CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước Các nhân tố ảnh hưởng đến nước dưới đất bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố nhân tạo [5].1 Các yếu tố tự nhiên Nhóm các yếu tố tự nhiên bao gồm: Khả năng chứa nước của tầng chứa nước, khả năng lưu thông nước, lượng mưa, lượng bốc hơi, độ ẩm … trong đó quan trọng nhất là lượng mưa [5]. Khả năng chứa nước của đất đá trong tầng chứa nước: Khả năng chứa nước của đất đá trong tầng chứa nước là một yếu tố tự nhiên quan trọng nhất trong các yếu tố ảnh hưởng tới mực nước dưới đất. Khả năng chứa nước này phụ thuộc chủ yếu vào thành phần cấu tạo và hệ số độ rỗng của lớp đất đá. Khả năng lưu thông nước: Khả năng lưu thông của tầng chứa nước là khả năng tiếp nhận và sự vận động nước từ môi trường bên ngoài vào và của chúng, bảo đảm cho sự cân bằng nước trong tầng.
Lượng bốc hơi Bốc hơi là một trong những nguyên nhân làm hao hụt lượng nước, được xem là một thành phần quan trọng của cân bằng nước và ảnh hưởng đến trữ lượng và chất lượng của nước dưới đất. Mặc khác, lượng bốc hơi tăng làm cho tốc độ khuếch tán lớn hơn tốc độ thấm, dẫn đến tăng độ tổng khoáng hoá của nước dưới đất. Lượng bốc hơi ảnh hưởng của đến xu thế thay đổi nước dưới đất chỉ xảy ra mạnh ở những khu vực có chiều sâu mực nước dưới đất nhỏ hơn 5 m. 6 Lượng mưa Nước mưa là nhân tố chủ yếu cung cấp nước cho tầng chứa nước, là một trong những điều kiện chủ yếu hình thành tài nguyên nước dưới đất, do đó dao động của mực nước dưới đất có liên hệ chặt chẽ với chế độ và lượng mưa.
Ngoài ra, thành phần hoá học của nước dưới đất cũng chịu tác động mưa, khi vào mùa mưa độ tổng khoáng hoá của nước dưới đất giảm. Độ ẩm không khí Độ ẩm có tác động lớn đến khả năng nước thấm xuống các đới thông khí. Những tháng độ ẩm cao thì lượng thấm xuống tầng chứa nước nhiều hơn. Chiều sâu mực nước dưới đất và độ ẩm có mối tương quan chặt chẽ ở khu vực có mực nước dưới đất nhỏ hơn 5m và ngược lại ở những nơi chiều sâu mực nước dưới đất lớn hơn 5m.2 Các yếu tố nhân tạo Nhóm các yếu tố nhân tạo ảnh hưởng đến động thái của nước dưới đất bao gồm: quá trình đô thị hóa, xây dựng hồ đập, nuôi trồng thủy sản.
Ảnh hưởng của sự đô thị hóa Quá trình đô thị hóa làm giảm lượng nước bổ sung cho tầng chứa nước và tăng cường khai thác nước dưới đất phục vụ cho hoạt động dân sinh, gây ra những sự thay đổi lớn cho mực nước dưới đất. Ở các đô thị, hầu hết nước thải được chứa các hồ chứa nước bẩn, làm tăng sự nhiễm bẩn tầng chứa nước. Ảnh hưởng của việc xây dựng các hồ đập Hồ đập được xây dựng các phục vụ cho mục đích thủy điện hoặc tích trữ nước ở mùa mưa, điều tiết nước tưới vào mùa khô. Đây cũng là nguyên nhân gây ảnh hưởng đến nguồn bổ cập của nguồn nước dưới đất.
7 Nuôi trồng thủy sản Các công trình nuôi thủy sản tuy là nguồn lợi phục vụ cho sự phát triển kinh tế, nhưng cũng có những tác động tiêu cực đáng kể đến nguồn nước dưới đất. Các công trình này sử dụng nguồn nước mặn, làm tăng cao độ tổng khoáng hoá ở vùng nuôi và các vùng kế cận, gây biến đổi chất lượng nước dưới đất. Ngoài làm thay đổi chất lượng nước, việc nuôi thủy sản, còn làm giảm nguồn cung cấp cho nước dưới đất một cách đáng kể.2 Một số nghiên cứu trong và ngoài nước 1.1 Các nghiên cứu ngoài nước Chỉ số chất lượng nước dưới đất (GWQI) Thời gian qua, trên thế giới có nhiều cách tiếp cận tính toán GWQI trong đánh giá và phân vùng chất lượng nước, một số các chỉ số được sử dụng nhiều như [6]: (1) Chỉ số CCMEWQI của Hội đồng bộ trưởng môi trường Canada; (2) Chỉ số NSFWQI của Quỹ Vệ sinh Quốc gia Mỹ; (3) Chỉ số BCWQI của bang Columbia của Anh Quốc; (4) Chỉ số OWQI của của bang Oregon, Mỹ; (5) Chỉ số tổng ô nhiễm (OIP); (6) Phương pháp Bhargava. Có thể nói, GWQI được xem là một công cụ kỹ thuật hữu hiệu đối với các nhà quản lý môi trường trong đánh giá, giám sát, phân vùng chất lượng, quản lý nguồn nước, cung cấp thông tin ô nhiễm nước cho cộng đồng và các nhà hoạch định chính sách, từ đó có kế hoạch kiểm soát, bảo vệ môi trường nước.
Bản đồ chất lượng nước có thể được lập từ chỉ số GWQI, được tính toán theo các thang điểm xác định, từ đó giúp ích trong công tác quản lý chất lượng nước trong tầng chứa nước. Các phương pháp và thông số tính toán chỉ số GWQI cho nước dưới đất khá đa dạng, phụ thuộc vào mục đích sử dụng nước. Các phương pháp tính chủ yếu dựa vào việc tính toán các chỉ số GWQI phụ. Các phương pháp thường được sử dụng như: (1) Trung bình cộng không trọng số; (2) Trung bình cộng có trọng số; (3) 8 Trung bình nhân không trọng số; (4) Trung bình nhân có trọng số; (5) Tổng không trọng số dạng Solway; (6) Tổng có trọng số dạng Solway [6].
Hiện nay, để đánh giá, phân vùng chất lượng nước dưới đất, các nước trên thế giới phần lớn đều sử dụng phương pháp chỉ số GWQI của Quỹ Vệ sinh Quốc gia Mỹ theo trọng số trung bình của tác giả Brown (1972) để xác định mức độ phù hợp của chất lượng nước cho các mục đích khác nhau. WQI theo phương pháp trung bình cộng có trọng số được dùng để tính toán cho từng mục đích sử dụng nước khác nhau, phân vùng chất lượng nước dưới đất ở thành phố Pondicherry, Surat, tiểu bang Tamil Nadu, Ấn Độ. Các mẫu nước trong vùng nghiên cứu đều có WQI vượt ngưỡng cho phép dành cho nước uống và nước tưới trong khu vực. Kết quả chất lượng nước dưới đất ở vùng nghiên cứu có thể bị tác động là do hoạt động dân sinh, kinh tế, kỹ thuật.
Từ đó đưa ra các kết luận sự phù hợp/không phù hợp cho các mục đích sử dụng nước, đề xuất các giải pháp quản lý hiệu quả [7]. WQI cũng được sử dụng để tính chỉ số chất lượng nước dưới đất cho vùng ven biển bị nhiễm mặn ở thành phố Surat, Gujarat, Ấn Độ theo cách tính trung bình cộng có trọng số, theo trọng số tỷ lệ. Kết quả cho thấy 99% chỉ số WQI của các mẫu nước ở vùng này đều vượt ngưỡng cho phép dành cho nước uống. Giá trị WQI của vùng cao do các giá trị của TDS, Độ cứng tổng, COD, Sắt, Cloride, Floride, độ muối trong vùng nghiên cứu ở mức cao.
Chất lượng tầng chứa nước bị tác động có thể là do gia tăng dân số, nhu cầu độ sử dụng nước ngày càng tăng, lượng bổ cập nguồn nước thiếu…, từ đó đưa ra những phương án quản lý cho phù hợp [8]. Nghiên cứu ở vùng đồng bằng Tefenni, thành phố Burdur, Thổ Nhĩ Kỳ được dùng để tính chỉ số WQI từ 28 mẫu nước với 11 thông số được chọn theo phương pháp trung bình cộng có trọng số, các trọng số được lựa chọn theo mức độ quan trọng của chúng trong việc đánh giá chất lượng nước. Trong đó, giá trị trọng số cao nhất (5) được gán cho các thông số như TDS, Cl-, SO42-, NO3-, NO2- do chúng là những thông số chính trong việc đánh giá chất lượng nước. Các thông số còn lại được gán 9 giá trị trọng số giảm dần theo mức độ quan trọng.
Kết quả tính toán với hơn 89% mẫu nước toàn vùng được đánh giá rất tốt, có thể đáp ứng nhu cầu sử dụng được cho các mục đích sinh hoạt. Mẫu nước có WQI cao ở đây phần lớn đều do các thông số TDS, Cloride, SO4, NO3, NO2 có giá trị cao. Nguyên nhân chất lượng nước bị ảnh hưởng có thể do hoạt động khai thác quá mức, nguồn bổ cập và ảnh hưởng của nông nghiệp [9]. Các mẫu nước được lấy ở quận Faridpur, trung tâm Bangladesh (60 mẫu) được dùng để tính chỉ số chất lượng nước dưới đất (GWQI) với 14 thông số theo phương pháp trung bình có trọng số.
Trong đó, giá trị trọng số cao nhất (4) được gán cho các thông số pH, Na+, As, Fe, Mn, Pb, F-, SO42- nhằm mục đích kiểm soát chất lượng nước dưới đất cho mục đích ăn uống. Kết quả GWQI cho thấy 48% các mẫu có chất lượng nước rất tốt, và phần còn lại (52%) có chất lượng xấu đến không phù hợp để sử dụng. Nghiên cứu cho thấy các giá trị EC, TDS, Ca2+, As và Fe của các mẫu nước dưới đất vượt quá tiêu chuẩn của Bangladesh và thế giới. Điều này có thể là do tác động của thành phần tầng chứa nước và ảnh hưởng của các hoạt động nông nghiệp [10].
Những nghiên cứu trên cho thấy khả năng ứng dụng của chỉ số WQI là khá hiệu quả trong đánh giá và phân vùng chất lượng nước dưới đất. Các nhà quản lý có thể sử dụng WQI như một công cụ giám sát, phân vùng chất lượng nước, quản lý nguồn nước, đánh giá hiệu quả bảo vệ môi trường và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước. Tính dễ tổn thương của nước dưới đất Trên thế giới đã sử dụng phương pháp DRASTIC để dựa vào các yếu tố khách quan, các yếu tố tự nhiên, địa chất nhằm đánh giá mức độ nhạy cảm của nước dưới đất từ những năm 1980, ước tính mức độ dễ bị tổn thương tiềm tàng của tầng chứa nước [11]. Năm 1985, Aller đã tiếp tục phát triển một hệ thống tiêu chuẩn hóa để đánh giá khả năng ô nhiễm tầng chứa nước của bất kỳ khu vực nào ở Hoa Kỳ, với việc áp dụng sơ đồ xếp hạng tương đối các thông số địa chất thủy văn, được gọi là DRASTIC [12].
Hệ thống Thông tin Địa lý (GIS) cung cấp môi trường làm việc 10 hiệu quả để tổ chức, định lượng và giải thích khối lượng lớn dữ liệu không gian, từ đó phân tích và trực quan hóa không gian dữ liệu, hỗ trợ quá trình ra quyết định trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu [1]. Hiện nay, cách kết hợp mô hình DRASTIC trên nền tảng công nghệ GIS đã được ứng dụng trong nhiều nghiên cứu trên thế giới nhằm đánh giá tính dễ bị tổn thương của các tầng chứa nước dưới đất [3, 13-16].