phần mở đầu, danh mục các bảng, danh mục các hình, danh mục các từ viết tắt, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia làm 4 chƣơng. Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về ngân sách Nhà nƣớc và phân bổ ngân sách Nhà nƣớc. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Kinh nghiệm quốc tế trong phân bổ ngân sách Nhà nƣớc của một số quốc gia trên thế giới.
Chƣơng 4: Thực trạng phân bổ ngân sách Nhà nƣớc và giải pháp phân bổ hiệu quả ngân sách Nhà nƣớc cho Việt Nam. 7 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC VÀ PHÂN BỔ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Về cơ bản, phân bổ ngân sách Nhà nƣớc dựa trên vai trò của Nhà nƣớc trongphân bổ nguồn lực. Tuy nhiên, hiện nay trƣớc đòi hỏi phải phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế đặt ra yêu cầu đối với việc huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực vốn sao cho đƣợc nhiều nhất, hiệu quả nhất và hợp lý nhất phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế.
Vấn đề này đã đƣợc nghiên cứu bởiMai Ngọc Cƣờng (2006), Nguyễn Thị Hải Hà (2013), Vũ Sỹ Cƣờng (2013), Vũ Nhƣ Thăng(2015),… đánh giá và phân tích phân bổ nguồn lực cho các ngành và khu vực kinh tế khác nhau. Các nghiên cứu này tập trung vào phân tích cơ chế phân bổ các nguồn ngân sách Nhà nƣớc (NSNN) và nguồn vốn ngoài NSNN. Về cơ chế phân bổ nguồn vốn NSNN, theo một số nghiên cứu đánh giá, việc phân bổ cơ bản đã đáp ứng cơ bản thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nƣớc và cấp chính quyền địa phƣơng, có tính minh bạch, đảm bảo sự công bằng và bình đẳng trong phân bổ nguồn lực NSNN (Vũ Nhƣ Thăng, 2015). Ngoài ra, các nghiên cứu cũng chỉ ra Nhà nƣớc rất chú ý đến tiêu chí công bằng khi thực hiện phân bổ, và đƣa ra bằng chứng về phân bổ dựa trên tiêu chí dân số, dân số trung bình cùng với việc áp dụng các chỉ tiêu theo từng lĩnh vực đã đƣợc xác định theo vùng và các tiêu chí đặc thù: ngƣời dân tộc thiểu số, xã biên giới, tỷ lệ hộ nghèo.
Tuy nhiên, một số nghiên cứu chỉ ra rằng trong một số lĩnh vực, việc phân bổ ngân sách còn nhiều hạn chế, cơ chế chƣa cụ thể, chƣa phù hợp, phân cấp nhƣng thiếu kỷ luật tài khóa (Nguyễn Thị Hải Hà, 2013) dẫn đến nguồn lực phân bổ không đạt hiệu quả, không tƣơng xứng với kết quả đầu ra (Phạm 8 z Văn Vang, 2007); chƣa có sự ƣu tiên đối với các ngành công nghệ cao, các ngành có khả năng dẫn dắt chuyển đối cơ cấu kinh tế theo hƣớng hiện đại hóa (Mai Ngọc Cƣờng, 2006), chƣa có sự ƣu tiên phù hợp với các lĩnh vực, trình độ, chƣa có tiêu chí về lƣợng ngƣời đƣợc thụ hƣởng kết quả (Hà Huy Thành, 2002). Về phân bổ nguồn vốn ngoài NSNN, Vũ Huy Chƣơng (2002) và Lê Du Phong (2006) cũng đã đề cập đến việc phân bổ nguồn vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) nhƣ một loại nguồn lực. Các tác giả này cho rằng hầu hết vốn FDI vẫn đƣợc phân bổ vào các lĩnh vực chƣa thực sự phát triển chẳng hạn các hoạt động lắp ráp đơn giản, có tạo công ăn việc làm không đòi hỏi tay nghề cao, nhƣng không mang lại nhiều cơ hội cho khu vực tƣ nhân trong nƣớc. Về cơ chế phân bổ trên thị trƣờng tài chính, nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Dậu (2009) cho rằng thị trƣờng tín dụng chịu sự tác động trực tiếp khá lớn của Nhà nƣớc và việc phân bổ vốn trên thị trƣờng tín dụng còn chịu ảnh hƣởng của các quyết định hành chính.
Những năm gần đây, có sự thay đổi sở hữu khi nhiều ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nƣớc đã đƣợc chuyển sang thành ngân hàng cổ phần thông qua việc bán cổ phần. Tuy nhiên, Nhà nƣớc vẫn nắm giữ cổ phần trong nhiều ngân hàng thƣơng mại một cách trực tiếp hoặc thông qua doanh nghiệp Nhà nƣớc và ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nƣớc. Mặc dù nắm giữ ít vốn cổ phần trong các ngân hàng thƣơng mại nhƣng nó vẫn có ảnh hƣởng tới các quyết định cho vay. Một số nghiên cứu cũng đã phân tích khả năng tiếp cận nguồn vốn trên thị trƣờng tín dụng.
Theo Vũ Huy Chƣơng (2002), các doanh nghiệp thuộc kinh tế Nhà nƣớc thƣờng đƣợc ƣu tiên trong tiếp cận nguồn vốn. Việc tiếp cận nguồn vốn cũng phụ thuộc vào quy mô doanh nghiệp (doanh nghiệp nhỏ thì khó tiếp cận) hoặc doanh nghiệp hoạt động thuộc lĩnh vực nông– lâm– thủy 9 z sản chịu khả năng tiếp cận nguồn vốn khó nhất (Lƣơng Minh Huân và Vũ Hùng Cƣờng, 2014). Về tiêu chí đánh giá hiệu quả phân bổ ngân sách nhà nƣớc, nghiên cứu của Chƣơng trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP – United Nations Development Programme) đã xây dựng tiêu chí để đánh giá hiệu quả của việc phân bổ chi tiêu ngân sách bằng việc sử dụng chỉ số phát triển con ngƣời (HDI) bằng cách xác định tỷ lệ giữa mức tăng HDI so với tổng chi ngân sách trong một giai đoạn nhất định. Tuy nhiên, cách thức tiếp cận này chỉ đánh giá chủ yếu về mặt kinh tế– xã hội mà chƣa đánh giá đƣợc những yếu tố về mặt chính trị và sự tuân thủ phát luật của hoạt động ngân sách Nhà nƣớc cũng nhƣ đánh giá hiệu quả ngân sách trong ngắn hạn.
Theo Bùi Đại Dũng (2007), hiệu quả ngân sách không dễ dàng xác định đƣợc do những tác động của ngân sách Nhà nƣớc đến xã hội rất đa dạng và phức tạp. Hiệu quả phân bổ ngân sách Nhà nƣớc nên đƣợc đánh giá dƣới các góc độ: hiệu quả về sự tuân thủ, hiệu quả về mặt kinh tế, hiệu quả về mặt xã hội, hiệu quả về mặt chính trị. Về nghiên cứu quốc tế, nghiên cứu Open Budget Survey 2015 &2017 của tổ chức: Quan hệ đối tác ngân sách quốc tế (IBP – International Budget Partnership)đã đƣa ra khảo sát 102 quốc gia từ khắp nơi trên Thế giới, đo lƣờng ba khía cạnh về cách chính phủ quản lý tài chính công. Thứ nhất, tính minh bạch ngân sách: Số tiền, mức độ chi tiết và tính kịp thời của chính sách; thông tin ngân sách đƣợc cung cấp công khai.
Thứ hai, quá trình phân bổ ngân sách mà Chính phủ đang cung cấp cho xã hội theo: ngành, lĩnh vực, địa phƣơng. Thứ ba, giám sát ngân sách: năng lực và thẩm quyền của các cơ quan có thẩm quyền liên quan. Qua nghiên cứu có thể thấy rằng: phân bổ NSNN của hầu hết các quốc gia khảo sát đã ngày càng đƣợc công khai, minh bạch hơn về nội dung thu, chi; dần hình thành các cơ quan giám sát và đƣa ra các tiêu chí để đánh giá phân bổ NSNN một cách hiệu quả; đồng thời về định 10 z mức phân bổ NSNN chịu ảnh hƣởng của các nhân tố: dân số, diện tích tự nhiên của địa phƣơng, mục tiêu kế hoạch phát triển đất nƣớc theo thời kỳ,… Các nghiên cứu quốc tế về trƣờng hợp điển hình, bài luận văn sẽ nghiên cứu trƣờng hợp của Hàn Quốc và Trung Quốc. Về trƣờng hợp Hàn Quốc, nghiên cứu The Budget System of Korea (2014)của Bộ chiến lƣợc và tài chính Hàn Quốc (Ministry of strategy and finance, Republic of Korea) đã đƣa ra một cách đầy đủ từ tổng quát đến chi tiết về hệ thống ngân sách của Hàn Quốc, đƣa ra các nội dung về: chức năng của ngân sách, cấu trúc tài chính của Chính phủ Trung ƣơng và chính quyền địa phƣơng, quy mô tài chính công, quản lý tình hình tài chính, các chƣơng trình hợp tác Công tƣ – Tƣ nhân,cách thức tổ chức ngân sách và cơ cấu pháp luật của ngân sách, quy trình và hệ thống của ngân sách Nhà nƣớc.Điểm nổi bật trongnghiên cứu này đó là đã đƣa ra đƣợc các yêu cầu đáp ứng để nhận ngân sách cũng nhƣ đƣa ra các hệ thống quản lý hiệu quả và nghiên cứu đƣợc tính khả thi của phân bổ ngân sách Nhà nƣớc,đƣa ra những thành công đạt đƣợc về kinh tế và xã hội nhƣ: phục hồi kinh tế và tăng trƣởng cao, tạo việc làm, ổn định xã hội và nâng cao chất lƣợng an toàn cuộc sống của công dân, tạo lòng tin của nhân dân đối với Chính phủ.
Theo Reuters (2017), South Korea reports third straight annual budget surplus in 2017, Seoul – South Korea.Bài viết đƣa ra thành công của Hàn Quốc trong thặng dƣ ngân sách, trong đó đƣa ra hai nhân tố chính dẫn đến thành công này đó là: tăng thuế doanh nghiệp dẫn đến tăng thu Chính phủ cùng với đó là phân bổ ngân sách Nhà nƣớc hợp lý, có hiệu quả dẫn đến ngân sách Nhà nƣớc thặng dƣ. Christine Kim (2017),chỉ rõ: Hàn Quốc chú trọng tập trung vào tạo thêm công ăn việc làm, giảm bớt chi tiêu và tìm kiếm các nguồn tăng trƣởng kinh tế mới. Phân bổ chi tiêu ngân sách Nhà nƣớc vẫn tăng dần qua các năm 11 z nhƣng tăng một cách bền vững và có hiệu quả bám sát theo tốc độ tăng trƣởng kinh tế. Phân bổ ngân sách Nhà nƣớc tập trung vào các lĩnh vực tạo công ăn việc làm, phục hồi hoạt động kinh tế, phúc lợi xã hội, lĩnh vực sức khỏe cho ngƣời lao động,…Các dự án hoạt động không có hiệu quả sẽ bị loại bỏ, tập trung đầu tƣ ngân sách vào phát triển khoa học – công nghệ.
Ngoài ra, Hàn Quốc tăng thu ngân sách Nhà nƣớc bằng cách phát hành trái phiếu Chính phủ, đây là cách huy động nguồn ngân sách một cách bền vững và tiền ẩn ít rủi ro. Theo Trading Economics (2018), South Korea Government Budget 1988 – 2018, Seoul – South Korea. Bài nghiên cứu đƣa ra những dữ liệu và phân tích một cách tổng quát về một số tiêu chí liên quan đến ngân sách Nhà nƣớc Hàn Quốc nhƣ: Nợ chính phủ/GDP, giá trị ngân sách Nhà nƣớc, chi tiêu và thu nhập Chính phủ, mức phân bổ chi tiêu ngân sách Nhà nƣớc/GDP,… Về trƣờng hợp Trung Quốc, theo James L.Chan, Budget Accounting in China: Continuity and Change, University of Illinois at Chicago. Nghiên cứu chỉ ra: theo mô hình XHCN, kế toán Chính phủ ở Trung Quốc đã trở thành kế toán ngân sách.
Với liên kết chặt chẽ giữa kế toán và ngân sách, chính những thay đổi trong hệ thống kinh tế Trung Quốc nói chung, và trong tài chính nói riêng đã mang lại những thay đổi trong hệ thống kế toán, ngân sách của Chính phủ Trung Quốc. Với việc ban hành luật ngân sách mới năm 1994 và sửa đổi nhiều lần qua các năm, đã nhanh chóng thúc đẩy tốc độ cải cách và đổi mới ở Trung Quốc.