CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về bệnh sốt xuất huyết Dengue Bệnh SXHD do vi rút Dengue thuộc giống Flaviviridae, họ Togaviridae gây nên. Vi rút Dengue có 3 ổ chứa là người, muỗi và một số động vật thuộc nhóm linh trưởng như vượn, hắc tinh tinh. Có 4 tuýp huyết thanh là DEN-1, DEN-2, DEN-3, DEN-4.
Nếu nhiễm một trong 4 tuýp này, sẽ tạo được miễn dịch suốt đời với vi rút có tuýp huyết thanh đó. Dù cả 4 tuýp huyết thanh có kháng nguyên chung là đặc hiệu nhóm, song chỉ tạo ra việc bảo vệ chéo được một vài tháng sau khi nhiễm trùng với bất kỳ tuýp huyết thanh nào. Ở Việt Nam đã phân lập được cả 4 tuýp vi rút Dengue[2]. Bệnh sốt Dengue được Spaniards mô tả lần đầu tiên vào năm 1764.
Căn nguyên gây bệnh là các vi rút Dengue do Ashburn và Graig phát hiện năm 1907. Năm 1953 một vụ dịch sốt xuất huyết Dengue xảy ra ở Philippin. Năm 1958 một vụ dịch tương tự xảy ra ở Thái lan, căn nguyên gây bệnh là các vi rút Dengue đã được xác định. Do dịch ngày càng lan rộng ra các nước Đông Nam Á, như Việt nam năm 1958- 1960, Singapore, Lào, Campuchia … và các nước Tây Thái Bình Dương trong những năm sau, tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 1964 đã thống nhất tên gọi của bệnh là sốt xuất huyết Dengue[3].
Các nhà nghiên cứu đang tạo ra vắc-xin sốt xuất huyết. Cách phòng ngừa tốt nhất bây giờ giảm môi trường sống của muỗi trong khu vực phổ biến bệnh sốt xuất huyết [4]. Nguồn bệnh và đường lây truyền[4] Người bệnh là ổ chứa vi rút chính. Gần đây người ta phát hiện ở Malaysia có loài khỉ hoang dã ở những khu rừng nhiệt đới có mang vi rút Dengue, nhưng chưa có bằng chứng bệnh lây từ khỉ sang người.
Người bệnh nhiễm vi rút Dengue bị muỗi Aedes đốt mang vi rút rồi truyền cho người lành. Nước ta có 2 loại muỗi Aedes gây bệnh chủ yếu là aedes aegypti và aedes albopictus, Muỗi Aedes hút máu ban ngày và thường hút máu nhiều nhất vào sáng sớm và chiều tối. Muỗi Aedes aegypti mình nhỏ, đen, có khoảng trắng thường gọi là 4 muỗi vằn, đậu ở nơi tối trong nhà, thường sống ở các đô thị. Muỗi Aedes albopictus thích sống ở lùm cây, ngọn cỏ, phần lớn sống ở vùng nông thôn.
Sau khi hút máu người bệnh, muỗi cái có thể truyền bệnh ngay nếu đốt người lành, hoặc vi rút nhân lên ở tuyến nước bọt của muỗi, sau đó 8 - 10 ngày đốt người lành có thể truyền bệnh. Người ta thấy muỗi bị nhiễm vi rút Dengue có thể truyền bệnh suốt vòng đời của muỗi, khoảng 174 ngày (5 - 6 tháng). Muỗi Aedes đẻ trứng, sau đó sinh ra bọ gậy (loăng quăng) ở các dụng cụ chứa nước trong gia đình như chum, vại, bể nước, lọ hoa, chậu cảnh. hoặc ở ngoài nhà như hốc cây có nước, máng nước, vỏ đồ hộp, vỏ chai.
hoặc ở rãnh nước, ao hồ. Chu kỳ phát triển từ trứng đến muỗi trưởng thành khoảng 11 - 18 ngày, ở nhiệt độ 29 - 31°C. Mật độ muỗi thường tăng vào mùa mưa, do đó, muốn phòng bệnh tốt cần phải loại bỏ được những dụng cụ chứa nước nơi muỗi đẻ trứng, hoặc thả cá ăn bọ gậy[3]. Dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết Dengue[1] -Tác nhân gây bệnh: Do vi rút Dengue thuộc nhóm Flavivirus họ Flavivirus với 4 tuýp huyết thanh DEN - 1, DEN - 2, DEN - 3 và DEN - 4[1].1: Chu trình muỗi truyền bệnh sang người - Véc tơ truyền bệnh: Bệnh không lây truyền trực tiếp từ người sang người mà do muối đốt người bệnh có mang vi rút sau đó truyền vi rút sang người lành qua vết đốt.
Ở Việt Nam, hai loài muỗi truyền bệnh SXHD là Aedes aegypyti và Aedes albopictus, trong đó quan trọng nhất là Aedes aegypyti[1]. 5 Loài muỗi Aedes albopictus ít có vai trò truyền bệnh do ít đốt hút máu người và có thể sống ngoài thiên nhiên, rừng núi. Vai trò truyền bệnh SXHD của loài muỗi này ở nước ta đang tiếp tục nghiên cứu thêm. - Tính cảm nhiễm và sức đề kháng: Mọi người chưa có miễn dịch đặc hiệu đều có thể bị mắc bệnh từ trẻ sơ sinh cho đến người lớn.
Sau khi khỏi bệnh sẽ được được miễn dịch suốt đời với tuýp vi rút Dengue gây bệnh nhưng không được bảo vệ chéo với tuýp vi rút Dengue khác[1]. Biểu hiện của sốt xuất huyết Dengue[4] Bệnh SXHD có biểu hiện lâm sàng đa dạng. Bệnh thường khởi phát đột ngột và diễn biến qua 3 giai đoạn: Giai đoạn sốt, giai đoạn nguy và giai đoạn phục hồi[4]. Giai đoạn sốt: Các biểu hiện lâm sàng: - Sốt cao đột ngột, liên tục.
- Nhức đầu, chán ăn, buồn nôn. - Da xung huyết. - Đau cơ, đau khớp, nhức hai hố mắt. - Nghiệm pháp dây thắt dương tính.
- Thường có chấm xuất huyết ở dưới da, chảy máu chân răng hoặc chảy máu mũi[3]. Cận lâm sàng: - Hematocrit (Hct) bình thường. - Số lượng tiểu cầu bình thường hoặc giảm dần (nhưng còn trên 100. - Số lượng bạch cầu thường giảm[4].
Giai đoạn nguy hiểm: thường xảy ra từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 7 sau khi bị sốt[4]. a, Người bệnh có thể còn sốt hoặc đă giảm sốt. b, Có thể có các biểu hiện sau: 6 - Đau bụng nhiều: đau bụng nhiều và liên tục hoặc tăng cảm giác đau nhất là ở vùng gan. - Vật vã, lừ đừ, li bì.
- Gan to > 2cm dưới bờ sườn, có thể đau. - Thoát huyết tương do tăng tính thấm thành mạch (thường kéo dài 24 - 48 giờ). + Tràn dịch màng phổi, mô kẽ (có thể gây suy hô hấp), màng bụng, phù nề mi mắt. + Nếu thoát huyết tương nhiều sẽ dẫn đến sốc với các biểu hiện vật vã, bứt rứt hoặc li bì, lạnh đầu chi, mạch nhanh nhỏ, huyết áp kẹt (hiệu số huyết áp tối đa và tối thiểu ≤ 20mmHg hoặc tụt huyết áp, không đo được huyết áp, mạch không bắt được, da lạnh, nổi vân tím (sốc nặng), tiểu ít.
+ Xuất huyết dưới da: Nốt xuất huyết rải rác hoặc chấm xuất huyết thường ở mặt trước hai cẳng chân và mặt trong hai cánh tay, bụng, đùi, mạn sườn hoặc mảng bầm tím. + Xuất huyết niêm mạc như chảy máu chân răng, chảy máu mũi, nôn ra máu, đi ngoài (tiêu) phân đen hoặc máu, xuất huyết âm đạo hoặc tiểu máu. + Xuất huyết nặng: chảy máu mũi nặng (cần nhét bấc hoặc gạc cầm máu), xuất huyết âm đạo nặng, xuất huyết trong cơ và phần mềm, xuất huyết đường tiêu hóa và nội tạng (phổi, não, gan, lách, thận), thường kèm theo tình trạng sốc, giảm tiểu cầu, thiếu oxy mô và toan chuyển hóa có thể dẫn đến suy đa phủ tạng và đông máu nội mạch nặng. Xuất huyết nặng cũng có thể xảy ra ở người bệnh dùng các thuốc kháng viêm như acetylsalicylic acid (aspirin), ibuprofen hoặc dùng corticoid, tiền sử loét dạ dày - tá tràng, viêm gan mạn.
7 - Một số trường hợp nặng có thể có biểu hiện suy tạng như tổn thương gan nặng/suy gan, thận, tim, phổi, não. Những biểu hiện nặng này có thể xảy ra ở người bệnh có hoặc không có sốc do thoát huyết tương. + Tổn thương gan nặng/suy gan cấp, men gan AST, ALT ≥ 1000U/L. + Tổn thương/suy thận cấp.
+ Rối loạn tri giác (sốt xuất huyết Dengue thể não). + Viêm cơ tim, suy tim, hoặc suy chức năng các cơ quan khác. Cận lâm sàng - Cô đặc máu khi Hematocrit tăng > 20% so với giá trị ban đầu của người bệnh hoặc so với giá trị trung bình của dân số ở cùng lứa tuổi. Ví dụ: Hct ban đầu là 35%, SXHD có tình trạng cô đặc máu khi Hct hiện tại đo được là 42% (tăng 20% so với ban đầu).
- Số lượng tiểu cầu giảm (< 100.000/mm3) - AST, ALT thường tăng. - Trường hợp nặng có thể có rối loạn đông máu. - Siêu âm hoặc X-quang có thể phát hiện tràn dịch màng bụng, màng phổi[4]. Giai đoạn hồi phục: thường xảy ra từ ngày 7- 10 sau giai đoạn nguy hiểm có khi hiện tượng tái hấp thu dần từ mô kẽ vào bên trrong lòng mạch[4].
Lâm sàng: - Người bệnh hết sốt, toàn trạng tốt lên, thèm ăn, huyết động ổn định và tiểu nhiều. - Có thể phát ban hồi phục hoặc ngứa ngoài da. - Có thể có nhịp tim chậm, không đều, có thể có suy hô hấp do quá tải dịch truyền. Cận lâm sàng: 8 - Hematocrit trở về bình thường hoặc có thể thấp hơn do hiện tượng pha loãng máu khi dịch được tái hấp thu trở lại.
- Số lượng bạch cầu máu thường tăng lên sớm sau giai đoạn hạ sốt. - Số lượng tiểu cầu dần trở về bình thường, muộn hơn so với số lượng bạch cầu. - AST, ALT có khuynh hướng giảm[4]. Phân Loại mức độ SXHD[4] Bệnh sốt xuất huyết Dengue được chia làm 3 mức độ: - Sốt xuất huyết Dengue.
- Sốt xuất huyết Dengue có dấu hiệu cảnh báo. - Sốt xuất huyết Dengue nặng. Phòng chống dịch[1] 1. Phòng chống véc tơ chủ động[1] 1.
Công tác tổ chức, sẵn sàng phòng chống dịch - Xây dựng kế hoạch phòng chống SXHD hàng năm của các cấp. - Chuẩn bị sẵn sàng nhân lực bao gồm đội chống dịch cơ động gồm: cán bộ điều trị, dịch tễ, côn trùng được trang bị đủ hóa chất, máy móc, phương tiện. - Hóa chất, phương tiện sẵn sàng cho chống dịch tại các tuyến (sử dụng kinh phí sự nghiệp cấp cho các chương trình mục tiêu tại tỉnh/ thành phố và kinh phí địa phương). Hoạt động diệt lăng quăng/bọ gậy[1] Tuyên truyền nâng cao nhận thức về SXHD và huy động sự tham gia của cộng đồng phát hiện loại bỏ ổ lăng quăng/bọ gậy: loại bỏ các vật dụng phế thải, sử dụng tác nhân sinh học diệt lăng quăng/bọ gậy (thả cá, Mesocyclops).
Tập huấn cho Lãnh đạo chính quyền, các ban ngành đoàn thể, mạng lưới y tế, cộng tác viên, giáo viên, học sinh nhà trường về bệnh SXHD, các hoạt động cụ thể loại trừ nơi sinh sản của véc tơ [1]. Tổ chức các hoạt động diệt lăng quăng/bọ gậy thường xuyên đến từng hộ 9 gia đình phun chủ động hóa chất diệt muỗi tại những nơi có nguy cơ cao (vùng nguy cơ cao là vùng nhiều năm liên tục có ca bệnh và có chỉ số mật độ muỗi cao ³ 0,5 con/nhà hoặc chỉ số BI ³ 30; riêng khu vực miền Bắc chỉ số bọ gậy BI ³20). Tổng hợp kết quả và báo cáo cho tuyến trên theo quy định[1]. Phun hóa chất diệt muỗi chủ động diện rộng[1] - Mục đích: Chủ động triển khai phun hóa chất diệt muỗi kết hợp với chiến dịch diệt lăng quăng/bọ gậy ngay từ khi có nguy cơ nhằm ngăn chặn nguy cơ dịch bùng phát.