CHƯƠNG 1. Tình hình nghiên cứu cây thuốc trên Thế giới Trong lịch sử phát triển các dân tộc, các Quốc gia thì sự phát triển của xã hội loài người trên Thế giới gắn liền với lịch sử phát hiện và sử dụng cây thuốc. Cây thuốc là một trong những nhóm tài nguyên thực vật có giá trị quan trọng hàng đầu và là tài sản vô cùng quý giá mà thiên nhiên ưu đãi cho mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Ngoài việc được ghi chép lại trong sách vở thì y học cổ truyền còn được lưu truyền qua từng thế hệ bằng lời nói và thực hành ở nhiều nơi trên thế giới.
Các tài liệu cổ xưa nhất về sử dụng cây thuốc đã được người Ai Cập cổ đại ghi chép lại trong khoảng thời gian 3.600 năm trước đây với 800 bài thuốc và trên 700 cây thuốc, trong đó có Lô hội, Kỳ nam, Gai đầu. Họ cũng sử dụng cây Lô hội (Aloe barbadensis) để chữa trị vết thương cho các chiến binh. Người Trung Quốc cổ đại đã ghi nhận 365 vị thuốc và loài cây làm thuốc trong bộ Thần nông bản thảo (khoảng 5.000 năm trước đây) [31]. Nhiều thế kỷ TCN người Hy Lạp đã biết trồng và sử dụng thực vật làm thuốc.
Năm 79 - 23 (TCN), nhà tự nhiên học người La Mã: Plinus soạn thảo bộ sách: "Vạn vật học" gồm 37 tập giới thiệu 1000 loài cây có ích. Năm 60 - 20 (TCN), thầy thuốc Dioscorides người Hy Lạp giới thiệu 600 loài cây cỏ chủ yếu để chữa bệnh. Đồng thời, ông cũng là người đặt nền móng cho nền y dược học [14]. Trong đời sống hằng ngày các thổ dân da đỏ ở Trung Mỹ đã dùng một số loại cây cỏ để trị các chứng viêm, sưng và làm thuốc trường thọ.
Người Ai Cập cổ và người La Mã thường sử dụng loài Cúc (Chamomile recutita) đắp lên vết thương cho chóng lành sẹo; việc dùng Tỏi (Allium sativan) làm thuốc cũng đã có hàng ngàn năm trước đây, người Ai Cập khi xây dựng các kim tự tháp ăn rất nhiều tỏi để tăng cường sức lực chống lại bệnh tật, các binh sĩ ăn nhiều tỏi để lấy dũng khí trước khi ra trận. Người Philipin dùng cải ma (Blumea lacera) trong điều trị ho và mau lành vết thương. Cây bạc hà (Mentha arvensis) được nhiều nước trên thế giới sử dụng phổ biến trong y học dân gian như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản. [33] 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhân dân Trung Quốc dùng tỏi để chữa bệnh đau màng óc và xơ vữa động mạch, chữa huyết áp cao và viêm nhiễm đường ruột.
Ở Trung Quốc, nhân sâm (Panax ginseng) từ 3000 năm trước Công nguyên đã được nói đến như một thần dược để tăng cường sinh lực cơ thể, kéo dài tuổi thọ. Vào đầu thế kỷ thứ II người Trung Quốc cũng đã biết dùng các loài cây cỏ để chữa bệnh như: nước chè đặc, rễ cây cốt khí củ (Polygonum cuspidatum), vỏ rễ cây táo tầu (Zizyphus vulgaris) …để chữa vết thương; dùng các loài nhân sâm (Panax) để phục hồi ngũ quan, trấn tĩnh tinh thần, chế ngự cảm xúc, chặn đứng kích động, giải trừ lo âu, sáng mắt, khai sáng trí tuệ, gia tăng sự thông thái cũng đã được sử dụng phổ biến từ lâu ở nước này. Gần đây, với sự tiến bộ của khoa học, các nhà khoa học của Trung Quốc cũng tiến hành nhiều nghiên cứu cũng như các thử nghiệm lâm sàng của nhiều loài cây thuốc trong chữa bệnh từ các triệu chứng viêm, bổ trợ thần kinh cho đến hỗ trợ điều trị ung thư. Chẳng hạn như nghiên cứu của Li X.
(2014) về Triptolide, một hợp chất chiết xuất từ loài Tripterygium wilfordii đã cho thấy nhiều biểu hiện dược lý, bao gồm: chống thấp khớp, chống viêm, chống khối u và các đặc tính bảo vệ thần kinh. Đây là một gợi mở để có thể đưa hoạt chất này vào điều trị lâm sàng phổ biến thay vì chỉ dừng lại ở dạng bài thuốc y học cổ truyền như hiện tại [54]. Trong một nghiên cứu khác, Lin L. đã chỉ ra khả năng trị liệu của loài Polygonum multiflorum đối với các bệnh Alzheimer, bệnh Parkinsons, tăng lipid máu, viêm và ung thư, do sự hiện diện của các stilben, quinon, flavonoid, phospholipid và các hợp chất khác trong cây.
Tác giả cũng cảnh báo việc tách chiết các hoạt chất của loài này không triệt để có thể dẫn đến một số tác dụng phụ gây độc cho gan và thận [54]. Người Ấn Độ cổ đại đã ghi chép nền y học của các bộ tộc Hindu khoảng 2000 năm trước, trong đó có các loài cây gây buồn ngủ, ảo giác, chữa rắn cắn. [52] Nhân dân Ấn Độ dùng lá cây Ba chẽ (Desmodium triangulare) sao vàng sắc đặc để chữa kiết lỵ và tiêu chảy. Không những vậy, một số nghiên cứu cũng chỉ ra cây thuốc được sử dụng nhiều từ xa xưa đến hiện đại, từ những khu vực xa xôi hẻo lánh, những bộ tộc thiểu số cho đến những khu vực nông thôn hay thành phố [49,50,62].
Trong hệ thống y học của người Trung Quốc, 80% bài thuốc cổ truyền có sử dụng các loài thực 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vật bậc cao. Họ cũng có nhiều áp dụng y học cổ truyền vào ứng dụng trong điều trị lâm sàng [64,70]. Sử dụng thực vật làm thuốc khá phổ biến ở các nước Châu Á như Hồng Kông, Hàn Quốc, Indonexia, Malaixia cũng như ở Ấn độ, Pakistan, Bangladesh, SriLanka và Nepan (Husain, 1991). Tại Nhật Bản, có đến 42,7% dân số sử dụng thuốc cổ truyền trong các hoạt động chữa bệnh với tổng giá trị của y học cổ truyền lên đến 150 triệu USD/năm (1983).
Tại Ấn Độ, có 400 loài trong tổng số 7.500 loài cây thuốc thường xuyên được sử dụng với lượng lớn ở các xưởng sản xuất thuốc nhỏ và khoảng 540 loài cây thuốc thường được sử dụng ở các bài thuốc khác nhau trong hệ thống y học Ayuveda, Unani và Siddha. Xuất nhập khẩu cây thuốc của Ấn Độ tăng 3 lần, trong thập niên 90 của thế kỉ XX; doanh thu từ hoạt động buôn bán dược thảo trong nước và xuất khẩu đạt 1 tỷ USD/năm [51]. Ở châu Phi, sự đa dạng của ngành thảo dược cổ truyền lớn hơn bất kỳ châu lục nào khác. Việc sử dụng liệu pháp điều trị bằng cây thuốc ở châu Phi đã có từ thời xa xưa.
Những bản viết tay có từ thời Ai Cập cổ đại (1950 TCN) đã liệt kê hàng chục loài cây thuốc và công dụng của chúng. Trong bản giấy cói của dân tộc Ebers (khoảng 1500 TCN) ghi lại hơn 870 toa thuốc và công thức, 700 loài dược thảo và các chứng bệnh, từ bệnh phổi cho đến các vết thương do cá sấu cắn. Việc buôn bán dược thảo giữa các vùng Trung Đông, Ấn Độ và Đông Bắc châu Phi đã có ít nhất từ 3000 năm trước. Từ thế kỷ V đến thế kỷ XIII, các thầy thuốc Ả Rập là những người có công đầu trong sự tiến bộ của ngành y.
Vào giữa thế kỷ XIII, nhà thực vật học Ibn El Beitar đã xuất bản cuốn “Các vấn đề y khoa” thống kê chủng loại cây thuốc ở Bắc Phi. Ở các quốc gia thuộc châu Phi vẫn còn tồn tại rất nhiều các thổ dân, dân tộc thiểu số khác nhau. Chính vì vậy việc tìm hiểu, ghi nhận và bảo tồn các kinh nghiệm quý báu này cũng góp phần vào sự phát triển của ngành y tế của Lục địa Đen nói riêng và trên Thế giới nói chung. Điều này đã được thể hiện qua nhiều nghiên cứu áp dụng các công nghệ hiện đại nhằm tách chiết, phân tích các thành phần, cũng như đánh giá hiệu quả sử dụng của các loài cây thuốc dân gian [52,57].
Bayor đã tiến hành phân lập được những hợp chất có tính kháng khuẩn được chiết xuất từ rễ loài Ba đậu (Croton membranaceus). Kết quả cho thấy chiết xuất methanol 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thu được có hoạt tính kháng khuẩn và nấm đáng kể, mở ra những bước tiến mới trong điều trị bệnh sởi [56]. Nyunaï Nyemb trong khi thu dịch chiết của loài Cỏ cứt lợn (Ageratum conyzoides) thử nghiệm điều trị trên chuột cũng thu được những kết quả tích cực. Hoạt chất chống oxy hoá có tác dụng làm giảm lượng đường trong mẫu nước tiểu của chuột thí nghiệm là tiền đề cho những hy vọng điều trị và ngăn ngừa căn bệnh tiểu đường ở người [59].
và cộng sự đã đưa ra danh sách 15 loài thảo dược truyền thống được người dân Azerbaijan sử dụng trong điều trị các bệnh liên quan đến gan, mật. Trong nghiên cứu này tác giả đề cập chi tiết những thành phần hoạt chất, nồng độ cũng như các đặc tính cấu trúc hoá học của chúng [61]. Những quốc gia ở châu Âu dường như gắn liền với sự phát triển của nền y học hiện đại. Y học dân tộc Bungari “Đất nước của hoa hồng” đã coi hoa hồng là một vị thuốc chữa được nhiều bệnh, người ta đã dùng cả hoa, lá và rễ làm thuốc tan huyết ứ và bệnh phù thũng.
Ngày nay người ta đã chứng minh rằng trong cánh hoa hồng có chứa một lượng tanin, glucosid, tinh dầu đáng kể. Tinh dầu này không chỉ được dùng để chế nước hoa mà còn được dùng để chữa nhiều bệnh như chống trầm cảm, chống viêm, điều hòa kinh nguyệt,. Tuy không có nguồn tài nguyên thực vật đa dạng và phong phú như ở những châu lục khác nhưng cũng có một số nghiên cứu về việc sử dụng các loại thảo dược của những người dân du mục trên dãy An-pơ. (2013) khi tiến hành phỏng vấn hơn 100 người dân địa phương, chủ yếu là những người lớn tuổi, đã ghi nhận được 66 loài cây thuốc thuộc 35 họ.
Trong đó có 3 loài lần đầu được ghi nhận công dụng sử dụng làm thuốc ở khu vực núi cao (Sempervivum montanum L. và Panicum miliaceum L. đã ghi nhận nhiều hiệu quả của curcumin trong điều trị nhiều bệnh mãn tính và trong một số loại ung thư in vitro và in vivo. Đồng thời trong nghiên cứu này tác giả cũng đưa ra một số chiến lược phát triển dược phẩm để nâng cao hiệu quả sử dụng của curcumin [63].
Một số nghiên cứu khác cũng chỉ ra thành phần các loài cây thuốc được sử dụng bởi dân tộc Kurd và Zaza ở khu vực Đông Anatolia, Thổ Nhĩ Kỳ [60]. Tại Mỹ, quốc gia có nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới những năm gần đây cũng 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có sự quan tâm nghiên cứu về vai trò của thành phần thực vật làm thuốc trong đời sống con người [65].