MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nước ta hiện nay có khoảng 122.500 ha chè, đứng thứ 5 thế giới về diện tích. Nhưng thị phần chè của Việt Nam lại khá khiêm tốn trong xuất khẩu chè thế giới, một phần do chất lượng thấp không đáp ứng yêu cầu về chất lượng cũng như an toàn theo tiêu chuẩn của nhiều nước; một phần do năng suất, sản lượng không cao [1]. Đây là một tồn tại lớn của ngành chè nhiều năm nay, nguyên nhân chính là sự phát triển quá ồ ạt của các cơ sở chế biến chè, sự thu mua ồ ạt chè nguyên liệu không phân loại, không kiểm tra chất lượng của thương lái một số nước trong đó có Trung Quốc qua đường tiểu ngạch, làm cho người dân bỏ các mô hình chè an toàn, tăng diện tích chè ồ ạt nhưng chất lượng chè lại không đảm bảo [2].
Chè bẩn, chè không rõ nguồn gốc rất nhiều, lại thiếu chè thương hiệu, chè sạch, chè ngon, dẫn đến tình trạng, chè xuất khẩu ít, giá chè thấp, khan hiếm nguyên liệu. Do vậy để có nguyên liệu sản xuất nhiều nhà máy trong nước thu mua nguyên liệu mà không quan tâm đến chất lượng chè đầu vào, không kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, dư lượng kim loại nặng cũng như các nguy cơ không an toàn khác. Bên cạnh đó người dân trồng chè thì chỉ biết lợi nhuận trước mắt, chạy đua về mặt diện tích và sản lượng mà không chú trọng đến chất lượng. Cùng với đó là thói quen sản xuất của người dân, bóc lột đất, bón phân, phun thuốc làm sao cho chè trông đẹp mắt, hái được nhiều.
So sánh với việc sản xuất chè an toàn theo các tiêu chuẩn của VietGAP, Quyết định, quy chuẩn của Bộ Nông nghiệp lại khá tốn kém, cầu kỳ và đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao. Cây chè lại là cây kén đất, có thời gian kiến thiết cơ bản dài, nhiều sâu, bệnh nên việc đầu tư một vườn chè với thời gian dài, nhiều rủi ro, lại khó tiêu thụ sẽ làm nhiều người trồng không muốn thay đổi thói quen sản xuất cũ. Bá Xuyên là một đơn vị hành chính cấp xã thuộc thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Xã này có diện tích là 8,67 km², dân số là 5.
Tuyến xe buýt số 9 chạy tuyến Trại Cau - TPTN - Sông Công - Bãi Bông (Phổ Yên) đi qua địa h 2 bàn xã theo tỉnh lộ 262. Đặc biệt năm 2019, trên địa bàn xã Bá Xuyên đang triển khai xây dựng Cụm công nghiệp Bá Xuyên và một phần của KCN 2 Sông Công, đây là tiền đề để phát triển kinh tế - xã hội thành phố Sông Công cũng như tỉnh Thái Nguyên[3]. Cây chè đã trở thành một trong những cây trồng quan trọng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân trong địa bàn xã. Những năm trước, tình hình tiêu thụ chè, xuất khẩu chè rất tốt, nhưng những năm gần đây yêu cầu chè ngày một cao hơn về chất lượng, mẫu mã,…chỉ có thể bán được chè chất lượng cao, đảm bảo an toàn thực phẩm, nhất là các sản phẩm chè xuất khẩu.
Sản phẩm chè của nước ta đang phải cạnh tranh gay gắt với sản phẩm của các nước có quy trình sản xuất tiên tiến [4]. Do đó sản xuất chè theo hướng an toàn trên địa bàn xã Bá Xuyên đã có bước phát triển, song kết quả chưa cao và chưa tương ứng với tiềm năng hiện có. Các hộ trồng chè vẫn chưa kiểm soát được dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, vi sinh vật và kim loại nặng trong đất gây nên hiện tượng an toàn vệ sinh thực phẩm kém chất, lượng chè chưa cao, mẫu mã không đẹp, chuyển giao công nghệ trong sản xuất, thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch còn hạn chế dẫn đến tình trạng giá chè thấp, khó tiêu thụ và cây chè không phát triển hết tiềm năng[11]. Như vậy thực trạng phát triển sản xuất chè an toàn ở xã Bá Xuyên như thế nào? Giải pháp nào để thúc đẩy phát triển sản xuất chè an toàn tương xứng với ưu đãi của thiên nhiên dành cho xã? Đề tài: “Đánh giá thực trạng sản xuất chè và đề xuất xây dựng mô hình chè VietGAP tại xã Bá Xuyên, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên” sẽ góp phần trả lời các câu hỏi trên.
Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Đánh giá thực trạng phát triển sản xuất chè an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP qua đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất chè an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP tại xã Bá Xuyên, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể - Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất chè an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP. h 3 - Đánh giá thực trạng phát triển sản xuất chè an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP tại xã Bá Xuyên, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất chè an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP tại xã Bá Xuyên, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của Xã Bá Xuyên 2. Điều kiện tự nhiên 2.Vị trí địa lý Bá Xuyên là một đơn vị hành chính cấp xã thuộc thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
Xã này có diện tích là 8,67 km², dân số là 5. Đây là nơi có 10 ha trồng chè theo Dự án thử nghiệm trồng chè cành của Sở khoa học – công nghệ Thái Nguyên. Tuyến xe buýt số 9 chạy tuyến Trại Cau - TPTN - Sông Công - Bãi Bông (Phổ Yên) đi qua địa bàn xã theo tỉnh lộ 262. Đặc biệt năm 2019, trên địa bàn xã Bá Xuyên đang triển khai xây dựng Cụm công nghiệp Bá Xuyên và một phần của KCN 2 Sông Công, đây là tiền đề để phát triển kinh tế - xã hội thành phố Sông Công cũng như tỉnh Thái Nguyên.
Đây là cơ hội lý tưởng để các nhà đầu tư có thể đến và nghiên cứu. Với vị trí địa lý và diện tích đất nông nghiệp cũng như mạng lưới liên kết như vậy, Bá Xuyên có điều kiện thuận lợi phát triển sản xuất nông sản hàng hóa. Đặc là cây chè, cây trồng truyền thống của xã, là cây mang lại kinh tế chính cho người nông dân. Sản phẩm chè có thể lưu thông với thành phố Thái Nguyên và các tỉnh Tuyên Quang, Phú Thọ, Hà Nội cũng như thuận lợi xuất khẩu ra ngoài.
Địa chất - Địa hình: Xã Bá Xuyên nằm phía Tây Bắc thành phố Sông Công, phía Bắc giáp thành phố Thái Nguyên phía Đông giáp xã Tân Quang và phường Bách Quang, phía Tây giáp xã Bình Sơn, phía Nam giáp phường Lương Châu. Tổng diện tích tự nhiên là 8,6727 Km2. Địa hình mang đặc điểm của miền trung du, nền dốc dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây. Khí hậu thời tiết Xã Bá Xuyên thuộc vùng trung du Bắc Bộ.
Nhiệt độ không khí trung bình 23 °C, nhiệt độ tháng cao nhất là 28 °C, nhiệt độ tháng thấp nhất là 16,1 °C, nhiệt độ cao tuyệt đối là 39,4 °C và nhiệt độ thấp tuyệt đối là 3 °C. h 5 Độ ẩm trung bình năm (%): 82%, độ ẩm trung bình tháng cao nhất là 86%, độ ẩm trung bình tháng thấp nhất là 78%, độ ẩm thấp tuyệt đối là 16%. Lượng mưa trung bình hàng năm là 2168 mm, số ngày mưa hàng năm là 142 ngày, lượng mưa tháng lớn nhất là 443 mm, lượng mưa tháng nhỏ nhất 22 mm, số ngày mưa trên 50 mm là 12 ngày, số ngày mưa trên 100 mm là 2-3 ngày, lượng mưa ngày lớn nhất là 353 mm, lượng mưa tháng lớn nhất là 1103 mm, lượng mưa tăng dần từ đầu mùa đến cuối mùa và đạt tới mức lớn nhất vào tháng 8. Thủy văn Xã Bá Xuyên chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi hệ thống sông của thành phố Sông Công bắt nguồn từ vùng Đèo Khế, tỉnh Thái Nguyên, chảy theo hướng Tây Bắc- Đông Nam.
Sau khi ra khỏi hồ Núi Cốc ở phía Tây thành phố Thái Nguyên, nó chia thành hai nhánh. Nhánh chính chảy qua trung tâm thành phố Sông Công, qua thị xã Phổ Yên để hội lưu với sông Cầu từ bên phải tại ranh giới ba xã Thuận Thành (thị xã Phổ Yên), Trung Giã (huyện Sóc Sơn, Hà Nội) và Hợp Thịnh (huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang). Nhánh phụ nhỏ hơn chảy qua phía Bắc thành phố Sông Công, huyện Phú Bình rồi chảy vào thị xã Phổ Yên để nối với sông Cầu tại ranh giới ba xã Tân Phú, Thuận Thành (thị xã Phổ Yên), Đại Thành (huyện Hiệp Hòa). Sông này dài 96 km.
Diện tích lưu vực 951 km², cao trung bình 224 m, độ dốc trung bình 27,3%, mật độ sông suối 1,20 km/km². Tổng lượng nước 0,794 km³ ứng với lưu lượng trung bình năm 25 m³/s, môđun dòng chảy năm 26 l/s. Mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 10, chiếm 74,7% lượng nước cả năm; tháng 8 có lượng dòng chảy lớn nhất chiếm 19,30% lượng nước cả năm; tháng cạn kiệt nhất chiếm 1,8% lượng nước cả năm. Điều kiện đất đai Xã Bá Xuyên có tổng diện tích tự nhiên là 8,6727 km² ha, chia thành các loại đất như sau: - Nhóm đất đỏ vàng (Feralit): là nhóm đất chiến phần lớn diện tích trong địa bàn xã (61%), đặc điểm của loại đất này là hàm lượng mùn và đạm thấp, hơi chua.
Thích hợp với phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả và trồng rừng. - Đất đỏ vàng trên đá biến chất và đất sét (Fs) chiếm 18%, loại đất này có tỷ lệ đạm và mùn trung bình, môi trường có phản ứng chua. Có khả năng phát triển cây h 6 công nghiệp chè, cây ăn quả và phát triển đồng cỏ phục vụ chăn nuôi đại gia súc. - Đất khác: Feralit trên đất đá vôi Fk, Fv, Fl có tầng dầy trung bình, có tỷ lệ đạm và mùn trung bình.
Có khả năng phát triển cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày (mía, lạc, đậu tương,. - Nhóm đất dốc tụ: phân bố rải rác ở, sông suối, thành phần cơ giới thô, lẫn sỏi đá, nghèo mùn, đạm trung bình, có khả năng cải tạo thâm canh. - Những loại đất này rất thích hợp cho phát triển các loại cây lâm nghiệp, cây công nghiệp lâu năm, khí hậu đất đai của huyện phù hợp với phát triển sản xuất chè, nhất là hiện nay định hướng quy hoạch phát triển sản xuất chè theo hướng VietGAP, mang lại chất lượng chè tốt hơn. Điều kiện kinh tế - xã hội 2.
Hiện trạng sử dụng đất Tổng diện tích tự nhiên của xã là 8,6727 km².