Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Định nghĩa Đột quỵ, hay thường gọi là “tai biến mạch máu não” là một hội chứng thiếu sót chức năng não, thường là khu trú hơn lan tỏa, xảy ra đột ngột, tồn tại quá 24 giờ hoặc gây tử vong trong vòng 24 giờ, loại trừ nguyên nhân do chấn thương sọ não (Theo WHO, 1989) [21]. Phân loại Gồm có 2 loại: Đột quỵ do thiếu máu cục bộ và Đột quỵ do xuất huyết [21]. Đột quỵ do thiếu máu cục bộ: - Hầu hết các cơn đột quỵ là do thiếu máu cục bộ, chiếm khoảng 85% số ca đột quỵ, nhiều cơn đột quỵ thuộc dạng này vẫn còn chưa rõ nguyên nhân.
Các loại đột quỵ do thiếu máu cục bộ phổ biến là: 1. Đột quỵ do tắc mạch: Cục máu đông hình thành ở một bộ phận trên cơ thể và có thể vỡ ra và di chuyển lên não, khi di chuyển đến các mạch máu nhỏ hơn chúng sẽ tắc tại vị trí đó làm cho máu không thể lưu thông và gây nên đột quỵ não. Một số bệnh về tim và máu, chẳng hạn như rung tâm nhĩ và bệnh hồng cầu hình liềm, có thể gây ra cục máu đông dẫn đến đột quỵ. Đột quỵ do huyết khối: Khi mảng bám tích tụ (chất béo là một trong những yếu tố tích tụ mảng bám) trên thành trong của động mạch, nó có thể dẫn đến bệnh gọi là xơ vữa động mạch.
Mảng bám cứng lại và thu hẹp các động mạch, làm hạn chế lưu lượng máu đến các mô và cơ quan. Mảng bám có thể tích tụ trong bất kỳ động mạch nào trong cơ thể, kể cả động mạch ở não và cổ. Mảng bám trong động mạch cũng có thể vỡ ra. Các tiểu cầu trong máu dính vào vị trí tổn thương mảng bám và kết tụ lại với nhau để tạo thành cục máu đông.
Những cục máu đông này có thể chặn một phần hoặc toàn bộ động mạch. Đột quỵ do xuất huyết: - Đột quỵ do xuất huyết xảy ra khi một động mạch trong não bị rò rỉ máu 5 hoặc vỡ ra. Máu bị rò rỉ gây quá nhiều áp lực lên các tế bào não, khiến chúng bị tổn thương cũng như không được cung cấp oxy và chất dinh dưỡng. - Huyết áp cao và chứng phình động mạch (là sự giãn bất thường của động mạch gây ra sự suy yếu của thành động mạch [20]) – những chỗ phồng giống như quả bóng bay trong động mạch có thể căng và vỡ ra.
2 yếu tố trên nằm trong những ví dụ về tình trạng trạng có thể gây ra đột quỵ xuất huyết. Ngoài ra còn có Cơn thiếu máu não thoáng qua (Transient ischemic attack (TIA)) thường được gọi là đột quỵ nhỏ. TIA khác với các dạng đột quỵ chính, bởi vì dòng máu cung cấp lên não bị giảm trong một thời gian ngắn – thường không quá 5 phút và không gây ra tác dụng rõ rệt lâu dài. TIA được coi là dấu hiệu cảnh báo nguy cơ đột quỵ ở mức cao hơn và cần được đánh giá bởi bác sĩ ngay.
Nguyên nhân Đột quỵ là do lưu lượng máu đến não bị chặn (đột quỵ do thiếu máu cục bộ) hoặc chảy máu đột ngột trong não (đột quỵ do xuất huyết). Cả 2 nguyên nhân trên đều khiến cho tế bào não không được cung cấp oxy và chất dinh dưỡng trong một thời gian nhất định. Và khi tình trạng trên kéo dài tế bào não sẽ chết và gây nên đột quỵ não. Nhiều yếu tố làm tăng nguy cơ đột quỵ nhưng không thể thay đổi được (Hội chứng phình động mạch hoặc Dị dạng động tĩnh mạch, Huyết áp cao) và nhiều yếu tố khác có thể thay đổi (chế độ ăn, chế độ vận động,…) để giúp ngăn ngừa đột quỵ hoặc ngăn chặn một cơn đột quỵ khác.1: Các động mạch não và động mạch cảnh trong đoạn trong sọ (trong msdmanuals.2: Động mạch não trên phim cộng hưởng từ MRI (medlatec.vn) Các tế bào não thường chết rất nhanh sau khi khởi phát đột quỵ.
Tuy nhiên một số có thể kéo dài vài giờ nếu việc cung cấp máu không bị cắt đứt hoàn toàn. Nếu được cung cấp máu lại trong thời gian ngắn nhất sau khi đột quỵ một số tế bào não có thể phục hồi và giảm nguy cơ để lại di chứng cho người bệnh.3: Đột quỵ não do thiếu máu thoáng qua và đột quỵ não do xuất huyết (cdc. Các yếu tố nguy cơ Theo Viên y tế Quốc gia Hoa Kỳ (NIH) có nhiều yếu tố nguy cơ gây nên tai biến mạch máu não [21,22]. Trong số đó bao gồm cả những yếu tố nguy cơ không thể và có thể kiểm soát được: 1.
Những yếu tố nguy cơ không thể kiểm soát được: - Tuổi tác: Đột quỵ có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng nguy cơ cao hơn ở trẻ dưới 1 tuổi và người lớn. Nguy cơ đột quỵ tăng gấp đôi mỗi 10 năm kể từ tuổi 55. - Giới tính: ở độ tuổi trẻ hơn, nam giới có dễ bị đột quỵ hơn nữ giới. Nhưng phụ nữ có xu hướng sống lâu hơn nên nguy cơ mắc đột quỵ trong đời sống của họ cao hơn.
Ví dụ như sử dụng thuốc tránh thai hoặc liệu pháp thay thế hormone làm tăng nguy cơ mắc đột quỵ. Nguy cơ mắc đột quỵ cũng tăng lên khi phụ đang trong thời kỳ thai sản. Huyết áp cao khi mang thai – tiền sản giật làm tăng nguy cơ mắc đột quỵ sau này trong đời [20]. - Tiền sử gia đình: Nguy cơ mắc đột quỵ sẽ cao hơn nếu như trong gia đình có thành viên đã bị đột quỵ.
Một số gen ảnh hường đến nguy cơ đột quỵ của bạn, bao gồm cả những gen quy định nhóm máu. Những người có nhóm máu AB có nguy cơ mắc bệnh cao hơn. - Bệnh tim mạch: Các tình trạng bệnh như bệnh mạch vành, rung tâm nhĩ, bệnh van tim, bệnh động mạch cảnh, Hội chứng phình động mạch não hoặc dị dạng động tĩnh mạch có thể gây ra cục máu đông hoặc tắc nghẽn khác. Đặc biệt rung tâm nhĩ có thể tăng nguy cơ đột quỵ lên 4- 6 lần, tuy nhiên thuốc có thể giúp điều trị tình trạng này.
- Đột quỵ tái phát: Một người có tiền sử đột quỵ có nguy cơ cao bị một lần đột quỵ khác. Nguy cơ cao nhất là trong vòng vài tháng đầu sau khi đột quỵ và giảm dần theo thời gian. Có thể sử dụng thuốc kế đơn để giảm nguy cơ đột quỵ của mình. - Cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA): Bị một cơn thiếu máu não thoáng qua làm tăng nguy cơ bị đột quỵ lớn trong tháng, thường là trong vài ngày.
Các thuốc bao gồm Aspirin có thể được kê để giúp ngăn ngừa cơn đột quỵ trong tương lai. Những yếu tố nguy cơ có thể kiểm soát được: - Tăng huyết áp: Nguy cơ đột quỵ bắt đầu tăng khi huyết áp duy trì ở trên mức 115/75mmHg [10]. Cao huyết áp – nguyên nhân hàng đầu của đột quỵ, làm tổn 8 thương thành động mạch và có thể làm tăng hoạt động đông máu, dẫn đến sự hình thành các cục máu đông gây đột quỵ [18]. Do huyết áp cao có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ 2-6 lần, nên việc kiểm soát huyết áp giúp giảm nguy cơ đáng kể [18].
- Đái tháo đường: Các vấn đề về tuần hoàn liên quan đến đái tháo đường có thể tăng nguy cơ đột quỵ thậm chí là khi mức đường huyết và insulin được kiểm soát chặt chẽ [24]. - Hút thuốc lá: Hút thuốc làm tăng gấp đôi nguy cơ đột quỵ. Bên cạnh việc gây hại cho phổi, hút thuốc cũng làm tổn thương thành mạch máu, làm tăng quá trình xơ cứng động mạch, khiến tim làm việc nhiều hơn và làm tăng huyết áp [5,24]. - Rối loạn mỡ máu và thừa cân: Cholesterol thừa có thể tích tụ trên thành động mạch và dẫn đến tắc những mạch này [20].
Thừa cân làm quá tải toàn bộ hệ tuần hoàn và mở đường cho các yếu tố nguy cơ khác của đột quỵ, như là cao huyết áp [33]. Lối sống ngồi yên, ít vận động làm gia tăng nguy cơ. Sử dụng thuốc làm ổn định lượng cholesterol trong máu có thể giảm nguy cơ đột quỵ. - Sử dụng rượu bia/chất kích thích: Uống rượu bia (đặc biệt là uống quá độ), sử dụng các chất kích thích bất hợp pháp (cocain, methamphetamin) cũng làm tăng nguy cơ bị đột quỵ [20].
- Căng thẳng/ lo âu: là yếu tố nguy cơ có thể dẫn đến đột quỵ não. Khi bị căng thẳng có thể tiết quá mức những chất làm tăng nhu cầu oxy cơ tim nhất là adrenalin, làm co mạch vành, rối loạn chức năng đông máu, thành mạch. Ngoài ra lo âu còn là cơ sơ cho những nguy cơ khác như hút thuốc lá, ít vận động, sử dụng rượu/bia/chất kích thích. Các dấu hiệu sớm của đột quỵ: Theo hội Tim mạch Hoa Kỳ và NINDS [21] các dấu hiểu cảnh báo đột quỵ bao gồm: - Đột ngột khó nói, không nói được hoặc đột ngột giảm khả năng hiểu: Ngôn ngữ bị mất khi vùng Broca bị tổn thương (vùng sau hồi trán 3) làm cho bệnh nhân không nói thành lời những vẫn giữ được khả trình bày thông tin qua lời nói (ú ớ, nói ngọng).
- Đột ngột đi lại khó khăn, chóng mặt, mất thăng bằng hoặc ngã không rõ nguyên nhân: là dấu hiệu cảnh báo khi chức năng tiền đình ngoại vi hay trung ương bị kích thích. Thường gặp chóng mặt tiền đình trung ương do rối loạn tuần hoàn sau 9 nhồi máu hoặc xuất huyết ở tiểu não hoặc thân não, thiếu máu cục bộ thoáng qua. - Đột ngột tê yếu hoặc liệt ở mặt, cánh tay hoặc chân hoặc 1 bên cơ thể cũng có thể là cả cơ thể: Dấu hiệu này hay gặp nhất ở đột quỵ não, mức độ liệt nửa người trên lâm sàng có thể giúp định vị khu vực tổn thương, đột quỵ não thường liệt yếu nửa người không đồng đều ở tay hoặc chân nặng hơn gặp trong tổn thương vỏ não. - Đột ngột đau đầu dữ dội không rõ nguyên nhân: Thường đau đầu dữ dội, đột ngột cường độ đau cao ngay từ khi khởi phát đau như muốn nổ tung, kèm theo nôn ói, gáy cứng.
- Đột ngột giảm khả năng nhìn ở một hoặc hai mắt: Dấu hiệu bệnh nhân thường gặp là mất thị lực, thị trường và nhìn đôi, mất thị lực 1 hoặc 2 bên, biểu hiện này xảy ra đột ngột. Xử trí Nguy cơ đột quỵ sẽ cao hơn nếu thấy xuất hiện nhiều hơn một trong các dấu hiệu trên. Tuy nhiên, có nhiều tình trạng bệnh lý khác có thể giống với đột quỵ. Vì vậy việc học cách nhận biết các dấu hiệu này là quan trọng và cách xử trí khi cơn đột quỵ thực sự xảy ra cũng quan trọng không kém.