển dịch cơ cấu và đúc kết quy luật. Luận án phối hợp đồng bộ các phương pháp cụ thể:
- Phê khảo sử liệu: Sưu tầm, xác minh, đối chiếu các nguồn tư liệu lưu trữ thành văn.
- Điền dã và phỏng vấn: Khảo sát thực địa, phỏng vấn nhân chứng, cán bộ quản lý nông nghiệp, chuyên gia tại các huyện Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ.
- So sánh, phân tích và tổng hợp: Đối chiếu dữ liệu qua các thời kỳ lịch sử và so sánh với mô hình nông nghiệp tại các địa phương khác.
- Thống kê mô tả: Hệ thống hóa chuỗi số liệu định lượng về diện tích, năng suất, sản lượng, tỷ trọng ngành và cơ cấu hộ.
Nguồn tư liệu sử dụng bao gồm:
- Nguồn tư liệu văn bản lưu trữ tại Thành phố Hồ Chí Minh: Văn kiện Đảng bộ Thành phố, nghị quyết Thành ủy, văn bản chỉ đạo của Ủy ban Nhân dân Thành phố, báo cáo tổng kết của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thành phố Hồ Chí Minh và số liệu của Cục Thống kê thành phố.
- Các công trình khoa học đã xuất bản: Sách chuyên khảo, tạp chí chuyên ngành, kỷ yếu hội thảo khoa học trong và ngoài nước.
- Tư liệu điền dã: Biên bản phỏng vấn, hình ảnh khảo sát thực tế tại các vùng sản xuất chuyên canh ngoại thành.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa và phân tích 7 nhóm kết quả đạt được từ các nghiên cứu đi trước, bao gồm các công trình nghiên cứu quốc tế, nghiên cứu lý luận chính sách tam nông của Đảng, các nghiên cứu về công nghiệp hóa - hiện đại hóa, các mô hình nông nghiệp đô thị sinh thái và các đề tài thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả chỉ ra các công trình trước đã làm rõ vai trò của nông nghiệp đô thị trong cung cấp thực phẩm tươi sống, giải quyết việc làm và tạo vành đai xanh sinh thái. Tuy nhiên, việc thiếu vắng một công trình lịch sử kinh tế độc lập, xuyên suốt 30 năm (1986 - 2015) đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu toàn diện các nhân tố tác động, chủ trương chính sách, diễn trình thực tế và các vấn đề đặt ra đối với kinh tế nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 2: Kinh tế nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986 - 2000
Chương 2 phân tích các yếu tố tác động và diễn trình phát triển kinh tế nông nghiệp thành phố trong 15 năm đầu đổi mới. Về điều kiện tự nhiên, thành phố có địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và Đông sang Tây; lượng bức xạ trung bình 140 Kcal/cm²/năm, nhiệt độ trung bình 28,2°C, lượng mưa bình quân 1.922,1 mm/năm. Thổ nhưỡng gồm đất xám phù sa cổ Pleistocen (hơn 45.000 ha) ở phía Bắc thích hợp cây công nghiệp, cây ăn trái; đất phù sa biển Holocen (15.100 ha), đất phèn (40.800 ha) và phèn mặn ở phía Nam. Hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai cung ứng 15 tỷ m³ nước ngọt mỗi năm. Đất lâm nghiệp năm 2014 đạt 34.884,9 ha (chiếm 16,65% đất nông nghiệp), chủ yếu là rừng phòng hộ Cần Giờ.
Trước năm 1986, nông nghiệp thành phố chịu di chứng nặng nề của chiến tranh: Huyện Củ Chi hứng chịu 500.000 tấn bom đạn (1,5 tấn/người) và 480 tấn chất độc hóa học; rừng Sác Cần Giờ bị rải hơn 4 triệu gallons chất độc (trong đó 665.666 gallons chất da cam, hủy diệt trên 40.000 ha rừng ngập mặn); hơn 100.000 ha đất ngoại thành bị hoang hóa, ô nhiễm bom mìn. Nông nghiệp chỉ đóng góp khoảng 2% GDP thành phố, phải dựa vào nguồn gạo từ Đồng bằng sông Cửu Long và nhập khẩu. Sau năm 1975, thành phố phải tổ chức đưa 700.000 dân hồi hương khôi phục sản xuất.
| Giai đoạn phát triển |
Định hướng mục tiêu chiến lược |
Trọng tâm chuyển dịch sản xuất |
| 1975 - 1980 |
Xây dựng vành đai lương thực thực phẩm |
Tự cân đối lương thực ngoại thành, cấp một phần thực phẩm cho nội thành |
| 1980 - 1990 |
Xây dựng vành đai thực phẩm |
Chuyển dịch sang rau xanh, thực phẩm tươi sống (heo, gà, cá), nguyên liệu chế biến |
| 1991 - 2000 |
Sản xuất hàng hóa giá trị cao, hình thành nông nghiệp đô thị |
Giảm lúa kém hiệu quả, tăng đàn bò sữa, hoa kiểng, thủy sản nước lợ và mặn |
| 2001 - 2015 |
Nông nghiệp đô thị, nông nghiệp công nghệ cao, nông thôn mới |
Ứng dụng công nghệ sinh học, giống chất lượng cao, nâng cao giá trị trên 1 ha canh tác |
Trong giai đoạn 1986 - 1990, Đảng bộ thành phố chủ trương biến ngoại thành thành vành đai thực phẩm cung cấp rau đậu, thịt, trứng, cá cho khu vực nội thị. Giai đoạn 1991 - 2000, thành phố thực hiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất hàng hóa giá trị cao: Giảm diện tích cây lương thực năng suất thấp, phát triển chăn nuôi bò sữa tập trung tại Củ Chi, Hóc Môn, chuyển đổi vùng trũng phèn Bình Chánh, Nhà Bè sang nuôi trồng thủy sản và trồng mía, cây ăn trái, bước đầu định hình diện mạo nông nghiệp đô thị.
Chương 3: Kinh tế nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2001 - 2015
Chương 3 luận giải giai đoạn đẩy mạnh phát triển nông nghiệp đô thị và ứng dụng công nghệ cao gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới. Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh ban hành các chương trình mục tiêu chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, tập trung vào 6 nhóm sản phẩm chủ lực: Rau an toàn, hoa - cây kiểng, bò sữa, bò thịt, lợn móng cái lai hướng nạc, thủy sản (tôm nước lợ, cá cảnh, cá sấu). Thành phố thành lập Khu Nông nghiệp Công nghệ cao tại Củ Chi và Trung tâm Công nghệ Sinh học, đóng vai trò hạt nhân nghiên cứu, lai tạo giống và chuyển giao kỹ thuật.
Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân toàn thời kỳ 1986 - 2015 đạt 5,41%/năm. Cơ cấu nội ngành chuyển biến tích cực: Tỷ trọng ngành trồng trọt giảm dần, tỷ trọng chăn nuôi và thủy sản tăng nhanh; trong trồng trọt, diện tích lúa giảm mạnh nhường chỗ cho hoa lan, cây cảnh và rau ứng dụng công nghệ cao có giá trị kinh tế gấp nhiều lần. Đến năm 2015, đàn bò sữa thành phố chiếm tỷ trọng lớn của cả nước, sản lượng sữa bò tươi tăng trưởng ổn định.
Về xây dựng nông thôn mới, thành phố triển khai thí điểm tại xã Tân Thông Hội (huyện Củ Chi), sau đó mở rộng ra toàn bộ 58 xã thuộc 5 huyện ngoại thành. Đến năm 2016, 100% số xã ngoại thành đã hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới, kết cấu hạ tầng giao thông nông thôn, trạm y tế, trường học và hệ thống thủy lợi được đầu tư kiên cố hóa, khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và thành thị từng bước được thu hẹp.
Chương 4: Một số nhận xét và vấn đề đặt ra
Chương 4 tổng kết thực trạng và chỉ ra các quy luật vận động của kinh tế nông nghiệp thành phố:
- Thành tựu: Tăng trưởng liên tục với tốc độ 5,41%/năm trong 30 năm; chuyển dịch cơ cấu theo hướng tăng năng suất giá trị trên một đơn vị diện tích; hình thành các vùng chuyên canh hoa kiểng, cá cảnh, bò sữa; hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới tại 58 xã ngoại thành.
- Hạn chế: Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP rất nhỏ (~1%); năng suất lao động nông nghiệp thấp hơn nhiều so với khu vực công nghiệp và dịch vụ; đất nông nghiệp suy giảm nhanh trước làn sóng đô thị hóa; cơ sở hạ tầng phục vụ bảo quản, chế biến sâu chưa đồng bộ; chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm còn phân tán.
- Đặc điểm và vai trò: Kinh tế nông nghiệp thành phố mang đặc trưng nông nghiệp cận nhiệt đới ven biển, chịu sức ép trực tiếp từ quá trình đô thị hóa; giữ vai trò cung cấp thực phẩm an toàn chất lượng cao, cung cấp nguồn giống cây trồng - vật nuôi cho các tỉnh phía Nam, bảo tồn lá phổi xanh sinh thái (đặc biệt là Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ) và tạo không gian cảnh quan du lịch sinh thái.
- 5 vấn đề đặt ra:
- Hoàn thiện chính sách đất đai và quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp, khắc phục tình trạng đầu cơ, bỏ hoang đất nông nghiệp chờ dự án.
- Tăng cường nguồn vốn tín dụng ưu đãi và thu hút doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
- Củng cố các hình thức tổ chức sản xuất, phát triển hợp tác xã kiểu mới và mô hình kinh tế trang trại liên kết chuỗi.
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học, chuyển đổi số, cơ giới hóa và tự động hóa trong các khâu chọn tạo giống, canh tác và bảo quản sau thu hoạch.
- Phát triển đồng bộ hệ thống logistics, chế biến tinh và mạng lưới phân phối tiêu thụ nông sản, gắn kết chặt chẽ với thị trường bán lẻ thành phố (đạt doanh thu 648.260 tỷ đồng năm 2015).
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn:
- Về khoa học: Đây là công trình lịch sử kinh tế đầu tiên phục dựng một cách toàn diện, có hệ thống bức tranh phát triển của kinh tế nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh qua 30 năm đổi mới (1986 - 2015). Công trình làm rõ sự chuyển biến trong tư duy kinh tế của Đảng bộ thành phố từ mô hình vành đai thực phẩm truyền thống sang nền nông nghiệp đô thị sinh thái, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
- Về thực tiễn: Đánh giá khách quan những thành tựu đạt được, chỉ ra các nút thắt hạn chế và đúc kết 4 đặc điểm, vai trò của nông nghiệp trong một đô thị đặc biệt. Hệ thống hóa các bài học kinh nghiệm và luận giải 5 nhóm vấn đề đặt ra về quy hoạch đất đai, nguồn vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, ứng dụng công nghệ và liên kết chuỗi cung ứng.
- Về nguồn tư liệu: Luận án cung cấp hệ số dữ liệu thống kê, văn bản lưu trữ và tư liệu điền dã khảo sát thực địa tại các vùng chuyên canh ngoại thành, phục vụ công tác tra cứu, giảng dạy lịch sử kinh tế Việt Nam và cung cấp căn cứ thực tiễn cho Thành ủy, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn các giai đoạn tiếp theo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Căn cứ vào phạm vi và nội dung trình bày trong văn bản:
- Hạn chế: Do giới hạn phạm vi thời gian nghiên cứu kết thúc ở mốc năm 2015, luận án chưa phân tích sâu những biến động của nông nghiệp đô thị thành phố trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tác động của biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp và các điều chỉnh địa giới hành chính giai đoạn sau năm 2015. Bên cạnh đó, việc tiếp cận nguồn số liệu thứ cấp qua các niên giám thống kê và báo cáo ngành đôi khi có sự thay đổi về tiêu chí phân tổ qua các thời kỳ.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng theo dõi tiến trình chuyển đổi số trong nông nghiệp thành phố giai đoạn từ năm 2016 đến nay; nghiên cứu sâu các mô hình kinh tế tuần hoàn, chuỗi giá trị nông sản đô thị kết hợp dịch vụ du lịch sinh thái; thực hiện các nghiên cứu so sánh quốc tế đối chiếu mô hình nông nghiệp đô thị của Thành phố Hồ Chí Minh với các đô thị tương đồng trong khu vực Đông Nam Á và châu Á.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo rõ rệt cho nhiều đối tượng:
- Đối với các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý: Thành ủy, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban Quản lý Khu Nông nghiệp Công nghệ cao có thể sử dụng các phân tích trong Chương 4 làm căn cứ thực tiễn để xây dựng quy hoạch phân vùng nông nghiệp, chính sách tích tụ đất đai và hỗ trợ vốn đầu tư công nghệ sinh học.
- Đối với giới nghiên cứu và giảng viên: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo giá trị cho các nhà nghiên cứu lịch sử kinh tế Việt Nam, kinh tế phát triển, quy hoạch đô thị; hỗ trợ trực tiếp cho nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Lịch sử, Kinh tế học nông nghiệp, Địa lý kinh tế.
- Bộ phận đáng tham khảo nhất: Hệ thống dữ liệu lịch sử và các bảng thống kê tại Chương 2 và Chương 3 ghi nhận quá trình chuyển đổi thực tế từ trồng trọt truyền thống sang các cây con giá trị cao (bò sữa, hoa kiểng, thủy sản), cùng khung phân tích các vấn đề đặt ra tại Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh trong 30 năm đổi mới (1986 - 2015) đạt mức bao nhiêu và tỷ trọng đóng góp trong GDP của thành phố là bao nhiêu?
Trong 30 năm đổi mới (1986 - 2015), giá trị sản xuất nông nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 5,41%/năm. Mặc dù vậy, trong cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP), các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ chiếm trên 99%, trong khi ngành nông nghiệp chỉ chiếm tỷ trọng khoảng 1%.
2. Nông nghiệp ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh gánh chịu những thiệt hại cụ thể nào từ chiến tranh trước khi bước vào đổi mới?
Trước năm 1986, ngoại thành thành phố có trên 100.000 ha đất đai bị hoang hóa, ô nhiễm bom mìn và hóa chất độc hại (trong đó 78.000 ha do chiến tranh tàn phá trực tiếp). Huyện Củ Chi hứng chịu khoảng 500.000 tấn bom đạn (bình quân 1,5 tấn bom/người) và 480 tấn chất độc hóa học. Tại Cần Giờ, vùng rừng Sác bị rải hơn 4 triệu gallons chất độc hóa học (gồm 665.666 gallons chất độc màu da cam), hủy diệt hoàn toàn trên 40.000 ha rừng ngập mặn. Tỷ trọng nông nghiệp giai đoạn 1975 - 1980 chỉ chiếm khoảng 2% nền kinh tế thành phố.
3. Tiến trình định hướng phát triển kinh tế nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1975 đến năm 2015 trải qua những giai đoạn chiến lược nào?
Tiến trình này được chia thành 4 giai đoạn chiến lược liên tục:
- Giai đoạn 1975 - 1980: Xây dựng vành đai lương thực thực phẩm nhằm tự cân đối lương thực ngoại thành và cung cấp một phần thực phẩm cho nội thành.
- Giai đoạn 1980 - 1990: Xây dựng vành đai thực phẩm, tập trung sản xuất thịt, trứng, cá, rau tươi và nguyên liệu công nghiệp chế biến.
- Giai đoạn 1991 - 2000: Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa có giá trị kinh tế cao, từng bước định hình nông nghiệp đô thị.
- Giai đoạn 2001 - 2015: Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu theo hướng nông nghiệp đô thị, nông nghiệp công nghệ cao và thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.
4. Quy mô và cơ cấu lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật chuyên trách trong lĩnh vực nông nghiệp của thành phố năm 2015 như thế nào?
Tính đến năm 2015, Thành phố Hồ Chí Minh có 1.561 cán bộ nhân viên hoạt động trực tiếp trong lĩnh vực nông nghiệp. Về cơ cấu trình độ học vấn chuyên môn, đội ngũ này gồm có 17 tiến sĩ, 187 thạc sĩ và 1.357 người có trình độ đại học, cao đẳng.
5. Luận án đề xuất những nhóm vấn đề trọng tâm nào cần giải quyết để phát triển kinh tế nông nghiệp thành phố bền vững?
Luận án chỉ ra 5 vấn đề cốt lõi cần giải quyết:
- Điều chỉnh chính sách đất đai và quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp linh hoạt, hạn chế tình trạng bỏ hoang đất đai.
- Tăng cường các nguồn vốn tín dụng ưu đãi và cơ chế thu hút doanh nghiệp đầu tư.
- Đổi mới, phát triển các hình thức tổ chức sản xuất như hợp tác xã kiểu mới và trang trại liên kết.
- Tăng cường ứng dụng công nghệ cao (công nghệ sinh học, giống, tự động hóa, IoT).
- Phát triển hoàn thiện chuỗi sản xuất, bảo quản, chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và kết nối hệ thống phân phối tiêu thụ nông sản.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Phùng Thế Anh là công trình nghiên cứu lịch sử kinh tế tái hiện có hệ thống tiến trình 30 năm phát triển kinh tế nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh (1986 - 2015). Luận án làm rõ quá trình chuyển đổi từ vành đai lương thực thực phẩm truyền thống sang mô hình nông nghiệp đô thị, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và xây dựng nông thôn mới. Công trình cung cấp chuỗi số liệu thực chứng, đánh giá khách quan thành tựu, hạn chế, đồng thời chỉ ra 5 vấn đề đặt ra có giá trị thực tiễn đối với công tác quy hoạch và hoạch định chính sách nông nghiệp đô thị bền vững.