Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KIẾN THỨC BẢN ĐỊA CỦA CÁC DÂN TỘC 1. Tổng quan về dân tộc 1. Khái niệm * Dân tộc: Thuật ngữ dân tộc được bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp cổ "ethnos" dùng để chỉ những cộng đồng người hình thành và phát triển trong quá trình tự 10 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c nhiên - lịch sử. Mỗi cộng đồng tộc người được đặc trưng bởi những dấu hiệu như: cùng chung tiếng nói, lãnh thổ, lối sống văn hoá và ý thức tự giác dân tộc.
Trong một số trường hợp, những dấu hiệu cùng chung lãnh thổ có thể đóng vai trò kém quan trọng hơn [6]. Theo nghĩa hẹp, thuật ngữ “dân tộc” dùng để chỉ một cộng đồng tộc người. Mỗi dân tộc có tính bền vững nội tại, được thống nhất bởi một số yếu tố đặc trưng như địa vực cư trú, ngôn ngữ, những đặc điểm văn hóa, đời sống kinh tế, ý thức dân tộc và nhờ đó người ta có thể phân biệt được dân tộc này với dân tộc khác, ví dụ như: dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Thái.Ở nước ta, từ“dân tộc” còn được thay thế bằng từ “người”, ví dụ: dân tộc Kinh còn được gọi là người Kinh. Một dân tộc được xác định không phụ thuộc vào số lượng người nhiều hay ít, vào trình độ phát triển, mà căn cứ vào tổng thể của một số nét đặc trưng (chung một ngôn ngữ, chung một lịch sử - nguồn gốc, đời sống văn hóa, ý thức tự giác dân tộc).
Một dân tộc có thể gồm nhiều nhóm địa phương, ví dụ: người Dao gồm Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Lô Gang, Dao Tiền, Dao Quần Trắng, Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn. Theo nghĩa rộng, dân tộc được hiểu là cộng đồng dân tộc - chính trị tức là dân tộc - quốc gia (Nation). Trong đó có nhiều dân tộc anh em cùng chung sống. Ví dụ: dân tộc Việt Nam có 54 dân tộc anh em, dân tộc Lào, dân tộc Campuchia.
Dân tộc hiểu theo nghĩa mọt quốc gia trong đó tổng hợp nhiều cộng đồng người (dân tộc - tộc người), được hình thành do nhu cầu tồn tại lịch sử lâu dài. Thành phần dân tộc của dân cư trên Trái Đất ngày nay là kết quả phát triển của lịch sử hàng nghìn năm của loài người trên Trái Đất. Ở mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử tồn tại những cộng đồng tộc người khác nhau. * Dân tộc đa số, dân tộc thiểu số Trên thế giới hiện nay, người ta thường dùng các thuật ngữ: Dân tộc bản địa (Thổ dân, Dân bản xứ), Dân tộc thiểu số bản địa, bộ lạc, bộ tộc, sắc tộc, tộc người, dân tộc thiểu số, dân tộc ít người.
Sự tồn tại nhiều thuật ngữ đó, do những 11 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c nguyên nhân gắn liền với sự phát triển của các dân tộc trên thế giới và sự xáo trộn của mỗi nước qua các thời kỳ biến thiên lịch sử. Những khái niệm trên không đơn giản chỉ là học thuật mà là vấn đề có nội dung chính trị của nó. Ở nước ta hiện nay đang dùng thuật ngữ dân tộc đa số và các dân tộc thiểu số. Dân tộc Việt Nam hoặc cộng đồng các dân tộc Việt Nam được dùng để chỉ tất cả các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam, có quốc tịch Việt Nam, không phân biệt nguồn gốc.
Khái niệm này đồng nghĩa với quốc gia đa dân tộc hay còn gọi là quốc gia - dân tộc. Xét trong phạm vi Quốc gia - dân tộc Việt Nam, thuật ngữ dân tộc đa số và dân tộc thiểu số, được hiểu thống nhất là:[6] - Dân tộc đa số là dân tộc có số người đông nhất trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tức là dân tộc Kinh (Việt), dùng thuật ngữ này là nói trên phạm vi cả nước chứ không là nói trên địa bàn vùng hoặc địa phương nào đó. - Dân tộc thiểu số, thuật ngữ này không đồng nghĩa với dân tộc chậm phát triển, càng không phải là dân tộc lạc hậu, khái niệm đó là chỉ những dân tộc có số người ít hơn so với dân tộc đa số. Trên thực tế, khái niệm “dân tộc thiểu số” chỉ có ý nghĩa biểu thị tương quan về dân số trong một quốc gia đa dân tộc.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc, thì khái niệm “dân tộc thiểu số” không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc. Địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc không phụ thuộc ở số dân nhiều hay ít, mà nó được chi phối bởi những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội và lịch sử của mỗi dân tộc. Như vậy, khái niệm “dân tộc thiểu số” dùng để chỉ những dân tộc có số dân ít, chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong một quốc gia đa dân tộc. Khái niệm “dân tộc thiểu số” cũng không có ý nghĩa biểu thị tương quan so sánh về dân số giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi khu vực và thế giới.
Một dân tộc có thể được quan niệm là “đa số” ở quốc gia này, đồng 12 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c thời có thể là “thiểu số” ở quốc gia khác. Chẳng hạn người Việt (Kinh) được coi là “dân tộc đa số” ở Việt Nam, nhưng lại được coi là “dân tộc thiểu số” ở Trung Quốc (vì chỉ chiếm tỉ lệ 1/55 dân tộc thiểu số của Trung Quốc); ngược lại người Hoa (Hán), được coi là “dân tộc đa số” ở Trung Quốc, nhưng lại là dân tộc thiểu số ở Việt Nam (người Hoa chiếm tỉ lệ 1/53 dân tộc thiểu số của Việt Nam). Rõ ràng, quan niệm về “dân tộc thiểu số” và “dân tộc đa số” cũng như nội hàm của chúng hiện nay còn có những vấn đề chưa thống nhất và nó cũng được vận dụng xem xét rất linh hoạt trong từng điều kiện cụ thể, tuỳ theo quan niệm và mối quan hệ so sánh về dân số trong mỗi quốc gia dân tộc. * Cộng đồng các dân tộc Khái niệm cộng đồng các dân tộc có thể được hiểu là một khái niệm phát sinh do kết hợp hơn một đến nhiều dân tộc trên một không gian lãnh thổ nhất định.
Mỗi dân tộc được hình thành và phát triển trong những điều kiện lịch sử nhất định với những đặc trưng cơ bản: cùng chung ngôn ngữ, đặc điểm văn hóa, địa bàn cư trú và ý thức tự giác dân tộc. Tất cả hợp thành một cộng đồng tộc người gắn bó với nhau trong truyền thống, nghĩa vụ và quyền lợi [23]. Các tiêu chí xác định dân tộc * Cùng chung lãnh thổ: (đây là điều kiện để hình thành cộng đồng kinh tế). Lãnh thổ được coi như một điều kiện vật chất cơ bản để hình thành các cộng đồng tộc người.
Cùng cư trú trên một lãnh thổ nhất định là điều kiện quan trọng để con người tiếp xúc, giao dịch với nhau. Những người cùng một xuất xứ thường chung cư trú gần nhau trên một địa vực nhất định. Những nhóm người không cùng một ngôn ngữ, không cùng xuất xứ nhưng sống cùng nhau trong một thời kỳ lịch sử lâu dài, họ có thể tạo thành một dân tộc thống nhất. * Cùng chung một ngôn ngữ: Ngôn ngữ không những là phương tiện giao tiếp, truyền tải thông tin mà còn là phương tiện để phát triển đời sống văn hóa, tinh thần của con người.
Tiếng mẹ đẻ là đặc trưng quan trọng nhất để xác định dân tộc. 13 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c * Chung đặc điểm văn hóa: Văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra được tích lũy qua nhiều thế hệ trong mối tương tác giữa con người - tự nhiên - xã hội. Mỗi dân tộc tồn tại trong và phát triển trong những hoàn cảnh tự nhiên và xã hội khác nhau vì vậy có những bản sắc văn hóa dân tộc khác nhau (thờ cúng, tín ngưỡng, lễ hội, quan niệm,. Văn hóa chính là chất keo gắn kết dân tộc.
* Ý thức dân tộc: ý thức tự giác dân tộc là tiêu chí quan trọng khi xác định thành phần dân tộc. Ý thức dân tộc chính là lòng tự hào dân tộc, là sự tự khẳng định nguồn gốc xuất xứ của mình. Mỗi người, dù sống trong lãnh thổ bị ngăn cách, văn hóa bị pha trộn, thậm chí tiếng mẹ đẻ đã mất thì ý thức dân tộc vẫn được duy trì [23]. Ngoài bốn tiêu chí chủ yếu trên, các nhà nghiên cứu còn đề cập tới một số khía cạnh khác: + Coi cộng đồng kinh tế như một dấu hiệu quan trọng để hình thành cộng đồng dân tộc.
Cộng đồng kinh tế thường dựa trên cộng đồng lãnh thổ kết hợp với cộng đồng quốc gia. Nó không phải được tạo ra từ nội bộ bên trong của tộc người mà từ mối quan hệ nội tại của các quốc gia. + Dấu hiệu tâm lý. Mỗi cộng đồng người thường có những biểu hiện tâm lý giống nhau trước các hiện tượng tự nhiên và xã hội cũng như cách ứng xử và phản ứng khác nhau trước một tình huống.
Quan niệm về dân tộc bản địa Dân tộc bản địa là nhóm người có một chiều dài lịch sử xuất thân từ một xã hội đã có mặt trên một lãnh thổ trước thời kỳ xâm lược và đô hộ của dân tộc khác. Họ tự nhận diện bản thân của họ có nguồn gốc khác biệt đối với nhóm dân tộc đang nắm quyền hành trên toàn lãnh thổ hay một phần lãnh thổ của họ. Họ là thành phần tộc người không có quyền lực trong một xã hội nhưng lúc nào cũng cương quyết bảo vệ, phát triển và chuyển đạt cho thế hệ tương lai, lãnh thổ do cha ông của họ để lại cũng như bản sắc dân tộc dựa trên mô hình văn hóa, hệ thống xã hội và qui chế luật tục mà họ xem đó là yếu tố quyết định trong cuộc sống của dân tộc. Liên Hợp Quốc quan niệm: “Dân tộc bản địa hay còn gọi là 14 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c thổ dân là nhóm người đã từng có mặt trên một lĩnh vực đất đai, trước ngày di dân của nhóm dân tộc khác vào lãnh thổ của họ” [37].
Tổng quan về kiến thức bản địa 1. Khái niệm KTBĐ Tri thức bản địa là những kiến thức địa phương của riêng một nền văn hóa hoặc cộng đồng nào đó. Nó có thể có những tên gọi khác như: “kiến thức địa phương”, “ kiến thức dân gian”, “kiến thức truyền thống” hoặc “kiến thức khoa học truyền thống”.