CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sơ lược lịch sử bệnh tả [12], [29], [30],[31], [32] Bệnh tả xuất hiện từ xa xưa tại đồng bằng sông Hằng của các tiểu lục địa Ấn Độ. Thế kỷ 19, những đợt đại dịch tả lan tràn tới nhiều vùng trên thế giới từ Nam Á theo những con đường buôn bán, hành hưong và di tản. Trong thời gian có đại dịch, nhiều vụ dịch lớn có tỷ lệ tử vong cao đã xảy ra khắp các thành thị châu Âu, châu Mỹ.
Năm 1849, một cuộc điều tra nổi tiếng của Jonh Snow ở phố Broad Luân Đôn đã chứng minh bệnh tả truyền qua nước. Các vụ đại dịch này đều bắt nguồn từ châu Á, sau đó lan tới các châu lục khác, gây dịch ở nhiều nước, trong nhiều năm. Trừ đại dịch tả lần thứ 7 bắt nguồn từ đảo Sulawesi, Indonesia, 6 đại dịch tả còn lại đều bắt nguồn từ vùng châu thổ sông Hằng, Án Độ. Vụ đại dịch 1: Lần đầu tiên được ghi nhận bệnh tả xảy ra dưới dạng một đại dịch.
Vụ dịch này bắt đầu vào năm 1817 tại khu vực châu thổ sông Hằng, sau đó lan ra nhiều nước thuộc châu Á và châu Phi. Vụ đại dịch 2: Lần đầu tiên bệnh tả gây dịch ở Bắc Mỹ năm 1832 tại khu vực Quebec (Canada), New York, Philadelphia, Washington. Trong vụ đại dịch này, đầu những năm 1830, o Shaughnessy là người đàu tiên chứng minh phân của bệnh nhân bị bệnh tả có tính kiềm và có nồng độ điện giải rất cao. Sau phát hiện có ý nghĩa này, Latta đã điều trị thành công một số bệnh nhân tả mất nước nặng bằng phưorng pháp tiêm tĩnh mạch dung dịch chứa muối và điện giải.
Vụ đại dịch 3: Dịch tả lan tới nước Anh. Tại Luân Đôn John Snow có phát hiện quan trọng về dịch tễ học, bệnh tả lan truyền theo đường nước sinh hoạt bị ô nhiễm và từ đó đã đề ra biện pháp chổng dịch hiệu quả là loại bỏ nguồn nước sinh hoạt không hợp vệ sinh. Vụ đại dịch 4: Dịch tả hoành hành dừ dội ở New Orleans và các thành phố, thị trấn dọc theo triền sông Mississippi, Missouri và Ohio của nước Mỹ. 5 Vụ đại dịch 5: Dịch tả lan tới vùng Trung Cận Đông, sau đó lan tới Nam Mỹ, gây ra các vụ dịch lớn với tỷ lệ tử vong cao ở các nước Argentina, Chilê và Peru.
Tại Aicâp và Calcutta (Ấn Độ), Robert Koch đã phân lập được vi khuẩn tả từ phân của bệnh nhân bị bệnh tả. Chỉ một năm sau Koch phân lập được vi khuẩn tả, Ferran là người đầu tiên đã gây miễn dịch dự phòng bệnh tả bằng vaccin. Vụ đại dịch 6: Gây ra các vụ dịch lớn ở vùng Trung Cận Đông và bán đảo Ban Căng. Từ năm 1921 - 1961, ngoài một vụ dịch tả lớn xảy ra ở Ai Cập năm 1947 với 32.978 trường hợp mắc tả, tử vong 20.472 người, dịch tả chủ yếu lưu hành ở các nước thuộc khu vực Đông Nam Á và châu Á.
Trong 6 vụ đại dịch đầu tiên tác nhân gây bệnh là v.cholerae 01, typ sinh học cổ điển, do Pacini mô tả đầu tiên năm 1854 và được nhà vi trùng học người Đức Robert Koch khẳng định lại năm 1883. Vụ đại dịch 7: Tác nhân gây bệnh là v.cholerae 01, typ sinh học El Tor, do Goschlich lần đầu tiên phân lập được năm 1905, theo trình tự địa lý và thời gian, đại dịch tả lần thứ 7 có thể được chia làm 4 giai đoạn: Giai đoạn 1 (1961 - 1962): Dịch tả khu trú ở các đảo thuộc Indonesia và các nước Đông Nam A (Philippine. Đài Loan) với tổng số mắc là 13.393 người, tử vong 1. Giai đoạn 2 (1963 - 1969): Dịch tả lan tới Malaysia rồi theo đường bộ tràn vào các nước khác trong khu vực.
Chỉ trong thời gian ngẳn dịch xuất hiện ở nhiều nước châu Á: Án Độ (1964), Pakistan. I - ran, Liên Xô cũ (1965), I - rắc (1966), Việt Nam bắt đầu có dịch tả El Tor vào tháng 1 năm 1964. Giai đoạn 3 (1970- 1990): Các vụ đại dịch lớn xảy ra tại khu vực Trung Đông, Tây Phi năm 1970. Theo số liệu của Tổ chức Y tể Thế giới (WHO), trong năm này, 36 nước có dịch.
Tác nhân gây bệnh là V. cholerae El Tor. Điều đáng chú ý là tại Li Băng, Syri chủng gây dịch là El Tor Ogawa, các nước kề cận Israel, Jordan và Ả rập - Xê út, chủng gây dịch là El Tor Inaba. Dịch tả trong những năm 80 của thế kỷ 20 chủ yếu xảy ra ở châu Á và châu Phi.
Hàng năm số nước thông báo 6 cỏ tả ở châu Phi dao động từ 11 - 21 nước, tỷ lệ tử vong từ 4% đen 12%. Từ năm 1982 - 1990, khu vực châu Phi có tỷ lệ mắc bệnh tả cao nhất thế giới. Giai đoạn 4 (1991- đến nay): Bệnh tả trở thành một vấn đề y tế nổi bật với 3 sự kiện đáng chú ý: • Sự kiện thứ nhất: Sau gần một thế kỷ yên ắng từ vụ đại dịch 5, dịch tả quay trở lại Nam Mỹ vào đầu năm 1991. Dịch xuất hiện đầu tiên ở Pê - ru rồi lan sang các nước lân cận tới Mê - hi - cô.
Trong vòng 5 năm đầu (1991 - 1995) ở Nam Mỹ có hom một triệu người mẳc bệnh tả, hơn 11 nghìn người tử vong. Năm 1992 có 21/23 nước thuộc Trung Mỹ và Nam Mỹ có bệnh tả. Năm 1994, số bệnh nhân mắc tả thuộc châu Mỹ La Tinh chiếm 50% số bệnh nhân bệnh tả trên toàn thế giới. • Sự kiện thứ 2: Năm 1992 - 1993 bệnh tả xuất hiện ở Ẩn Độ và Bangladesh chủng gây dịch hoàn toàn mới V.
cholerae 0139 (Bengal), có tốc độ lan truyền nhanh. Chủng sinh độc tả này có tính kháng nguyên khác với kháng nguyên của V. do vậy khi gây dịch ở những vùng lưu hành dịch tả 01 thì cả người lớn và trẻ em đều có tỷ lệ mắc bệnh cao. Tính đến năm 1994 có 11 nước châu Á thông báo có dịch tả v.
Theo một số chuyên gia, nếu nhóm huyết thanh mới này tiếp tục gây dịch ở các nước khác thì có thể dần đến đại dịch tả lần thứ 8. • Sự kiện thứ 3: Dịch tả tiếp tục hoành hành dữ dội ở Châu Phi trong các trại tỵ nạn, ở những vùng xảy ra lụt lội, nơi tập trung đông dân cư, trình độ vệ sinh thấp kém, thiếu nước sinh hoạt và thực phẩm. Năm 1991, 20 nước châu Phi thông báo có dịch tả với 153.367 người mắc, tử vong 13. Đỉnh cao của dịch tả ở châu Phi là vào năm 1994: 28 nước thông báo có dịch với 161.963 người mắc bệnh, tỷ lệ tử vong 13%.
Tháng 7/1994 xảy ra 1 vụ dịch tả thảm khốc tại trại tỵ nạn ở Ư-gan-đa với 58.057 trường hợp mắc. Năm 1996, số người mắc 7 tả ở châu Phi chiếm 60% tổng số các trường hợp mắc tả trên toàn thế giới. Trong những năm cuối thế kỷ 20 dịch tả ngày càng trở nên nghiêm trọng. Bệnh tả xảy ra ở tất cả các châu lục, tập trung chủ yếu ở những nước đang phát triển.
Mặc dù y học có những hiểu biết đáng kể về sinh bệnh học và điều trị bệnh tả nhưng tỷ lệ tử vong do bệnh tả vẫn ở mức cao, đặc biệt là ở khu vực châu Phi. Sinh thái bệnh tả Phẩy khuẩn tả (vibrio cholerae hay Kommabacillus) là vi khuẩn gram âm có hình dạng giống như những chiếc roi, chiếc gậy uốn cong. Có lẽ vì thể mà chúng ta nhìn giong như dấu phẩy? Vi khuẩn này gây tiêu chảy cho người. Phẩy khuẩn tả và các vi khuẩn khác của giống vibrio thuộc phân nhóm gamma của proteobacteria.
Hai loại phẩy khuẩn chính là phẩy khuẩn tả cổ điển và phẩy khuẩn El Tor (hay 01, được phân biệt với loại cổ điến căn cứ vào bộ gene vi khuẩn). Ngoài hai loại này, phẩy khuẩn tả còn bao gồm nhiều nhóm huyết thanh khác nữa. 8 Phẩy khuẩn tả được nhà giải phẫu học người Ý Filippo Pacini phân lập lần đầu tiên vào văm 1854 nhưng công việc của ông không được biết đến, sau 30 năm khi Robert Koch (người Đức) công bố chính thức những đặc điểm của bệnh và cách phòng tránh bệnh do phẩy khuẩn gây ra (nghiên cứu của Robert Koch hoàn toàn độc lập với Filippo Pacini). Phẩy khuẩn tả có thể tồn tại trong nhiều loại động vật sống ở các vùng nước ngọt, nước lợ và nước mặn, đặc biệt là trong tôm, cua, ốc, hến, sò V.
Nghiên cứu dịch tễ cho thấy dịch do phẩy khuẩn tả thường bùng phát vào thời gian sinh sản mạnh của các động vật này. Do đặc điểm đó người ta xếp bệnh vào nhóm các bệnh lây truyền "đặc biệt" của động vật và người. Dịch tễ học[15], [16] Bệnh tả là bệnh lây truyền qua đường ăn uống. Đặc biệt ở các nước đang phát triển, thức ăn và nước uống bị nhiễm khuẩn là phương tiện gây nên các vụ dịch cho cộng đồng.
Bệnh tả xuất hiện theo mùa. Băng la đét là nước có bệnh tả lưu hành địa phương và thường xuất hiện thành hai đỉnh dịch trong năm tương ứng với mùa ấm áp (trước và sau mùa mưa). Ớ Peru bệnh tả cũng thường xuất hiện trong mùa ấm. Tính chất mùa của vi khuẩn tả là vì vi khuẩn có thể phát triển nhanh ngoài môi trường ở điều kiện nhiệt độ ấm áp.
Ngoài các sinh vật phù du và các loài ốc thì không có loại động vật nào khác có thể là ổ chứa tự nhiên của tả. Ở các vùng có dịch tả lưu hành tỷ lệ hàng năm của bệnh cũng rất khác nhau, điều này có thể do vi 9 khuẩn tả chịu tác động của nhiều điều kiện nhiệt độ môi trường. Nếu nghiên cứu được mối liên hệ khí hậu và vi khuẩn tả có thể rất hữu ích cho các biện pháp phòng chống dịch tả. Nguồn bệnh [4] Nguồn bệnh là người bệnh hoặc người mang mầm bệnh tả • Bệnh nhân tả Ngay trong thời kỳ nung bệnh đã có vi khuẩn trong phân, nhưng nhiều nhất là trong thời kỳ toàn phát có tiêu chảy và nôn.
Trong số những người có biểu hiện triệu chứng, 80% là ở thể nhẹ và vừa, chỉ có 20% biểu hiện mất nước nặng. Phân người bệnh chứa phẩy khuẩn tả trong khoảng thời gian 17 ngày nếu không được điều trị kháng sinh. Nếu được điều trị kháng sinh đặc hiệu, phẩy khuẩn tả sẽ hết dần, nhanh nhất là 2 ngày, dài nhất là 6 ngày. Người mắc bệnh đã khỏi nhưng trong phân còn chứa phẩy khuẩn tả cũng là nguồn lây.
Muốn phát hiện chỉ có cách cấy phân của họ trong vòng 3-6 tháng. Mặc dù bệnh tả có hình ảnh lâm sàng rất điển hình là ỉa chảy mất nước nặng.