Luận văn thạc sĩ đánh giá tổng kết các công trình bảo vệ bờ và đê biển đề xuất giải pháp công trình bảo vệ cho đoạn đê biển huyện tĩnh gia tỉnh thanh hóa

Luận văn thạc sĩ đánh giá tổng kết công trình bảo vệ bờ, đê biển, đề xuất giải pháp bảo vệ đê biển huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa.

Trường đại học

Trường Đại học Thủy Lợi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sỹ

2014

122
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Đánh giá đê biển Tĩnh Gia

Đê biển Tĩnh Gia là một phần quan trọng trong hệ thống đê biển Việt Nam, đặc biệt tại tỉnh Thanh Hóa. Khu vực này thường xuyên chịu tác động của thiên tai như bão, sóng lớn và nước dâng, dẫn đến tình trạng xói lở đê biển nghiêm trọng. Các công trình bảo vệ hiện tại chưa đủ kiên cố để chống chịu các cơn bão cấp cao, đặc biệt là sau các trận bão năm 2005. Việc đánh giá đê biển cần tập trung vào các nguyên nhân hư hỏng như sạt lở mái đê, xói mòn chân đê và tác động của môi trường nước mặn.

1.1. Nguyên nhân hư hỏng đê biển

Các nguyên nhân chính gây hư hỏng đê biển Tĩnh Gia bao gồm: xói lở đê biển do sóng lớn, lún công trình do nền mềm, và tác động của môi trường nước mặn. Sóng tràn qua đê gây sạt lở mặt đê và mái đê phía đồng, đe dọa trực tiếp đến an toàn của đê. Ngoài ra, việc khai thác cát sỏi và khoáng sản ven biển cũng góp phần làm suy yếu cấu trúc đê.

1.2. Hiện trạng công trình bảo vệ

Hiện nay, các công trình bảo vệ đê biển Tĩnh Gia chủ yếu được nâng cấp để chống bão cấp 9 với mực nước triều tần suất 5%. Tuy nhiên, nhiều đoạn đê vẫn chưa đạt tiêu chuẩn an toàn, đặc biệt là các khu vực có bãi biển bị bào mòn và hạ thấp. Các kè bảo vệ mái đê cũng bị hư hỏng nặng sau các đợt bão, cần được củng cố và nâng cấp.

II. Giải pháp bảo vệ đê biển

Để bảo vệ đê biển Tĩnh Gia, cần áp dụng các giải pháp bảo vệ đê biển hiệu quả, bao gồm cả kỹ thuật và chính sách. Các giải pháp kỹ thuật như xây dựng kè bảo vệ mái đê, gia cố nền móng và sử dụng vật liệu chống xói mòn. Đồng thời, cần có chính sách bảo vệ đê biển để quản lý và duy trì hệ thống đê một cách bền vững.

2.1. Kỹ thuật bảo vệ đê biển

Các kỹ thuật bảo vệ đê bao gồm: xây dựng kè bảo vệ mái đê bằng đá hộc hoặc bê tông, gia cố nền móng bằng cọc cừ tràm, và sử dụng vật liệu chống xói mòn như đá lát khan. Ngoài ra, việc trồng rừng ngập mặn ven biển cũng là một giải pháp hiệu quả để giảm tác động của sóng và gió.

2.2. Chính sách quản lý đê biển

Cần xây dựng chính sách bảo vệ đê biển để quản lý và duy trì hệ thống đê một cách bền vững. Các chính sách này bao gồm: quy hoạch đê biển, nâng cấp đê biển theo tiêu chuẩn an toàn, và tăng cường công tác kiểm tra, bảo dưỡng đê. Đồng thời, cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và cộng đồng địa phương trong việc bảo vệ đê.

III. Phòng chống thiên tai và bảo vệ bờ biển

Phòng chống thiên tai là yếu tố quan trọng trong việc bảo vệ đê biển Tĩnh Gia. Cần xây dựng các công trình đê biển có khả năng chống chịu được các tác động cực đoan của thiên tai như bão, sóng lớn và nước dâng. Đồng thời, cần tăng cường công tác dự báo và cảnh báo thiên tai để kịp thời ứng phó.

3.1. Công trình đê biển chống thiên tai

Các công trình đê biển cần được thiết kế để chống chịu được các tác động cực đoan của thiên tai. Cụ thể, cần nâng cao độ cao của đê, gia cố mái đê bằng vật liệu chắc chắn, và xây dựng các kè giảm sóng để bảo vệ chân đê. Ngoài ra, cần lắp đặt hệ thống thoát nước hiệu quả để tránh tình trạng ngập lụt.

3.2. Dự báo và cảnh báo thiên tai

Cần tăng cường công tác dự báo và cảnh báo thiên tai để kịp thời ứng phó. Các hệ thống cảnh báo sớm cần được lắp đặt tại các khu vực xung yếu, đồng thời cần tổ chức các buổi tập huấn cho cộng đồng địa phương về cách ứng phó với thiên tai.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ đánh giá tổng kết các công trình bảo vệ bờ và đê biển đề xuất giải pháp công trình bảo vệ cho đoạn đê biển huyện tĩnh gia tỉnh thanh hóa

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: ĐẶC ĐIỂM ĐÊ BIỂN VIỆT NAM, CÁC NGUYÊN NHÂN HƯ HỎNG 1. Tổng quan về đê biển Việt Nam 1. Tổng quan về đê biển từ Quảng Ninh – Quảng Nam 1. Đặc điểm chung Vùng ven biển từ Quảng Ninh – Quảng Nam là nơi có địa hình thấp trũng, là những nơi tương đối phát triển về kinh tế của nước ta, nông nghiệp chiếm phần lớn trong cơ cấu nền kinh tế và theo định hướng phát triển kinh tế của Chính phủ thì dần chuyển dịch sang hướng phát triển về công nghiệp, du lịch và dịch vụ và đây cũng là nơi tập trung dân cư đông đúc.

Đây là vùng biển có biên độ thuỷ triều cao (khoảng 4 mét) và nước dâng do bão cũng rất lớn. Để bảo vệ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, các tuyến đê biển, đê cửa sông ở khu vực này đã được hình thành từ rất sớm và cơ bản được khép kín. Tổng chiều dài các tuyến đê biển, đê cửa sông khoảng 484 km, trong đó có trên 350 km đê trực tiếp biển. Sau khi được đầu tư khôi phục, nâng cấp thông qua dự án PAM 5325, PAM 4617 và quá trình tu bổ hàng năm, các tuyến đê biển nhìn chung đảm bảo chống được mức nước triều cao tần suất 5% có gió bão cấp 9.

Tuy nhiên, tổng chiều dài các tuyến đê biển rất lớn, dự án PAM mới chỉ tập trung khôi phục, nâng cấp các đoạn đê xung yếu. Mặt khác, do tác động thường xuyên của mưa, bão, sóng lớn, đặc biệt sau các trận bão số 2, số 6 và số 7 năm 2005 hệ thống đê biển Bắc Bộ đã bị tràn, vỡ và sạt lở nhiều đoạn và vẫn còn nhiều tồn tại, trong đó các tồn tại chính được tóm tắt như sau: 5 Nhiều đoạn thuộc tuyến đê biển Hải Hậu, Giao Thuỷ, Nghĩa Hưng (thuộc tỉnh Nam Định), đê Cát Hải, đê biển Đồ Sơn (Hải Phòng) đã bị tràn, vỡ, sạt lở mạnh trong bão. Do bãi biển liên tục bị bào mòn, hạ thấp gây sạt lở chân, mái kè bảo vệ mái đê biển, đe doạ trực tiếp đến an toàn của đê biển. Một số đoạn trước đây có rừng cây chắn sóng nên mái đê phía biển chưa được bảo vệ, đến nay rừng cây chắn sóng bị phá huỷ, đê trở thành trực tiếp chịu tác động của sóng, thuỷ triều nên nếu không được bảo vệ sẽ có nguy cơ vỡ bất cứ lúc nào.

Có đoạn trước đây đê có 2 tuyến nên tuyến đê trong không được bảo vệ mái, đến nay tuyến đê ngoài đã bị vỡ nên tuyến đê trong cấp thiết phải được củng cố, bảo vệ chống vỡ. Còn 257,5 km/484 km đê biển, đê cửa sông chưa đảm bảo cao trình thiết kế, đa số các tuyến đê có chiều rộng mặt đê ≤ 3,0m, đến nay trừ các tuyến đê biển số I, II, III (chiều dài khoảng 46,913km) thuộc Hải Phòng có chiều rộng mặt đê B = 5,0m, còn lại 152,5km đê có chiều rộng khoảng 4,0 ÷ 4,5m, 150 km có chiều rộng 3,0 ÷ 4,0m và 125 km có chiều rộng <3,0m, cá biệt có nơi chỉ rộng 1,6 ÷ 2,5m. Chiều rộng mặt đê nhỏ gây khó khăn cho việc giao thông cũng như kiểm tra, ứng cứu đê như các tuyến đê Hà Nam (tỉnh Quảng Ninh), đê biển Hải Hậu, Giao Thuỷ (Nam Định), đê biển số 5, 6, 7, 8 (Thái Bình), v. Hầu hết mặt đê chưa được gia cố cứng hoá nên khi mưa lớn hoặc trong mùa mưa bão mặt đê thường bị sạt lở, lầy lội, nhiều đoạn không thể đi lại được, nhất là sau các trận bão năm 2005.

Mới xây dựng được gần 90km/484km kè bảo vệ mái đê biển, nên những nơi mái đê phía biển chưa có kè bảo vệ hoặc không còn cây chắn sóng vẫn thường xuyên bị sạt lở hoặc có nguy cơ sạt lở đe doạ đến an 6 toàn của đê biển. Nhiều đoạn kè thuộc đê biển Nam Định, Hải Phòng đã bị hư hỏng nặng phần đá lát khan trong các đợt bão số 2, số 7 năm 2005. Đất đắp đê chủ yếu là đất cát pha, có độ chua lớn không trồng cỏ được, có tuyến được đắp chủ yếu bằng cát phủ lớp đất thịt như đê biển Hải Hậu, hầu hết mái đê phía đồng chưa có biện pháp bảo vệ, nên thường xuyên bị xói, sạt khi mưa, bão, đặc biệt tuyến đê biển Hải Hậu. Dải cây chắn sóng trước đê biển nhiều nơi chưa có, có nơi đã có nhưng do công tác quản lý, bảo vệ còn bất cập nên bị phá hoại để phục vụ việc nuôi trồng thuỷ sản.

Vì vậy, đê biển đa phần chịu tác động trực tiếp của sóng gây sạt lở. Hệ thống đê biển, đê cửa sông tỉnh Quảng Ninh Tỉnh Quảng Ninh có hệ thống đê biển tập trung chủ yếu ở 8 xã thuộc huyện Yên Hưng (gọi là khu vực Hà Nam). Với độ cao trung bình thấp hơn mực nước thủy triều cao từ 2 ÷3m, hệ thống đê biển được hình thành cách đây trên 750 năm. Đê biển Hà Nam dài gần 33,6 km, tạo thành vòng khép kín, với số dân 60000 người cùng với cơ sở hạ tầng tương đối mạnh: hàng chục km đường giao thông, đường điện, trường học, bệnh xá và khoảng 3000ha đất canh tác nông nghiệp, trên 400ha đầm nuôi trồng thủy sản xuất khẩu.

Nhận xét: Bao bọc quanh đảo Hà Nam là 2 cửa sông đổ ra biển: sông Chanh và sông Nam (2 nhánh sông Bạch Đằng). Sông Nam có độ dốc lớn, uốn lượn nhiều, triền sông ngoài đê có Sú, Vẹt, Đối. Tuyến đê thủy sản bao quanh bãi, tạo thành lá chắn bảo vệ cho đê Hà Nam từ Km 21÷ Km 32, đà gió trong đoạn này từ 500÷ 1000m. Sông Chanh có độ dốc nhỏ hơn và ít cong, phía ngoài đê trực tiếp là sông không có bãi.

Đối diện bên kia sông là vùng Hà Bắc, đà gió tính đến hai bờ đối diện từ 7 500m ÷ 1000m, riêng đoạn từ Km 10 ÷ Km 21 chịu ảnh hưởng của gió Đông Bắc thông ra vịnh Hạ Long với đà gió khoảng 20km. Đây được xác định là vùng trọng yếu của đê Hà Nam, nơi thường xuyên bị gió bão và lũ uy hiếp nghiêm trọng, hầu như mùa bão lũ năm nào cũng xảy ra sự cố do vậy đoạn đê biển này rất cần được quan tâm đúng mức. Hệ thống đê biển, đê cửa sông thành phố Hải Phòng Hệ thống đê điều của Hải Phòng bao gồm 24 tuyến đê với tổng chiều dài 422,629km, trong đó có 6 tuyến đê biển với chiều dài 104,265 km, 18 tuyến đê sông với chiều dài 318,364 km, 76 công trình kè với tổng chiều dài 62,516 km (35,668 km kè đê biển và 26,848 km kè đê sông), 393 cống dưới đê (bao gồm 69 cống dưới đê biển và 324 cống dưới đê sông). Hệ thống đê này chia thành 6 tiểu hệ thống đê bảo vệ các khu vực độc lập, bao gồm: Bốn hệ thống đê theo địa giới hành chính huyện là Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Thủy Nguyên, Cát Hải.

Hai tiểu hệ thống đê độc lập theo địa giới huyện là hệ thống Đa Độ gồm bốn đơn vị hành chính: huyện An Lão, Kiến Thụy, quận Kiến An, thị xã Đồ Sơn; và hệ thống đê An Dương và nội thành bao gồm 6 đơn vị hành chính: huyện An Dương, các quận Hồng Bàng, Lê Chân, Ngô Quyền và Hải An. Chiều dài các đoạn như sau: - Đê biển I: 17,591 km; - Đê biển II: 10,660 km; - Đê biển III: 21,162 km; - Đê biển Tràng Cát: 19,726 km; 8 - Đê Hữu Bạch Đằng: 14,588 km; - Đê biển Cát Hải: 20,401 km; Chế độ dòng chảy của vùng cửa sông ven biển Hải Phòng chịu ảnh hưởng trực tiếp của các dòng sông (sông Cấm, Bạch Đằng, Sông Chanh…) và dòng triều. Dòng chảy sông có ảnh hưởng đặc biệt đến dòng chảy chung của vùng cửa sông vào mùa lũ khi nước thượng nguồn ở các sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam, sông Hồng qua sông Đuống sông Luộc chảy về. Khi hoà nhập của nước sông vào khối nước biển dưới sự tương tác của dòng triều và dòng lũ, nước bị dồn ép ở pha triều lên và khi triều rút có sự cộng hưởng giữa dòng triều và dòng nước sông gây ra tốc độ dòng chảy rất lớn.

 Biển, bờ biển, hải đảo: Vùng biển Hải Phòng là một bộ phận thuộc tây bắc vịnh Bắc bộ. Các đặc điểm cấu trúc địa hình đáy biển và đặc điểm hải văn biển Hải Phòng gắn liền với những đặc điểm chung của vịnh Bắc bộ và biển Đông. Độ sâu của biển Hải Phòng không lớn. Đường đẳng sâu 2m chạy quanh mũi Đồ Sơn rồi hạ xuống 5m ở cách bờ khá xa.

ở đáy biển nơi có các cửa sông đổ ra, do sức xâm thực của dòng chảy nên độ sâu lớn hơn. Ra xa ngoài khơi, đáy biển hạ thấp dần theo độ sâu của vịnh Bắc Bộ, chừng 30 - 40 m. Mặt đáy biển Hải Phòng được cấu tạo bằng thành phần mịn, có nhiều lạch sâu vốn là những lòng sông cũ nay dùng làm luồng lạch ra vào hàng ngày của tàu biển. Kết quả điều tra khảo sát đo đạc ở 2 cửa sông và khu vực ven biển trước đảo cho thấy: Dòng chảy vùng ven biển và cửa sông Hải Phòng có 9 chế độ phức tạp thể hiện mối tương tác: Mực nước - địa hình đáy - sóng - gió - thuỷ triều.

Qua phân tích ảnh hưởng của chế độ gió và sóng gió trong mùa đông tới vùng ven biển Hải Phòng không nhiều: Chế độ dòng chảy phụ thuộc chủ yếu vào yếu tố địa hình và dao động mực nước (do thuỷ triều). Kết quả điều tra khảo sát đo đạc ở hai cửa sông và khu vực ven biển cho thấy, về mùa đông khi chế độ sóng, gió tương đối “yên lặng”, dòng chảy xuất hiện chủ yếu do dòng triều và sự chênh lệch mực nước do khối nước sóng triều bị dồn ép khi vào bờ. Mặc dù vậy, trong những ngày nước cường có sóng gió hướng Đông và Đông Nam phát triển, dòng chảy ven bờ do sóng gây ra kết hợp với các loại dòng khác làm tăng (hoặc giảm) tốc độ dòng chảy tổng hợp vùng ven bờ.  Bùn cát bờ biển và cơ chế vận chuyển bùn cát: Hướng di chuyển của bùn cát: Hoàn lưu di chuyển của dòng bùn cát phụ thuộc vào hướng dòng chảy tổng hợp, trong đó chủ yếu là dòng triều.

Di chuyển bùn cát dọc bờ do sóng là quan trọng nhưng không giữ vai trò chủ đạo. Nhận xét: Từ đặc điểm về địa lý, địa hình, địa chất, kết hợp với đặc điểm về khí hậu, cùng với chế độ thuỷ hải văn của khu vực Hải Phòng cho thấy đây là một vùng bờ biển đặc trưng của khu vực ven biển Bắc Bộ. Vùng bờ biển Hải Phòng có địa hình và địa chất phức tạp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đánh Giá & Giải Pháp Bảo Vệ Đê Biển Tĩnh Gia, Thanh Hóa" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng hiện tại của hệ thống đê biển tại Tĩnh Gia, Thanh Hóa, cùng với những giải pháp khả thi nhằm bảo vệ và cải thiện hiệu quả của các công trình này. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ đê biển không chỉ để ngăn chặn xói mòn mà còn để bảo vệ môi trường sống và phát triển kinh tế địa phương. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về các công nghệ và phương pháp hiện đại có thể áp dụng, từ đó nâng cao nhận thức và khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các giải pháp công nghệ trong lĩnh vực xây dựng và bảo vệ công trình thủy, hãy tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ xây dựng công trình thủy nghiên cứu ứng dụng giải pháp công nghệ đê trụ rỗng giảm sóng gây bồi chống sạt lở đê biển việt nam áp dụng cho xã khánh bình tây huyện trần văn thời tỉnh cà mau. Tài liệu này sẽ cung cấp thêm thông tin về các công nghệ tiên tiến trong việc bảo vệ đê biển.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu về Luận văn thạc sĩ nghiên cứu công nghệ wimax và khả năng triển khai tại việt nam, để nắm bắt thêm về các công nghệ truyền thông có thể hỗ trợ trong việc giám sát và quản lý các công trình hạ tầng.

Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu phát triển phần mềm hướng hành vi ứng dụng công cụ behat 001 cũng có thể mang lại cái nhìn mới về việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và bảo vệ các công trình xây dựng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các giải pháp và công nghệ hiện có trong lĩnh vực này.