CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan các nghiên cứu của tác giả ngoài nước và Việt Nam liên quan đến phát triển nguồn nhân lực quản lý tài nguyên, môi trường biển 1. Các nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực 1. Các nghiên cứu của các tác giả Hàn Quốc và các nước trên thế giới Bàn về phát triển NNL, tầm quan trọng của phát triển NNL hai tác giả L.
Nadeler (1990 và 1992), sổ tay phát triển nguồn nhân lực (The Handbook of Human resource developmen) và Hướng dẫn cho các nhà quản lý về phát triển NNL (Every Managers guide to human resource development) đưa ra quan điểm “phát triển NNL bao gồm 3 loại chương trình ở 3 mức độ quan tâm khác nhau: đào tạo, giáo dục và phát triển” [81], [82]; Marquardt và Engel (1993), năng lực phát triển NNL trong bối cảnh một thế giới đang dần thu hẹp (HRD competencies for a shrinking world) đã xác định “phát triển NNL bao gồm 3 lĩnh vực: đào tạo và phát triển; phát triển tổ chức và phát triển sự nghiệp để tăng cường kết quả của cá nhân, nhóm và tổ chức”. Các tác giả đã đưa ra danh mục gồm 35 năng lực được xếp thành 4 nhóm cần được phát triển là năng lực kĩ thuật, năng lực thực hiện công việc theo chuyên môn phụ trách; năng lực nhân cách và năng lực trí tuệ [76]. Về mối quan hệ giữa phát triển con người (hay phát triển nguồn nhân lực) với phát triển kinh tế (The Relationship between human development and economic growth) đã được thể hiện thông qua các báo cáo của UNDP (2013) và Michael Boozer, Gustav Ranis, and Tavneet Suri (2003) với các bài nghiên cứu của các tác giả ở trường Đại học Yale và Oxford trên thế giới. Mối quan hệ mạnh mẽ trong hai cách: phát triển NNL sẽ dẫn đến phát triển kinh tế và tăng trưởng kinh tế sẽ thúc đẩy phát triển NNL.
Adam Smith (1997), trong tác phẩm Của cải của dân tộc (Wealth of Nations) chỉ ra phát triển NNL chịu sự tác động của năm nhân tố: Thứ nhất, giáo dục và đào tạo; Thứ hai, sức khỏe và dinh dưỡng; Thứ ba, môi trường; Thứ tư, việc làm; Thứ năm, sự giải phóng con người. Những nhân tố này luôn gắn bó, hỗ trợ và phụ thuộc lẫn nhau, trong đó giáo dục, đào tạo là nhân tố nền tảng, là cơ sở của tất cả các nhân tố khác. Nhân tố sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường, việc làm và giải phóng con người là nhân tố thiết 14 yếu, góp phần duy trì và đáp ứng sự phát triển bền vững NNL. Khi sản xuất càng phát triển, thì đóng góp của trí tuệ thông qua GD&ĐT ngày càng chiếm một tỷ trọng lớn so với đóng góp của các yếu tố khác trong cơ cấu giá trị sản phẩn của lao động [1].
Gilley and Ann Maycunich (2002), trong tác phẩm Nguyên tắc phát triển nguồn nhân lực (Principles of human resource development) “phát triển NNL là quá trình thúc đẩy việc học tập trong tổ chức và có tính hệ thống, nâng cao kết quả thực hiện công việc, tạo ra thay đổi thông qua việc tổ chức thực hiện các giải pháp, các sáng kiến và các hoạt động quản lý nhằm mục đích nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của tổ chức, khả năng cạnh tranh và đổi mới [68]. Trong suốt chặng đường phát triển của những tư tưởng, trên cơ sở các cách tiếp cận từ các góc độ chuyên ngành khác nhau, khái niệm về phát triển NNL được các học giả đưa ra cũng có những điểm khác nhau, quá trình phát triển của các nghiên cứu về phát triển NNL này được luận án tổng hợp tại Phụ lục 3, trang 196. Trong đó đáng chú ý có quan điểm về phát triển NNL được đưa ra tại Điều 2, Luật cơ bản về phát triển NNL của Hàn Quốc (sửa đổi ngày 26/7/2017), cho rằng “phát triển NNL là các hoạt động được thực hiện bởi chính phủ quốc gia, chính quyền địa phương, tổ chức giáo dục, viện nghiên cứu, công ty, v. để nuôi dưỡng, phân phối, sử dụng NNL và hình thành các chuẩn mực xã hội, cũng như các tổ chức liên quan đến họ” [101].
Các nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực của tác giả trong nước Nghiên cứu một số công trình của các tác giả trong nước về phát triển NNL tiêu biểu như: Theo các tác giả Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Vân Điềm (2015), trong Giáo trình quản trị nhân lực, thì “theo nghĩa rộng, phát triển NNL là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức, được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động [40]; Bùi Văn Nhơn (2006), Giáo trình Quản lý và phát triển NNL xã hội, cho rằng “phát triển NNL là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng NNL đáp ứng đòi hỏi về NNL cho phát triển KTXH trong từng giai đoạn phát triển [33]; Theo Nguyễn Thế Phong (2010), luận án tiến sĩ phát triển NNL trong các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh nông sản khu vực phía Nam cho rằng “phát triển NNL trong doanh nghiệp là quá trình thực hiện tổng thể các chính sách và biện pháp thu hút, duy trì và đào tạo NNL nhằm hoàn thiện, nâng cao chất lượng NNL, trên cả ba phương diện thể lực, trí lực, tâm lực, điều chỉnh hợp lý quy mô, cơ cấu NNL một cách bền vững và hiệu quả” [35]. Các tác giả Nguyễn Thị Thanh Quý (2016), phát triển NNL ngành hàng không Việt Nam [1]; Nguyễn Thị Lan Anh (2012), phát triển NNL quản trị của các 15 doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên [1]; Nguyễn Thanh Vũ (2015), nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển NNL của các doanh nghiệp may tỉnh Tiền Giang [1] không chỉ đưa ra khái niệm phát triển NNL mà còn làm rõ nội dung phát triển NNL và các tiêu chí đánh giá phát triển NNL. Lê Thị Ánh Tuyết (2020), phát triển NNL quản lý đơn hàng tại các doanh nghiệp may Việt Nam. Nghiên cứu đưa ra khái niệm phát triển NNL quản lý đơn hàng tại các doanh nghiệp may Việt Nam.
Tác giả đề xuất năm giải pháp phát triển NNL quản lý đơn hàng tai các doanh nghiệp may Việt Nam [1]. Các quan điểm của các học giả trong và ngoài nước đề cập đến khái niệm phát triển NNL, tuy các khái niệm đưa ra có khác nhau, nhưng về cơ bản đều thống nhất đó là sự biến đổi về số lượng, nâng cao năng lực, trình độ, có sức khỏe, hoàn thiện về cơ cấu, nhằm tạo ra quy mô và cơ cấu ngày càng phù hợp với nhu cầu về NNL phục vụ cho phát triển KTXH, đáp ứng yêu cầu của công việc hiện tại và thích ứng với sự phát triển trong tương lai. Đồng thời đã đề cập đến nội dung (các hoạt động), các tiêu chí đánh giá phát triển NNL. Tuy nhiên những nội dung, tiêu chí đánh giá đề cập thường gắn với các ngành, địa phương, doanh nghiệp và chủ yếu tập trung vào tiêu chí đánh giá về chất lượng ít quan tâm đến các tiêu chí đánh giá về bố trí, sử dụng, tạo môi trường, điều kiện để NNL phát triển.
Phát triển nguồn nhân lực quản lý tài nguyên, môi trường biển: 1. Các nghiên cứu của các tác giá nước ngoài Theo nghiên cứu của PEMSEA (2010), Kiến thức cơ bản về quản lý tổng hợp ven biển (Basic knowledge on Integrated Coastal Management), cần khẩn trương phát triển NNL chất lượng cao về quản lý tổng hợp ven biển (ICM), trong đó chú trọng đội ngũ cán bộ có năng lực và kinh nghiệm thực tiễn tốt, đội ngũ chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực ICM. Để đạt được điều này, theo PEMSEA cần đẩy mạnh đào tạo, hợp tác, đẩy mạnh các chương trình giảng dạy đại học và sau đại học về ICM… Giáo dục cộng đồng phải là một hoạt động lâu dài và liên tục trong chương trình ICM. PEMSEA đã đề xuất thiết lập cơ chế điều phối liên cơ quan, đa ngành cho một chương trình ICM.
Hiện nay, cơ chế điều phối này đã và đang được nhiều quốc gia, đia phương và tổ chức đối tác thành viên của PEMSEA áp dụng [85]. Dong- Oh Cho (2012), Hoạch định chính sách đại dương Hàn Quốc: tiến tới quản lý tổng hợp đại dương (Korea's Oceans policymaking: Toward integrated Ocean management) [1] và Seoung-Yong Hong (2010), Chính sách hàng hải Hàn Quốc (Marine policy in the Republic of Korea) [1]. Là hai công trình tiêu biểu nghiên cứu về chính sách biển của Hàn Quốc, trong đó các tác giả đã đề cập đến các lợi ích quốc gia từ lĩnh vực biển. Hàn Quốc có bảy lĩnh vực được coi là chủ đạo gồm: Thủy sản, vận tải đường thủy, đóng tàu và phát triển cảng, cải tạo không gian, khai thác dầu khí, liên kết khai thác biển sâu, bảo tồn môi trường biển, và nghiên 16 cứu khoa học biển.
Về pháp luật quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường biển: Hàn Quốc có cả một hệ thống luật để phục vụ quản lý tổng hợp biển và hải đảo như Luật quản lý biển, Luật quản lý đảo và Luật quản lý vùng bờ… Về tổ chức, bộ máy: sau nhiều lần xây dựng, hoàn thiện Hàn Quốc đã tái lập Bộ Đại dương và Thủy sản giúp Chính phủ Hàn Quốc thực hiện quản lý nhà nước tổng hợp về biển và hải đảo; đã ban hành nhiều chính sách góp phần phát triển NNL trong đó đẩy mạnh thành lập nhiều các trường đại học chuyên ngành, mở các chuyên ngành đào tạo về biển tại các trường đại học. Byung - Nak Song (1997), Kinh tế Hàn Quốc đang trỗi dậy (The rise of the Korean economy). Đã chỉ ra mười sáu đặc điểm chính của dân tộc Hàn Quốc, trong đó đề cập đến người Hàn luôn khát khao học tập và có thể coi là dân tộc hiếu học nhất thế giới; so với các nước Đông Á khác, Hàn Quốc là nước kết hợp hài hòa bản sắc văn hóa phương Đông và phương Tây; xã hội Hàn Quốc là một xã hội có tôn ti, trật tự nhất thế giới; dân Hàn Quốc là những con người làm việc chăm chỉ nhất thế giới. Về tôn giáo thì tác giả cho rằng Đạo Khổng và Đạo Thiên Chúa có ảnh hưởng lớn và được truyền bá nhiều nhất ở Hàn Quốc [7]; Nền văn hóa và lịch sử của Hàn Quốc có ảnh hưởng to lớn đến phương thức phát triển KT cũng như cách thức phân chia những thành quả do tăng trưởng mang lại.
Sự thành công trong phát triển KT của Hàn Quốc trong giai đoạn hiện đại là có cội nguồn trong quá khứ.