phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục. Nội dung chính của luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tiềm năng du lịch thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh. Chƣơng 2: Hoạt động kinh tế du lịch thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh (1986 -2013). Chƣơng 3: Tác động của kinh tế du lịch đối với kinh tế - xã hội thành phố Uông Bí (1986 -2013).
10 c Chƣơng 1 TIỀM NĂNG DU LỊCH CỦA THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH 1. Một số khái niệm 1. Du lịch Thuật ngữ du lịch ngày nay đƣợc sử dụng phổ biến trên thế giới. Tuy nhiên, có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc của thuật ngữ này.
Theo Robert Lanquar (năm 1980), từ “Tourism” (du lịch) lần đầu tiên xuất hiện trong tiếng Anh khoảng năm 1980 và đƣợc quốc tế hóa trên nên nhiều nƣớc đã sử dụng trực tiếp mà không dịch nghĩa. Một số học giả khác lại cho rằng du lịch không phải xuất phát từ tiếng Hi Lạp mà từ tiếng pháp “le tour”, có nghĩa là một cuộc hành trình đến nơi nào đó và quay trở lại, sau đó từ gốc này ảnh hƣởng ra phạm vi toàn thế giới. Nhƣ vậy, nhìn chung chƣa có một sự thống nhất về nguồn gốc thuật ngữ du lịch, song điều cơ bản của thuật ngữ này đều bắt nguồn từ gốc là cuộc hành trình đi một vòng, từ một nơi này đến một nơi khác và có quay trở lại. Trong tiếng Việt, thuật ngữ du lịch đƣợc giải nghĩa theo âm Hán - Việt: du có nghĩa là đi chơi, lịch có nghĩa là sự từng trải.
Năm 1811, định nghĩa về du lịch lần đầu tiên xuất hiện tại nƣớc Anh: “Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí”. Khái niệm này tƣơng đối đơn giản và coi giải trí là động cơ chính của hoạt động du lịch. Hai học giả Hunziker và Krapf, những ngƣời đặt nền móng cho lý thuyết về cung- cầu du lịch, đƣa ra định nghĩa: “Du lịch là tập hợp của các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời”[66, tr6]. So với các quan niệm trên, quan niệm của Hunziker và Krapf đã thể hiện tƣơng đối đầy đủ và bao quát các hiện tƣợng du lịch.
Tuy nhiên quan niệm này chƣa làm rõ đƣợc đặc trƣng của các hiện tƣợng và của mối quan hệ du lịch (các mối quan hệ nào và hiện tƣợng 11 c nào thuộc loại kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa…). Ngoài ra, định nghĩa bỏ sót hoạt động của các công ty giữ nhiệm vụ trung gian, nhiệm vụ tổ chức du lịch và nhiệm vụ sản xuất hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. Hội nghị lần thứ 27 (năm 1993) của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã đƣa ra khái niệm du lịch thay thế cho khái niệm năm 1963: “Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên (usual environment) của con người và ở lại đó để tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn 1 năm”. Trong luật Du lịch Việt Nam (ban hành năm 2005), tại điều 4, chƣơng I định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú và thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”[37, tr6].
Nhƣ vậy, có thể thấy rõ sự khác nhau về quan niệm du lịch. Tuy nhiên theo thời gian, các quan niệm này dần hoàn thiện. Trong điều kiện của nƣớc ta hiện nay, quan điểm phổ biến đƣợc công nhận rộng rãi là quan niệm đƣợc trình bày trong Luật Du lịch Việt Nam đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005. Kinh tế du lịch Theo một số nhà nghiên cứu, kinh tế du lịch (Tourism Economics) là một môn khoa học kinh tế nghiên cứu các vấn đề liên quan đến du lịch.
Những khía cạnh kinh tế đƣợc đề cập ở đây bao gồm: Về tổng quan du lịch, là các khái niệm về khách du lịch, sản phẩm du lịch, các xu hƣớng trong du lịch, cung- cầu trong du lịch. Về kinh doanh du lịch, là việc nghiên cứu về nhu cầu du lịch, động cơ du lịch, các loại hình du lịch, các loại hình kinh doanh du lịch. Về điều kiện phát triển du lịch, bao gồm những điều kiện để phát triển kinh doanh du lịch, điều kiện đặc trƣng để phát triển du lịch, tính thời vụ trong kinh doanh du lịch. Về lao động trong du lịch: là đặc trƣng của nguồn nhân lực trong ngành du 12 c lịch, quản lý nguồn nhân lực trong doanh nghiệp du lịch.
Về chất lƣợng dịch vụ du lịch, là sự mong đợi (kỳ vọng của khách hàng), việc đo lƣờng đƣợc chất lƣợng dịch vụ. Qua đó cho thấy, việc giải quyết đƣợc các nội dung đƣợc đề cập nhƣ trên là một thành công trong nghiên cứu về kinh tế du lịch về một địa phƣơng cụ thể, và điều đó sẽ làm rõ hơn khái niệm kinh tế du lịch. Tiềm năng du lịch của thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh 1. Địa lý tự nhiên Nằm ở vị trí cửa ngõ vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc, thành phố Uông Bí có vị thế quan trọng về nhiều mặt: địa văn hóa, địa sinh thái, địa chính trị và địa kinh tế.
Là thành phố giàu tài nguyên thiên nhiên, có nhiều lợi thế trong phát triển và liên kết kinh tế, giao lƣu văn hóa - xã hội, thu hút vốn đầu tƣ trong nƣớc và quốc tế, đƣợc đánh giá là một trong những địa bàn chiến lƣợc quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh. Nằm ở phía Tây Nam tỉnh Quảng Ninh, trên trục quốc lộ 18A, cách Hà Nội 120 km, Hải Phòng 19 km và cách thành phố Hạ Long 40 km về phía Tây. Địa giới hành chính Uông Bí ở phía Đông giáp huyện Hoành Bồ, phía Đông Nam giáp huyện Yên Hƣng, phía Tây giáp huyện Đông Triều, phía Bắc giáp huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang, phía Nam qua sông Đá Bạc giáp huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Uông Bí hiện có 11 phƣờng xã, trong đó có 9 phƣờng (Phƣơng Nam, Phƣơng Đông, Yên Thanh, Nam Khê, Quang Trung, Trƣng Vƣơng, Thanh Sơn, Bắc Sơn, Vàng Danh) và 2 xã (Thƣợng Yên Công, Điền Công).
Uông Bí có diện tích rộng 256,3 km2, chiếm 4,1% tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Quảng Ninh. Năm 2013, dân số Uông Bí là 115.752 ngƣời, trong đó dân số thành thị là 108.126 ngƣời, dân số tạm trú là 56.000 ngƣời, mật độ dân số bình quân 462 ngƣời/km2. Uông Bí đa dạng về địa hình, bao gồm các kiểu địa hình núi, đồi và đồng bằng phân bố thấp dần từ Bắc xuống Nam. Dải núi phía Bắc có sƣờn tƣơng đối dốc, các bề mặt địa hình ở các bậc độ cao 800 - 1.000m, 400 - 600m, 200 - 300m 13 c và 80- 100m tạo ra những bậc thang thiên tạo.
Cảnh quan Yên Tử có dáng vẻ đồ sộ bề thế, đƣợc che phủ bởi các kiểu thảm rừng kín cây lá rộng thƣờng xanh nhiệt đới ẩm và á nhiệt đới ẩm. Vào mùa đông, mây vờn đỉnh núi và sƣơng mù huyền ảo. Vào mùa hạ, thời tiết trên đỉnh núi mát mẻ bởi sự chênh lệch nhiệt độ so với đồng bằng phía chân núi lên đến 6oC. Những dòng suối cắt sâu vào lòng núi đƣợc cấu tạo bởi sự luân phiên các lớp đá thấm nƣớc và lớp đá không thấm nƣớc cùng tính phân bậc độ cao của địa hình tạo nên những dòng thác bạc.
Uông Bí nằm ở sƣờn phía Nam của dãy núi Yên Tử thuộc cánh cung núi Đông Triều hùng vĩ ở vùng Đông Bắc của đất nƣớc. Dãy núi Yên Tử với đỉnh cao nhất 1.068m án ngữ ngay của ngõ Đông Bắc của đồng bằng Bắc Bộ, từ lâu đã nổi tiếng về lịch sử tôn giáo và cảnh quan thiên nhiên. Uông Bí là địa bàn án ngữ đƣờng thủy và đƣờng bộ từ Thăng Long - Hà Nội về vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc. Sông Đá Bạc chảy qua Uông Bí, là thƣợng lƣu của Bạch Đằng giang, tiếp nối với dòng Kinh Thầy, sông Đuống, sông Hồng tạo thành tuyến đƣờng thủy từ vùng ven biển Đông Bắc về Thăng Long - Hà Nội.
Vùng cửa sông Bạch Đằng có địa thế hiểm trở và chế độ nhật triều đều, biên độ thuộc loại lớn nhất trong các vùng biển ở nƣớc ta. Chính nơi đây đã chứng kiến các chiến thắng hiển hách trong lịch sử dân tộc: Ngô Quyền phá tan quân Nam Hán (năm 938), Lê Hoàn cùng quân dân Đại Cồ Việt đánh thắng quân Tống (năm 981), quân dân nhà Trần lần thứ ba đại thắng quân Mông - Nguyên (năm 1288). Thành phố có hệ thống giao thông đƣờng thủy, bộ thuận lợi cho phát triển kinh tế: sông Đá Bạc, quốc lộ 18A và 18B, tuyến đƣờng sắt Yên Viên - Hạ Long tạo điều kiện cho việc vận chuyển hành khách và hàng hóa. Thành phố Uông Bí nằm trên trục đƣờng tam giác tăng trƣởng kinh tế trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh (Hạ Long), là đầu mối giao cắt giữa ba tuyến đƣờng giao thông chính: đƣờng 18A nối Hà Nội (trung tâm hành chính, văn hóa, khoa học, giáo dục, trung tâm công nghiệp, thƣơng 14 c mại, dịch vụ, giao lƣu quốc tế của cả nƣớc) với Hạ Long (trung tâm du lịch, cảng biển, công nghiệp than, điện, giao lƣu quốc tế), đƣờng 10 qua Hải Phòng (trung tâm cảng biển, công nghiệp, du lịch), Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình với Quảng Ninh.
Hiện nay, đƣờng cao tốc 18B (có đoạn chạy qua địa phận Uông Bí) đã xây dựng xong, là tuyến đƣờng huyết mạch nối Hà Nội với Hạ Long, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế trong toàn vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc. Vai trò kết nối của Uông Bí góp phần tạo thành chuỗi đô thị phát triển năng động trong mạng lƣới đô thị quan trọng của tỉnh Quảng Ninh. Uông Bí nằm trên bể than của tỉnh Quảng Ninh kéo dài từ Cẩm Phả qua Hạ Long, tới Uông Bí, Đông Triều - Mạo Khê với trữ lƣợng tƣơng đối lớn (khoảng 1,4 tỉ tấn) và có chất lƣợng tốt. Tài nguyên đất đa dạng, quỹ đất cho phát triển đô thị và dịch vụ lớn.