CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE Ô NHIEM MOI TRƯỜNG BIEN TRONG HOAT DONG HANG HAI VA PHAP LUAT VE KIEM SOAT Ô NHIEM MOI TRUONG BIEN TRONG HOAT DONG HANG HAI 1. Lý luận về 6 nhiễm môi trường bién trong hoạt động hang hải 1. Khái niệm ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải UNCLOS không xác định ranh giới để làm cơ sở xác định phạm vi không gian của biển dé phân định giữa đất liền và biển mà chỉ xác định các vùng biển với các cơ chế pháp lý khác nhau. Các vùng biển theo UNCLOS thuộc chủ quyên, quyền chủ quyền của quốc gia ven biển gồm nội thuỷ, lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc kinh tế và thềm lục địa và các vùng biển nằm ngoài quyền tài phán quốc gia gồm biển cả và vùng.
UNCLOS cũng không đưa định nghĩa về “môi trường biển” mà chỉ có định nghĩa về “ô nhiễm môi trường biển là việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển, bao gồm cả các cửa sông, khi việc đó gây ra hoặc có thé gây ra những tac hại như gây tôn hại đến nguồn lợi sinh vật, và đến hệ động vật và hệ thực vật biển, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, kế cả việc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác, làm biến đổi chất lượng nước biển về phương diện sử dụng nó và làm giảm sút các giá trị mỹ cảm của biển”. Qua định nghĩa này có thé xác định về các yếu tố của “môi trường biển” là đối tượng bị “ô nhiễm”, đó là nước biên, nguồn lợi sinh vật, hệ động vật và hệ thực vật biển, giá trị mỹ cảm biển. Tuy nhiên, từ khái niệm này không thể xác định rõ được định nghĩa đầy đủ về môi trường biển, do nó chủ yếu dé cập đến các đối tượng và các thành phần chịu tác động có hại “ô nhiễm” từ các hoạt động cua con người ma không dé cập đến các thành té khác. Hướng dẫn Montreal và Chương trình Nghị sự 21 đã làm rõ thêm về “môi trường biển” với mức độ hoàn thiện hơn cả về phạm vi không gian và tính năng của nó.
Hướng dẫn Montreal ngoài xác định phạm vi không gian có đưa thêm chức năng của môi trường biển “Môi trường biển có nghĩa là khu vực biển mở rộng khối nước đến giới của hạn của khu vực nước ngọt và bao gồm vùng đới gian triều và đầm lầy nước mặn. Giới hạn của khu vực nước ngọt có nghĩa là những nơi có nước ngọt ở thuỷ triều thấp và khu vực dòng chảy có nồng độ nước ngọt thấp và khi đó độ mặn tăng lên đáng kế do sự hiện diện của nước mặn”. Theo Chương trình Nghị sự 21, phần bảo vệ môi trường đã xác định “Môi trường biển bao gồm đại đương và tat cả các vùng biển và các vùng ven bién liền kề tạo thành một tong thé thống nhất, là thành phần thiết yếu của hệ thống hỗ trợ sự sông toàn cau va là tài sản hữu ích mang lại cơ hội phát triển bền vững”. Định nghĩa này nhân mạnh đến yếu tố tự nhiên của môi trường thiên nhiên và vai trò của chúng đối với sự sống và sự phát triển.
Luật bảo vệ môi trường năm 2020 của Việt Nam không đưa ra định nghĩa về “môi trường biển” nhưng có định nghĩa về môi trường, bên cạnh vật chất stự nhiên đã đưa cả vật chất “nhân tạo”, theo đó, “Môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, sự ton tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên”. Từ các định nghĩa trên có thể xác định “môi trường biển bao gồm các vùng biển, đại dương va vùng ven biển chứa đựng các tài nguyên sinh vật, không sinh vật có quan hệ mật thiết với nhau, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, sự ton tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên”. Trong luận văn này này, bảo vệ môi trường biển được hiểu là việc thực hiện các biện pháp để bảo vệ các thành phần môi trường biển không bị ô nhiễm do tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của con người. Trước tiên cần có sự phân biệt giữa ô nhiễm môi trường biển với nhiễm bân môi trường biển.
Day là hai khái niệm không hoàn toàn đồng nhất mặc dù giữa chúng có mối liên hệ nhất định. Nhiễm ban môi trường biển ám chỉ sự hiện diện hay tích tụ các chất bẩn hoặc các hóa chất độc hại có trong môi trường biển. Nhiễm ban môi trường biển cho biết kết quả kiểm nghiệm chất lượng nước mà không chi rõ nguyên nhân của sự nhiễm ban từ đâu, thủ phạm làm nhiễm ban là ai. Nói khác đi, nhiễm ban môi trường biên chỉ phản ánh một cách trực quan chat lượng nước biển.
Còn 6 nhiễm môi trường biển, ngoài việc cho thấy sự thay đổi về chất lượng nước biển còn cho thấy nguyên nhân gây ô nhiễm biển và hậu quả mà ô nhiễm môi trường biển gây ra. Nghĩa là, 6 nhiễm môi trường biển phản ánh mối quan hệ giữa tat cả các yếu tố làm cho môi trường biên bị ô nhiễm. Từ góc độ khoa học, vào năm 1981, Nhóm chuyên gia về các khía cạnh khoa học của ô nhiễm bién (Joint Group of Experts on the Scientific Aspects of Marine Pollution - GESAMP) đưa ra định nghĩa về 6 nhiễm môi trường biển. Theo đó, “6 nhiễm môi trường biên (Marine Pollution) là việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển, (bao gồm cả các cửa sông), gây ra những tác hại như gây ton hại đến nguồn lợi sinh vật, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, ké cả việc đánh bắt hải san, làm biến đổi chất lượng nước biển về phương tiện sử dụng nó và làm giảm sút các giá trị mi cảm của biển” Đây được xem là định nghĩa dau tiên trên thé giới về 6 nhiễm môi trường biển.
Nó đã trả lời được khá đầy đủ các câu hỏi về nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và tác hại do ô nhiễm môi trường biển gây nên. Cụ thé là, thứ nhất, ô nhiễm môi trường biển là do con người gây nên, thông qua việc con người đưa vào môi trường biên các chất gây ô nhiễm (dưới dạng chất liệu và năng lượng) ở mức vượt quá khả năng tự chuyền hóa (tự phân hủy, tự làm sạch) của môi trường biển. Thứ hai, các chat gây 6 nhiễm phát tán trong môi trường biển bằng nhiều chu trình khác nhau, qua đó gây tốn hại đến nguồn lợi sinh vật sống, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển. Như vậy, ảnh hưởng từ các tác nhân gây hại và nguy cơ ô nhiễm môi trường biên là câu hỏi cần phải được trả lời trước khi đưa ra một quyết định có chấp nhận ô nhiễm đó hay không Từ góc độ pháp luật quốc tế, thuật ngữ ô nhiễm môi trường biển được đề cập chính thức tại Công ước Luật Biển 1982, mặc dù trước đó đã có nhiều văn bản pháp lý về biển như Công ước Giơnevơ về biển cả 1958, Công ước về đánh cá và bảo tồn các tài nguyên sinh vật của biển cả 1966.
Theo khoản 4 Điều 1 Công ước Luật biển 1982, “O nhiễm môi trường biển là việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chât liệu hoặc năng lượng vào môi trường biên, bao gôm cả các cửa sông, khi 10 việc đó gây ra hoặc có thé gây ra những tác hại như gây tốn hại đến nguồn lợi sinh vật, và đến hệ động vật và hệ thực vật biển, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, ké cả việc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác, làm biến đổi chất lượng nước biên về phương diện sử dụng nó và làm giảm sút các giá trị mĩ cảm của biển”. Định nghĩa này có hai (02) điểm khác biệt so với định nghĩa của GESAMP. Một là, định nghĩa ô nhiễm môi trường biển của GESAMP chi nhắc tới những tác hại đã và đang xảy ra đối với hệ sinh thái biển, trong khi Công ước Luật Biển 1982 dé cập đến ca những tác hại còn tiềm 4n trong tương lai, thông qua cụm từ “khi việc đó có thé gây ra những tác hại. Hai là, ngoài những tốn hại cụ thé được liệt kê trong cả hai định nghĩa, như nguồn lợi sinh vật, sức khỏe con người, việc đánh bắt hải sản.
Công ước Luật Biển 1982 còn đề cập đến “các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác”. Đây được xem là bước phát triển không chỉ từ phương diện học thuật mà còn là bước phát triển về quan điểm lập pháp. Nó cho phép hiểu là pháp luật sẽ bảo vệ ngày một nhiều hơn, rộng hơn các đối tượng phải chịu tổn thất từ 6 nhiễm môi trường biển. Tiếp theo hai định nghĩa nêu trên, thuật ngữ ô nhiễm môi trường biển còn được giải nghĩa trong Tuyên bố Putrajaya về hợp tác khu vực cho sự phát triển bền vững các biển Đông Á (một nội dung trong Chiến lược phát triển bền vững các biển Đông Á 2003, triển khai ở cấp khu vực các yêu cầu của Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững đối với các đại dương và các vùng ven biên, trong khuôn khổ chương trình hợp tác khu vực các biển Đông A, gọi tắt là PEMSEA do Té chức Hàng hải quốc tế thuộc Liên Hiệp quốc IMO làm đầu mối thực hiện) “ô nhiễm môi trường biển là việc con người trực tiếp hay gián tiếp đưa các chất hoặc năng lượng vào môi trường bién, kế cả các cửa sông, dẫn đến những ảnh hưởng có hai cho các tài nguyên hữu sinh, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, cản trở các hoạt động trên biển kế cả khai thác thủy sản, suy giảm chat lượng và lợi ích của nước biển”.