CHƯƠNG I: NGHỆ THUẬT VÀ ĐỜI SỐNG XÃ HỘI Nghệ thuật gắn bó mật thiết với đời sống xã hội. Nó là một hình thái ý thức phản ánh tồn tại vật chất, chịu sự quy định của tồn tại vật chất. Nghệ thuật là một giá trị bất biến, có thể tồn tại bất chấp những thay đổi của xã hội loài người. Bởi tác phẩm như những bằng chứng sinh động của một thời đại lịch sử.
Và mỗi thời đại lịch sử sẽ có một nền nghệ thuật tương ứng. Nghệ thuật luôn vận động và phát triển trong sự ràng buộc tự nhiên với đời sống xã hội. Những giá trị nghệ thuật chân chính từ xưa tới nay đều là sáng tác bắt rễ sâu xa trong mảnh đất thực tế của thời đại mình. Những đỉnh cao nghệ thuật trong bất kì một nền văn học nào cũng đều được xây cất trên nền tảng vững chắc của thực tại cuộc sống.
Đối với nghệ thuật, người ta biết rằng những thời kì hưng thịnh nhất định của nghệ thuật hoàn toàn không tương ứng với sự phát triển chung của cơ sở vật chất xã hội, của cái xương sống của tổ chức xã hội tiêu biểu như văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII và nửa đầu thế kỉ XIX. Những tác phẩm lớn từ xưa tới nay đều mang ý nghĩa như những khám phá trong lịch sử nhận thức của con người. Chúng không chỉ có tác dụng khai sáng, thức tỉnh tinh thần phản kháng cho con người trong hiện tại mà còn trở thành nguồn năng lượng tinh thần mạnh mẽ cho nhiều thời đại tiếp theo. Nghệ thuật chỉ thật sự phát triển, đóng góp hữu hiệu cho sự phát triển chung của xã hội khi nó xác lập được mối liên hệ vừa sâu vừa xa vừa trực tiếp với đời sống chính trị, văn hoá, đạo đức của xã hội.
CHƯƠNG II: NGHỆ THUẬT – MỘT HÌNH THÁI Ý THỨC XÃ HỘI ĐẶC THÙ Nghệ thuật là san phẩm của thẩm mĩ độc đáo nẩy sinh trong quá trình sáng tạo theo quy luật của cái đẹp. Đặc trưng của đối tượng nghệ thuật - Đối tượng của nghệ thuật nằm trong hiện thực khách quan (tự nhiên, xã hội, con người). Nhưng nghệ thuật có cách nhìn riêng, cách chiếm lĩnh hiện thực theo một cách riêng. VD: mặt trời - Trong thiên văn học là một vì tinh tú, một vật thể ngưng tụ nhiệt năng, một khối cầu rực nóng.
- Trong nghệ thuật là biểu tượng của nguồn sáng, nguồn sưởi ấm, là vẻ đẹp chói chang rực rỡ, là biểu tượng của lí tưởng tự do. “Mặt trời là trái tim anh/Mặt trăng vành vạnh là tình của em” (Mặt trời vuông – Nguyễn Duy); “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ/Mặt trời chân lí chói qua tim” (Từ ấy – Tố Hữu); “Ngày ngày mặt trời đi qua trong lăng/Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ” (Viếng lăng Bác – Viễn Phương)… 33 Thiên nhiên không hề vắng bóng trong nghệ thuật. Thiên nhiên được tái hiện trong mối quan hệ với con người, được khúc xạ qua tâm hồn, tình cảm con người. - Sóng – Xuân Quỳnh: bộc lộ một tình yêu dào dạt, sôi nổi đầy nữ tính.
- Biển – Xuân Diệu: tình yêu muôn đời không thoả. - Hương thầm – Phan Thị Thanh Nhàn: mối tình thầm kín, thanh tao qua chùm hoa bưởi. Nghệ thuật phản ánh hiện thực trên một phạm vi hết sức rộng lớn và đa dạng. Xã hội loài người càng nảy sinh nhiều mối quan hệ thì đối tượng của nghệ thuật ngày càng mở rộng.
Người nghệ sĩ chân chính là cải thiện các mối quan hệ đó ngày càng tốt đẹp hơn, nhân đạo hơn. Con người là trung tâm là đối tương chủ yếu, nổi bật của nghệ thuật (có nhiều ngành lấy con người làm đối tượng nghiên cứu) - Trong sinh lí học: con người là một dạng của sự sống, cấu trúc của cơ thể, cơ chế hoạt động của các cơ quan, cơ chế bảo toàn nòi giống… - Trong nghệ thuật thì đi sâu: + Bản chất xã hội của con người: tinh thần, đạo đức, tác phong, hành vi xã hội, tình cảm, cảm xúc, đời sống tâm linh. + Quan hệ với tự nhiên: vô thức, tiềm thức, bản năng. Con người đi vào nghệ thuật đa diện, phong phú ở các lĩnh vực khác nhau.
Đó là con người với những xung đột, mâu thuẫn, luôn đấu tranh, giằng xé giữa vô thức – ý thức; bản năng – đạo lí; tình cảm – tư tưởng; suy nghĩ – hành động. + Con người cụ thể - lịch sử trong không gian, thời gian cụ thể. Đó là con người toàn vẹn, cụ thể với những ý nghĩ, cảm xúc, hành động, ngôn ngữ với những tính cách độc đáo với những số phận cụ thể. Đặc trưng của tư duy nghệ thuật 1.
Tư duy và các kiểu tư duy Tư duy là quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong bộ não con người. Mục đích cua tư duy là nhận thức và phản ánh thế giới khách quan. Đó là một quá trình không ngừng tiến gần đến khách thể, tìm gần đến chân lí tuyệt đối. Quá trình tư duy rất đa dạng và phức tạp “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lí, của sự nhận thức khách quan” (Lê-nin).
- Trực quan: cảm giác, tri giác và biểu tượng; - Tư duy trừu tượng: nắm bắt bản chất của đối tượng, chiều sâu của quy luật hiện thực khách quan. Nó vượt quá ngưỡng của cảm giác. Có hai kiểu tư duy cơ bản: tư duy logic và tư duy hình tượng. - Tư duy logic: thâm nhập vào bản chất của đối tượng để tìm ra bản chất và quy luật nội tại của chúng.
- Tư duy hình tượng: tư duy đặc thù của nghệ thuật. Tư duy này nhằm tìm ra bản chất của sự vật và hiện tượng để nắm bắt quy luật đời sống khách quan. Những yếu tố thường tại trong tư duy nghệ thuật 33 - Trực giác: là khả năng mách bảo thầm kín từ bên trong, là sản phẩm của độ nhạy tâm hồn là kết tinh của bề dày vốn sống…tất ca góp phần ý đồ nghệ thuật và nhận thức thẩm mĩ. Trong thơ trữ tình, trực giác là những cảm xúc, suy nghĩ nên không thể phân tích rạch ròi bằng lí trí, “Đưa người ta không đưa qua sông/Sao có tiếng sóng ở trong lòng/Bóng chiều không thắm không vàng vọt/Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong”.
“tiếng sóng ở trong lòng”, “hoàng hôn trong mắt” là những hình ảnh được cảm nhận bằng trực giác. - Tình cảm: nhằm phản ánh thực tại, phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người, con người với thế giới khách quan. “Thiếu tình cảm của con người thì không bao giờ và không thể có những tìm tòi của con người về chân lí” (Lê-nin). Tình cảm là cảm xúc, tâm trạng: yêu – ghét, phản đối – tán thành.
Tất cả đưa con người tới nhu cầu về tinh thần lí tưởng thẩm mĩ, định hướng con người tới những giá trị của chân - thiện - mĩ. - Thể nghiệm: là thâm nhập vào nhân vật: xúc động, yêu thương, vui buồn, hờn giận, đau khổ… giây phút tự quên mình, là sự đồng cảm, gặp gỡ giữa nghệ sĩ với đối tượng. - Hư cấu: Hư cấu là quá trình nhào nặn, tổ chức các chất liệu để tạo ra một chỉnh thể mới chưa có trong thực tế nhưng lại phản ánh được thực tế đời sống, “nghệ thuật bắt nguồn từ đời sống nhưng không sao chép đời sống”. Các nhà văn hiện thực chu nghĩa có hai phương thức hư cấu: ▪ Tổng hợp – tái tạo: chắt lọc từ vô số nguyên mẫu rồi tổng hợp và biêu hiện qua một cá thể.
“Nhà văn biết rút ra mỗi người trong số 20, 30, 50 người chủ hiệu buôn, viên chức công nhân những nét đặc trưng giai cấp tiêu biểu nhất, những thói quen, sở thích, điệu bộ, tín ngưỡng, lời nói,…rút ra rồi kết hợp lại trong một chủ hiệu, một viên chức, một người thợ, thì nhà văn sẽ tạo ra được một điển hình và đó là nghệ thuật” (M. “Miệng ở Triết Giang, mặt ở Bắc Kinh, áo quần ở Sơn Tây” (Lỗ Tấn). ▪ Chọn lọc – Tái tạo: Căn cứ vào một nguyên mẫu và cải biến nó theo ý đồ nghệ thuật của mình. Nguyên mẫu ở đây chỉ cung cấp cho nhà văn một cốt truyện, một tình huống, một tính cách tiêu biểu nào đó.
Tóm lại, tư duy nghệ thuật là hình thức chiếm lĩnh thế giới một cách hình tượng, cảm tính, là sự tổng hợp hữu cơ giữa vô thức và ý thức, giữa lí tính và cảm tính và sự tạo dựng một thế giới vừa vô hình vừa hữu hình, vừa hư vừa thực, một thế giới mà ở đó đối tượng phản ánh và chủ thể sáng tạo đều cùng thể hiện rõ nét trong một chỉnh thể thống nhất. Hình tượng nghệ thuật 1. Phương tiện phản ánh hiện thực của nghệ thuật là hình tượng Đặc trưng của nghệ thuật là “sự mô phỏng tự nhiên”, tái tạo cuộc sống bằng hình tượng. “Nếu triết học nói bằng phép tam đoạn luận, nhà thơ nói bằng các hình tượng và bức tranh” (Bê-linx-ki).
Hình tượng nghệ thuật tái hiện đời sống trong các hiện tượng riêng biệt của nó, là thành quả của tư duy sáng tạo và hư cấu của nghệ sĩ. Hình tượng nghệ thuật vừa phản ánh hiện thức vừa bày tỏ tư tưởng, tình cảm đồng thời là sản phẩm sáng tạo của nhà văn. Hình tượng là một chỉnh thể nghệ thuật thống nhất: khách quan – chủ quan; khái quát – cụ thể; tạo hình – biểu hiện; hiện thực – ước lệ; hữu hình – vô hình. Đặc điểm và cấu trúc của hình tượng nghệ thuật.
Sự thống nhất biện chứng giữa tính khách quan và tính chủ quan Người nghệ sĩ có quyền hư cấu, tưởng tượng nhưng không được bịa đặt một cách tuỳ tiện chủ quan. Người nghệ sĩ phải là thư kí trung thành của thời đại mình, là người phát hiện chân lí đời sống bằng sự mẫn cảm của trái tim và trí tuệ. Người nghệ sĩ dùng hình tượng để bảo vệ cái đẹp, lên án cái xấu, tác động đến xúc cảm người đọc, giáo dục người đọc về mặt thẩm mĩ. “Tác phẩm nghệ thuật sẽ chết nếu nó miêu tả cuộc sống chỉ để miêu tả, nếu nó không có sự thôi thúc chủ quan mạnh mẽ nào đó có nguồn gốc trong tư tưởng bao trùm thời đại, nếu nó không phải là tiếng thét khổ đau hoặc lời ca tụng hân hoan, nếu nó không đặt ra những câu hỏi hoặc không trả lời những câu hỏi đó” (Bê-linx-ki).
Thống nhất giữa tính cụ thể và tính khái quát Tính cụ thể là đặc trưng quy định tính đặc thù của nghệ thuật.