Chương I NHÀ THỜ CÔNG GIÁO TẠI SÀI GÒN - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Tổng quan về đạo Công giáo Giáo hội Công giáo là một trong những tổ chức lâu đời nhất trên thế giới, Giáo hội Công giáo đã đóng vai trò nổi bật trong lịch sử nền văn minh Phương Tây. Đây cũng là tôn giáo được tổ chức lớn và rất chặt chẽ. Ngày nay, Giáo hội Công giáo toàn cầu được chia thành nhiều giáo phận ở nhiều quốc gia, thông thường là trên cơ sở lãnh thổ hành chính, lãnh đạo mỗi giáo phận là một vị giám mục.
Nguồn gốc và lịch sử Thuật ngữ Catholic - bắt nguồn từ chữ καθολικός (katholikos) trong tiếng Hy Lạp, có nghĩa là "phổ quát" hoặc “công cộng” - lần đầu tiên được sử dụng để mô tả về một giáo hội Kitô giáo duy nhất từ những năm đầu Thế kỷ thứ II. Chữ ‘’Katholikos’’ là biến thể từ chữ ‘’καθόλου’’ (katholou) do sự kết hợp giữa hai từ κατό ολου (kata holou) có nghĩa là tôn giáo mà “ai cũng theo được". Từ nguyên nói trên được dịch sang tiếng Việt là “Công giáo”. Như vậy tên gọi Giáo hội Công giáo có nghĩa là “Giáo hội phổ quát”.
Kể từ sau cuộc Ly giáo Đông - Tây năm 1054, một số giáo hội vẫn còn giữ lại sự hiệp thông với Tòa Roma và vẫn dùng danh xưng là "Công giáo". Trong khi đó, các giáo hội khác ở phía Đông bắt đầu từ chối thẩm quyền tối cao của giáo hoàng và họ coi giáo hội của mình mới là giáo hội "chính thống" kế thừa nguyên thủy từ thời Chúa Giêsu, vì vậy mới xuất hiện danh xưng "Chính Thống giáo Đông Phương". Sau cuộc Cải cách Kháng Cách hồi Thế kỷ 16, các giáo hội "hiệp thông với Giám Mục Roma" vẫn tiếp tục sử dụng từ "Công giáo" để chỉ chính mình, nhằm phân biệt với các giáo hội đã tách ra, mà thường được biết đến với tên gọi là Tân giáo hay Tin Lành. Theo sử sách, các tông đồ của Thiên Chúa Giáo đã đi truyền giảng ở Bắc Phi, Tiểu Á, Ả Rập, Hy Lạp và Rome để thành lập những cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên.
Ngay từ thời sơ khai này, các Kitô hữu bị bắt bớ, đàn áp và hành hạ, thậm chí bị giết chết 6 qua bàn tay quyền lực của Đế quốc La Mã. Đạo Công giáo được hợp pháp hóa vào Thế kỷ thứ 4 khi hoàng đế Constantine I ban hành "Sắc lệnh Milano" năm 313. Ngày 27 tháng 2 năm 380, Hoàng đế Theodosius I công nhận Công giáo là quốc giáo của Đế quốc La Mã. Thời kỳ lịch sử này đánh dấu sự khởi đầu cho việc thiết lập nền tảng thần học và giáo luật của Giáo hội.
Năm 386, Công đồng Roma thiết lập Quy điển Thánh Kinh, ra danh sách những quyển sách được Giáo hội chấp nhận từ Cựu Ước và Tân Ước. Đến thời Trung cổ sự suy yếu của La Mã đã tạo tiền đề thuận lợi cho Công giáo phát triển. Trong thời đại loạn lạc này, những hành động nhân đạo, cứu giúp kẻ khó khăn của các tu sĩ Công giáo nhanh chóng được nhân dân ủng hộ và đi theo. Năm 480, Thánh Biển Đức (Benedict) thiết lập hệ thống luật lệ cho việc ra đời các dòng tu.
Sau đó, các dòng tu Công giáo phát triển mạnh mẽ ở châu Âu vào Thế kỷ thứ 9, nhất là ở Ireland, Scotland thời Phục Hưng. Đầu thế kỷ thứ 10, các dòng tu phương Tây lan rộng khắp nơi, dẫn đầu là Dòng Biển Đức. Đầu thế kỷ 11, các trường dòng phát triển thành các viện đại học như: Đại học Paris, Đại học Oxford, Đại học Bologna… trước đây chỉ dạy thần học, sau này dạy cả y học, luật pháp, triết học để rồi trở thành nền tảng cho giáo dục hiện đại của phương tây. Thời kỳ này, các công trình kiến trúc của Giáo hội đạt đến những tầm cao mới, cực điểm là phong cách kiến trúc Romanesque, Gothique trong các đại giáo đường ở châu Âu.
Từ năm 1095, thời Giáo hoàng Urbano II, những cuộc Thập Tự Chinh bùng phát. Đó là hàng loạt chiến dịch quân sự tại khu vực Đất Thánh (Jerusalem) và những nơi khác như một nỗ lực chống lại sự bành trướng của quân Thổ Nhĩ Kỳ đại diện cho Hồi giáo. Trong giai đoạn này, Kitô giáo đã bị các thế lực phong kiến và thậm chí là các giáo hoàng đương thời lợi dụng và diễn dịch theo nghĩa phục vụ cho cuộc chiến của họ. Điều đó đã trở thành một trong các nguyên nhân biến Thập Tự Chinh trở thành một trong những vết nhơ khủng khiếp nhất của lịch sử Kitô giáo.
Qua một thời kỳ từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ 14, Giáo hội Công giáo nguyên thủy dần dần bị phân tách thành hai cực: Tây phương (Latinh), thường được gọi là Giáo hội Công giáo, và Đông phương (Hy Lạp), sau này trở thành Chính Thống giáo. Hai giáo hội này bất đồng quan điểm về cách tổ chức, nghi thức và những học 7 thuyết mà đặc biệt là địa vị của giáo hoàng. Năm 1492, Christopher Columbus khám phá ra châu Mỹ dẫn đến làn sóng truyền giáo tích cực của Công giáo Roma tại khắp lục địa này. Giáo hoàng Alexander VI trao “sứ mệnh” truyền giáo tại vùng đất mới khám phá cho Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.
Thời kỳ Phục Hưng thế kỷ 15 có một sự kiện đáng quan tâm trong cổ điển học đó là sự xét lại về học thuyết và đức tin của Công giáo. Sự lan rộng khắp thế giới của Công giáo song hành cùng chủ nghĩa thực dân châu Âu vươn đến châu Mỹ, châu Á, châu Phi và châu Đại Dương. Trong năm 1521, nhà thám hiểm Bồ Đào Nha Ferdinand Magellan thực hiện chuyến đi truyền giáo đầu tiên đến Philippines. Hơn 150 năm tiếp theo, sứ vụ được mở rộng sang tây nam Bắc Mỹ.
Người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha theo nhà sáng lập Dòng Tên là Francisco Javier đến Ấn Độ và Nhật Bản. Cuối thế kỷ 16, hàng chục ngàn người Nhật theo đạo Công giáo. Giáo hội tại Nhật Bản phát triển nhưng bị gián đoạn và đàn áp vào năm 1597, dưới thời Shogun (Tướng quân) Tokugawa Iemitsu. Iemitsu là vị tướng quân có nỗ lực cô lập Nhật Bản khỏi ảnh hưởng từ ngoại bang.
Đến thời kỳ hiện đại vào thế kỷ 18 và 19, Giáo hội phải đối mặt với làn sóng truyền giáo mạnh mẽ của Tin Lành, Chủ nghĩa Khai Sáng và Chủ nghĩa Canh Tân. Chủ nghĩa Khai Sáng ra đời là một thách thức mới của giáo hội Công giáo, những vấn đề về giáo lý Kitô giáo nói chung và Công giáo nói riêng đã được đưa ra bàn thảo dựa trên quan điểm khoa học. Chủ nghĩa Vô thần và bài trừ tôn giáo được đẩy mạnh lan rộng khiến giáo hội phải tự vận động để thích nghi với hoàn cảnh và chức năng. Nhiều thành phần của giáo hội trên thế giới bị đàn áp, công tác giáo dục, y tế vốn có của giáo hội bị chính phủ kiểm soát.
Thời Công đồng Vatican II (1962-1965) do Giáo hoàng Gioan XXIII (Giovanni XXIII) triệu tập, Giáo hội Công giáo trải qua một quá trình cải cách toàn diện. Công đồng nhấn mạnh phải nhìn thấy rõ vai trò của Giáo hội Công giáo trong cộng đồng Kitô hữu tin Chúa Giêsu và trong các tôn giáo khác. Công đồng được coi là mở ra thời kỳ lịch sử của Giáo hội Công giáo hiện đại. Công đồng phát hành nhiều tài liệu về tình trạng Giáo hội, sứ mạng các hội đoàn và tự do tôn giáo.
Ngoài ra còn ban 8 hành những phương hướng thích nghi dành cho các nghi lễ, trong đó cho phép sử dụng tiếng bản xứ thay vì phải dùng tiếng Latin trong phụng vụ. Với việc đăng quang vào năm 2005, Giáo hoàng Biển Đức (Benedict) XVI hiện tại phần lớn vẫn tiếp nối các chính sách của người tiền nhiệm là Gioan Phaolô (Giovanni Paolo) II. Hiện tại, Giáo hội Công giáo vẫn nỗ lực cải thiện quan hệ đại kết với các Giáo hội Chính Thống giáo Đông Phương và mở các cuộc đối thoại lớn với Do Thái giáo. Tổ chức và quản trị Hệ thống phẩm trật của Giáo hội Công giáo đứng đầu là vị giám mục Giáo phận Roma, chức danh là Giáo hoàng.
Đây là vị trí lãnh đạo tối cao của Giáo hội Công giáo trên toàn thế giới. Giáo hoàng cũng là người đứng đầu Thành Vatican, một quốc gia có chủ quyền đầy đủ trên một lãnh thổ nằm trong thành phố Roma. Sau khi một vị giáo hoàng qua đời hoặc từ chức, các thành viên dưới 80 tuổi trong Hồng y Đoàn họp tại Nhà nguyện Sistine ở Roma để bầu ra giáo hoàng mới. Hồng y là một tước hiệu danh dự mà giáo hoàng ban cho một số giáo sĩ Công giáo, phần lớn là các vị lãnh đạo trong Giáo triều Roma, các giám mục của các thành phố lớn và các nhà thần học lỗi lạc.
Giáo hội Công giáo tại từng quốc gia, khu vực, hoặc các thành phố lớn gọi là giáo hội địa phương, được tổ chức thành giáo phận (diocese hoặc eparchies, tùy văn cảnh là đông phương hay tây phương), mỗi giáo phận do một giám mục Công giáo lãnh đạo. Tính đến năm 2008, toàn Giáo hội Công giáo (cả Đông phương và Tây phương) gồm 2. Các giáo phận lại được phân thành rất nhiều cộng đoàn nhỏ được gọi là giáo xứ (hay xứ đạo, họ đạo), mỗi giáo xứ có một hoặc nhiều linh mục, phó tế lãnh đạo dưới quyền của giám mục. Giáo xứ là đơn vị có trách nhiệm trực tiếp cử hành thánh lễ, các bí tích và chăm sóc mục vụ cho giáo dân Công giáo.
Giáo hội Công giáo có tổ chức phân cấp, mỗi cấp có người trị sự được Giáo hội chỉ định với ba chức thánh sau: giám mục, linh mục và phó tế. Ngoài ra còn có các thừa tác viên. Đức tin Công giáo Đức tin Công giáo được tóm lược trong Tín điều Nicea và thể hiện chi tiết trong từng việc phụng vụ. Chính Thống giáo Đông phương cũng có niềm tin tương tự như Công giáo, chỉ khác nhau cơ bản về vị trí, vai trò của chức giáo hoàng và khái niệm "đồng trinh" của Maria.
Các giáo hội Tin Lành cũng có những khác biệt về đức tin với Công giáo, nhưng nói chung sự khác biệt chủ yếu là: vấn đề giáo hoàng, giáo hội truyền thống, các Bí tích và các vấn đề liên quan đến sự cứu rỗi. Những lời giảng dạy của Giáo hội Công giáo là những điều được trích dẫn ra từ hai nguồn: Thánh Kinh và Thánh Truyền. Danh sách và nội dung chính thức về các sách thánh kinh được Giáo hội Công giáo chấp nhận là những bản Thánh Kinh viết bằng tiếng Latin hồi thế kỷ thứ IV.