Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức nghiêm trọng đối với nhân loại, gây tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội và môi trường sinh thái toàn cầu. Tại Việt Nam, nơi có khoảng 2/3 dân số phụ thuộc vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, BĐKH với các hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán, rét đậm, lũ quét và xâm nhập mặn đã làm gia tăng rủi ro và tính dễ bị tổn thương của ngành nông nghiệp. Nhằm nâng cao năng lực ứng phó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Quyết định số 270/QĐ-BNN-KHCN ngày 05/9/2008 về Chương trình hành động thích ứng với BĐKH giai đoạn 2008 – 2020.
Khu vực miền núi phía Bắc nói chung và tỉnh Sơn La nói riêng mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa phân hóa sâu sắc thành mùa mưa và mùa khô. Trong đó, xã Long Hẹ (huyện Thuận Châu) là xã vùng III đặc biệt khó khăn, cách trung tâm huyện hơn 48 km, có địa hình núi cao hiểm trở, giao thông chia cắt và nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào nông - lâm nghiệp. Những năm gần đây, địa phương liên tục đối mặt với các hiện tượng thời tiết cực đoan như rét hại, sương muối, hạn hán thiếu nước tưới, lũ quét và sạt lở đất, làm bùng phát dịch bệnh trên cây trồng, sụt giảm năng suất và đe dọa trực tiếp đến sinh kế của nông dân. Dù các cấp ngành đã triển khai một số dự án khảo nghiệm giống mới, việc nghiên cứu và đánh giá vai trò của tri thức bản địa trong thích ứng BĐKH của đồng bào thiểu số tại chỗ, đặc biệt là người H'mông, vẫn còn thiếu vắng. Từ bối cảnh thực tiễn đó, tác giả Vừ A Sà thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp với đề tài "Tìm hiểu việc sử dụng kiến thức bản địa của đồng bào dân tộc H’mông trong sản xuất nông nghiệp tại xã Long Hẹ, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu".
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:
- Mục tiêu chung: Trên cơ sở nghiên cứu các kiến thức bản địa (KTBĐ) của đồng bào dân tộc H’mông tại xã Long Hẹ trong sản xuất nông nghiệp nhằm thích ứng với BĐKH, đưa ra định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả sử dụng KTBĐ, giúp người dân nâng cao năng lực ứng phó thiên tai hiện tại và tương lai.
- Mục tiêu cụ thể:
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng sản xuất nông nghiệp tại xã Long Hẹ.
- Tìm hiểu việc sử dụng các KTBĐ của đồng bào dân tộc H’mông trong sản xuất nông nghiệp để ứng phó với BĐKH.
- Đánh giá thuận lợi, khó khăn của đồng bào trong việc vận dụng KTBĐ và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng các hoạt động thích ứng.
- Đề xuất mô hình sản xuất nông nghiệp thích ứng BĐKH dựa trên KTBĐ tại địa phương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đồng bào dân tộc H’mông sử dụng KTBĐ trong sản xuất nông nghiệp để thích ứng với BĐKH và các biểu hiện của BĐKH tại xã Long Hẹ.
- Phạm vi không gian: Các hộ gia đình sản xuất nông nghiệp tại 10 bản đại diện thuộc xã Long Hẹ, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
- Phạm vi thời gian: Số liệu sơ cấp được thu thập từ ngày 20/02/2019 đến ngày 20/05/2019; số liệu thứ cấp đánh giá hiện trạng kinh tế - xã hội tính đến năm 2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận thiết lập khung lý luận dựa trên các khái niệm và công trình nghiên cứu chuẩn tắc về biến đổi khí hậu và tri thức địa phương:
- Khung khái niệm về BĐKH và Thích ứng: Sử dụng định nghĩa từ Công ước khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH (UNFCCC), Tổ chức Chiến lược Cắt giảm Thảm họa của Liên Hợp Quốc (ISDC, 2008) và Ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC). Tác giả vận dụng phân loại của IPCC (1995) gồm 8 nhóm phương pháp thích ứng: (1) Chấp nhận tổn thất; (2) Chia sẻ tổn thất; (3) Làm thay đổi nguy cơ; (4) Ngăn ngừa tác động; (5) Thay đổi cách sử dụng; (6) Thay đổi hoặc chuyển địa điểm; (7) Nghiên cứu; (8) Giáo dục, thông tin và khuyến khích thay đổi hành vi.
- Thích ứng dựa vào cộng đồng (CBA): Dựa trên thang đo 6 mức độ tham gia của cộng đồng địa phương theo Pretty (1995), từ tham gia bị động, tham gia cung cấp thông tin, tham gia qua thảo luận, tham gia vì động cơ vật chất, tham gia ở chức năng nhất định, đến tham gia có tính tương tác.
- Kiến thức bản địa (Indigenous Knowledge - KTBĐ): Hệ thống tri thức tích lũy qua nhiều thế hệ, được kiểm nghiệm thực tế, mang tính thích nghi cao với điều kiện sinh thái - văn hóa bản địa, đóng vai trò nền tảng trong tự cường sinh kế và giảm tính dễ bị tổn thương.
- Khung pháp lý quốc gia: Chương trình hành động theo Quyết định 270/QĐ-BNN-KHCN, các cam kết Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC/INDC), Kế hoạch hành động giảm nhẹ phát thải phù hợp điều kiện quốc gia (NAMA).
Phương pháp nghiên cứu thực địa và xử lý dữ liệu được tiến hành đồng bộ:
- Thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập báo cáo thống kê, niên giám, báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội, báo cáo phòng chống thiên tai và phát triển nông - lâm nghiệp từ UBND tỉnh Sơn La, Sở NN&PTNT Sơn La, UBND huyện Thuận Châu, Phòng NN&PTNT huyện và UBND xã Long Hẹ.
- Thu thập dữ liệu sơ cấp:
- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA): Khảo sát thực địa, quan sát cảnh quan canh tác và tổ chức thảo luận nhóm tập trung.
- Điều tra bảng hỏi nông hộ: Thực hiện chọn mẫu ngẫu nhiên tại 10 bản vùng sâu, vùng xa thuộc xã Long Hẹ (gồm các bản: Cán Tỷ A, Cán Tỷ B, Pú Chứn, Pú Chắn, Pá Púa, Nặm Búa, Cha Mạy A, Co Nhừ, Pá Uổi, Long Hẹ). Dung lượng mẫu khảo sát là $n = 50$ hộ ($5$ hộ/bản).
- Phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn trực tiếp các già làng, trưởng bản và người có uy tín lâu năm trong sản xuất để ghi chép kinh nghiệm dân gian.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn cán bộ khuyến nông, cán bộ quản lý nông nghiệp địa phương.
- Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Dữ liệu điều tra được tổng hợp, làm sạch và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel; áp dụng phương pháp thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình) và phương pháp so sánh định tính - định lượng để làm rõ biến động khí hậu và hiệu quả vận dụng tri thức bản địa.
Nội dung chính theo từng phần của khóa luận
Khóa luận được kết cấu thành 5 phần nội dung chính, phản ánh đầy đủ tiến trình nghiên cứu từ cơ sở lý luận đến kết quả khảo sát thực địa.
Phần 1: Mở đầu
Phần này trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh BĐKH đe dọa vùng đồng bào thiểu số; xác định rõ mục tiêu chung, 4 mục tiêu cụ thể; nêu bật ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung hệ thống tư liệu về KTBĐ thích ứng BĐKH, cùng ý nghĩa thực tiễn trong công tác quy hoạch mùa vụ, phòng tránh thiên tai tại xã Long Hẹ.
Phần 2: Tổng quan nghiên cứu
Tác giả hệ thống hóa cơ sở lý luận về nguyên nhân tự nhiên và nhân sinh của BĐKH, các mô hình thích ứng dựa vào cộng đồng và giá trị của KTBĐ. Về cơ sở thực tiễn, tác giả tổng hợp các chỉ số BĐKH toàn cầu (IPCC, Copernicus EU năm 2016) và diễn biến tại Việt Nam (bão dị thường, nhiệt độ tăng, nước biển dâng). Đồng thời, tác giả phân tích sâu các giá trị văn hóa gắn liền với bảo vệ thiên nhiên của người H'mông tại xã Long Hẹ:
- Phong tục đón Tết cổ truyền: Ăn Tết theo mùa vụ (khoảng 1 tháng trước Tết Nguyên đán), thực hiện nghi thức làm bánh dày tượng trưng cho mặt trời - mặt trăng, tục quét nhà bằng 3 cây tre trúc buộc chỉ đỏ để xua vận hạn, dán giấy bạc bằng vỏ cây nhớt lên cột nhà và nông cụ sản xuất để tri ân công cụ lao động.
- Lễ cúng thần rừng (ua nếnh tếnh tỉa xếch téc xếch chaw): Tổ chức vào cuối tháng Giêng hoặc đầu tháng 2 Âm lịch tại rừng cấm dưới sự chủ trì của thầy cúng (chí nếnh) và chủ rừng. Lễ vật gồm gà trống, rượu, hương; tiến hành cúng 2 lần (khi vật tế còn sống và sau khi nấu chín), bôi tiết gà lên gốc cây cổ thụ. Nghi lễ kết thúc bằng việc toàn bản thống nhất bản hương ước bảo vệ rừng.
- Lễ mừng cơm mới (no mó plê chiết) và mừng ngô mới (no pót kư chiếc): Tỏ lòng biết ơn tổ tiên, cấm ăn nông sản mới trước khi dâng cúng, gắn kết gia đình với chu kỳ sinh trưởng của cây lương thực.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nêu chi tiết đối tượng khảo sát (hộ dân tộc H'mông), phạm vi không gian (10 bản đại diện tại xã Long Hẹ), thời gian thực hiện (tháng 02/2019 đến tháng 05/2019), quy trình thiết kế bảng hỏi RRA với cỡ mẫu $n=50$ hộ và phương pháp xử lý dữ liệu trên Microsoft Excel.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu
Phần này tập trung phân tích thực trạng địa bàn, đánh giá tác động BĐKH và hệ thống hóa các kinh nghiệm bản địa của người H'mông:
1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Long Hẹ (năm 2018):
- Địa bàn và dân cư: Tổng diện tích tự nhiên đạt $11.558$ ha, chia thành 3 tiểu vùng độ cao: vùng cao ($500 - 1.670,2$ m, chiếm $30%$), vùng sườn núi ($500 - 1.000$ m, chiếm $54%$) và vùng thấp ($<500$ m, chiếm $10%$). Toàn xã có 19 bản, 6 dân tộc với $864$ hộ, $4.427$ nhân khẩu. Người H'mông chiếm đa số với $528$ hộ ($61,11%$), tiếp theo là dân tộc Kháng ($21,41%$), Thái ($16,78%$), Kinh ($0,46%$), Mường ($0,12%$) và Khơ Mú ($0,12%$).
- Hiện trạng kinh tế: Tỷ lệ hộ nghèo chiếm $60,18%$ ($520$ hộ), hộ cận nghèo chiếm $9,02%$ ($78$ hộ); thu nhập bình quân đầu người đạt $10,8$ triệu đồng/người/năm.
| Phân loại mục đích sử dụng đất |
Diện tích (ha) |
Cơ cấu (%) |
| Đất trồng lúa |
734,26 |
7,50 |
| Đất trồng ngô |
519,10 |
4,90 |
| Đất trồng sắn |
220,84 |
2,12 |
| Đất trồng cây lâu năm |
339,90 |
3,26 |
| Rừng phòng hộ |
1.470,30 |
14,13 |
| Rừng đặc dụng |
1.231,30 |
11,50 |
| Rừng sản xuất |
3.577,10 |
34,30 |
| Đất phi nông nghiệp (đất ở 103 ha) |
225,62 |
2,21 |
| Đất chưa sử dụng |
1.875,50 |
18,02 |
| Tổng diện tích |
11.558,00 |
100,00 |
- Sản xuất nông - lâm nghiệp năm 2018:
- Cây lương thực: Lúa nương đạt diện tích $649,7$ ha, năng suất $10,12$ tạ/ha, sản lượng $657,59$ tấn; lúa ruộng đạt sản lượng $259,55$ tấn (tổng sản lượng lúa $917,14$ tấn). Sản lượng ngô đạt $1.264,85$ tấn; sắn đạt $641,3$ tấn.
- Cây ăn quả và cây dược liệu: Chanh leo trồng mới $13,6$ ha, sản lượng bán ra thị trường 16 tấn (giá bán $10.000$ đ/kg, giá trị ước đạt 176 triệu đồng). Cây Sơn tra (Táo mèo) có tổng diện tích $567,8$ ha, diện tích cho thu hoạch là $350$ ha với năng suất $2,5$ tấn/ha (tổng sản lượng 875 tấn; sản lượng tiêu thụ 625 tấn, còn tồn đọng 250 tấn do giá thấp: loại 1 đạt $4.000$ đ/kg, quả sô $2.000$ đ/kg).
- Chăn nuôi: Tổng đàn gia súc, gia cầm năm 2018 gồm $527$ con trâu, $1.239$ con bò, $12$ con ngựa, $2.308$ con lợn, $729$ con dê (giảm mạnh 717 con do dịch bệnh và lưu thông thị trường), $592$ con chó và $14.515$ con gia cầm. Diện tích nuôi thủy sản đạt $30,98$ ha, sản lượng đạt $71,104$ tấn.
2. Đánh giá tác động của thiên tai và hiện tượng thời tiết cực đoan:
Khí hậu biến đổi rõ rệt với mùa mưa ngắn nhưng cường độ lớn, mùa khô kéo dài gây cạn kiệt nguồn nước. Năm 2018, mưa lớn gây ngập úng $28.457,2\text{ m}^2$ lúa ruộng tại các bản Nông Cốc B, Nậm Nhứ, Nà Nôm (trong đó riêng ngập úng do tích nước thủy điện Nậm Hóa I tại bản Nà Nôm là hơn $11.000\text{ m}^2$). Sạt lở đất nghiêm trọng xảy ra trên tuyến Tỉnh lộ 108 (km5 sụt lún tại bản Phiêng Mặt, km6 sạt ta luy âm), tuyến Há Tầu (sạt ta luy dương) và đường di tích (km2 sạt ta luy âm, km4 sạt ta luy dương).
3. Hệ thống kiến thức bản địa của người H'mông trong sản xuất:
- Dự báo thời tiết: Dựa vào quan sát hướng gió núi, biến đổi màu sắc mây trời, sương muối trên đỉnh núi và tập tính của côn trùng, chim muông để chủ động lịch gieo cấy.
- Chọn và bảo tồn giống bản địa: Lựa chọn giống lúa nương, ngô địa phương có vỏ bọc kín, khả năng chịu hạn, chịu lạnh và chống sâu bệnh tốt.
- Kỹ thuật canh tác và bảo vệ đất: Canh tác xen canh ngô - đậu tương/rau cải trên đất dốc; làm đất theo đường đồng mức; xếp đá tạo bờ giữ đất; ủ phân chuồng hoai mục bón lót để giữ ẩm.
- Thu hoạch và bảo quản nông sản: Thu hoạch đúng độ chín; phơi khô tự nhiên; bảo quản bắp ngô và hạt giống bằng cách treo gác bếp tận dụng khói và bồ hóng để xua đuổi mối mọt, giữ độ nảy mầm cho vụ sau.
- Đề xuất mô hình cây trồng thích ứng: Khuyến nghị phát triển mô hình trồng cây Sơn tra (Táo mèo) trên đất dốc vùng cao và mô hình trồng cây Sa nhân tím dưới tán rừng phòng hộ/sản xuất.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tóm tắt thực trạng tác động của BĐKH tại xã Long Hẹ, khẳng định giá trị thực tiễn của KTBĐ người H'mông; kiến nghị chính quyền địa phương hỗ trợ vốn vay tín dụng, mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản (đặc biệt là Táo mèo) và lồng ghép KTBĐ vào chương trình khuyến nông xã.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính kèm dữ liệu thực tế
Khóa luận đã làm rõ bức tranh toàn diện về tự nhiên, xã hội và sản xuất nông nghiệp tại địa bàn xã Long Hẹ năm 2018:
- Tỷ lệ nghèo đói còn rất cao ($60,18%$ hộ nghèo, $9,02%$ hộ cận nghèo); trình độ canh tác chủ yếu dựa vào nương rẫy với $649,7$ ha lúa nương và $519,1$ ha ngô.
- Xác định mức độ tổn thương sinh kế do thiên tai: Năm 2018 có $28.457,2\text{ m}^2$ diện tích trồng lúa bị ngập úng, hạ tầng giao thông Tỉnh lộ 108 bị sạt lở chia cắt; đàn dê sụt giảm $717$ con do biến đổi thời tiết và dịch bệnh.
- Ghi nhận diện tích cây ăn quả thích ứng: $567,8$ ha cây Sơn tra ($350$ ha cho sản phẩm, sản lượng 875 tấn) và $13,6$ ha chanh leo (sản lượng 16 tấn), chứng minh tiềm năng chuyển đổi cơ cấu cây trồng chịu hạn lạnh.
Giải pháp và kiến nghị của tác giả
- Về kỹ thuật canh tác: Khuyến khích duy trì các biện pháp giữ đất dốc truyền thống, xen canh gối vụ và bảo tồn nguồn gen cây lương thực bản địa chịu hạn.
- Về mô hình sinh kế: Nhân rộng mô hình nông - lâm kết hợp gồm cây Sơn tra và cây Sa nhân tím dưới tán rừng nhằm nâng cao độ che phủ rừng và tạo thu nhập bền vững.
- Về cơ chế - chính sách: Đề nghị Ngân hàng Chính sách Xã hội tăng hạn mức giải ngân (năm 2018 đã giải ngân $986$ triệu đồng qua các hội đoàn thể); chính quyền cần hỗ trợ tìm kiếm thị trường tiêu thụ ổn định cho quả Sơn tra nhằm tránh tình trạng tồn đọng nông sản do giá giảm sâu ($2.000 - 4.000$ đ/kg).
Đóng góp của đề tài
Tác giả đã hệ thống hóa có cấu trúc toàn bộ kho tàng tri thức bản địa của người H'mông tại Long Hẹ từ dự báo thời tiết, kinh nghiệm chọn giống, phương thức canh tác đất dốc đến kỹ thuật bảo quản nông sản gác bếp; cung cấp luận cứ thực tiễn giúp chính quyền cơ sở lồng ghép tri thức tộc người vào kế hoạch phòng chống thiên tai và thích ứng BĐKH tại địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian ngắn (từ 20/02/2019 đến 20/05/2019); cỡ mẫu điều tra nông hộ còn dừng ở mức $n = 50$ hộ trên địa bàn 1 xã vùng cao, do đó chưa bao quát hết sự biến động khí hậu theo chu kỳ nhiều năm và chưa phân tích sâu khía cạnh chuỗi giá trị thương mại cho các sản phẩm nông sản bản địa.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng địa bàn khảo sát sang các xã vùng cao lân cận thuộc huyện Thuận Châu; nghiên cứu sâu các giải pháp công nghệ chế biến sau thu hoạch đối với sản phẩm quả Sơn tra và Sa nhân tím nhằm nâng cao giá trị gia tăng và ổn định đầu ra cho đồng bào dân tộc thiểu số.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên và học viên cao học: Chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp, Phát triển Nông thôn, Quản lý Tài nguyên Môi trường và Dân tộc học tham khảo về phương pháp luận RRA, kỹ năng điều tra nông hộ vùng cao và cách tiếp cận thích ứng dựa vào cộng đồng (CBA).
- Cán bộ khuyến nông và chính quyền địa phương: Tham khảo số liệu hiện trạng kinh tế - xã hội xã Long Hẹ năm 2018, các kinh nghiệm canh tác đất dốc truyền thống và định hướng nhân rộng mô hình cây Sơn tra, Sa nhân thích ứng với thời tiết cực đoan.
Câu hỏi thường gặp
1. Mẫu điều tra thực địa của khóa luận được phân bổ như thế nào?
Tác giả chọn mẫu ngẫu nhiên gồm 50 hộ nông dân phân bổ đều trên 10 bản vùng sâu, xa nhất của xã Long Hẹ: Cán Tỷ A, Cán Tỷ B, Pú Chứn, Pú Chắn, Pá Púa, Nặm Búa, Cha Mạy A, Co Nhừ, Pá Uổi và Long Hẹ (mỗi bản điều tra 5 hộ).
2. Nghi lễ cúng thần rừng của người H'mông tại Long Hẹ diễn ra vào thời gian nào và có quy trình tế lễ ra sao?
Nghi lễ (ua nếnh tếnh tỉa xếch téc xếch chaw) diễn ra vào cuối tháng Giêng hoặc đầu tháng 2 Âm lịch tại khu rừng cấm của bản. Thầy cúng (chí nếnh) và chủ rừng tiến hành dâng tế gà trống, rượu và giấy bản qua 2 lần cúng (khi vật tế còn sống và sau khi nấu chín), đồng thời nhúng lông gà vào tiết dán lên gốc cây cổ thụ để báo cáo thần rừng, trước khi toàn thôn họp thống nhất bản hương ước bảo vệ rừng.
3. Thực trạng tiêu thụ và sản lượng cây Sơn tra (Táo mèo) tại xã Long Hẹ năm 2018 ra sao?
Năm 2018, toàn xã có $567,8$ ha Sơn tra, trong đó $350$ ha cho thu hoạch với năng suất $2,5$ tấn/ha, tổng sản lượng đạt 875 tấn. Do giá thu mua xuống thấp (quả loại 1 đạt $4.000$ đ/kg, quả sô $2.000$ đ/kg), người dân chỉ tiêu thụ được 625 tấn, còn tồn đọng 250 tấn không bán được.
4. Những dạng thiên tai và sạt lở cụ thể nào được ghi nhận tại Long Hẹ trong năm 2018?
Mưa lớn kéo dài gây ngập úng $28.457,2\text{ m}^2$ lúa ruộng (bao gồm hơn $11.000\text{ m}^2$ ngập do thủy điện Nậm Hóa I tại bản Nà Nôm); sạt lở ta luy âm và sụt lún nghiêm trọng tuyến Tỉnh lộ 108 tại km5 (bản Phiêng Mặt) và km6; sạt lở ta luy dương tuyến Há Tầu và sạt lở hai phía ta luy trên tuyến đường di tích tại km2 và km4.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Vừ A Sà đã phản ánh chân thực thực trạng sản xuất nông nghiệp và tác động tiêu cực của BĐKH tại xã vùng cao Long Hẹ, huyện Thuận Châu năm 2018. Công trình đã làm nổi bật vai trò cốt lõi của tri thức bản địa người H'mông trong việc chủ động dự báo thời tiết, giữ đất nương dốc, chọn giống và bảo quản nông sản truyền thống. Các đề xuất phát triển mô hình kinh tế nông - lâm kết hợp như cây Sơn tra và Sa nhân tím mang lại giá trị thực tiễn thiết thực cho công tác hoạch định chính sách sinh kế bền vững tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc.