mở đầu tố tụng hình sự, là việc đưa vụ án hình sự ra công khai để giải quyết theo trình tự, thủ tục tố tụng hình sự. Để làm rõ, để phản ánh một cách đầy đủ khái niệm khởi tố vụ án hình sự, cần phải tiếp cận từ giác độ khác: Khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự. Đề cập tới một giai đoạn tố tụng nói chung, giai đoạn khởi tố vụ án hình sự nói riêng cần phải phân tích, làm rõ các nội dung: Thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc và thời hạn tiến hành; chủ thể tiến hành tố tụng hình sự, thủ tục cần phải tuân theo; nội dung, yêu cầu cần đạt được v.v… - Khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng độc lập. Giai đoạn này bắt đầu khi cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận hoặc phát hiện được cơ sở khởi tố (lúc nhận được tin báo, tố giác…) và kết thúc khi ra quyết định khởi tố vụ án.
Thời hạn tiến hành tố tụng của giai đoạn khởi tố vụ án, theo quy định tại Điều 103 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 là 20 ngày, trường hợp đặc biệt có thể kéo dài 2 tháng. Thời hạn tiến hành tố tụng hình sự là vấn đề rất quan 7 trọng, có ý nghĩa về lý luận và lập pháp. Thời hạn do nhà làm luật quy định cho một giai đoạn có ý nghĩa điều chỉnh các hoạt động tố tụng trong giai đoạn đó. Các hoạt động tố tụng thực hiện ngoài thời hạn luật định sẽ bị coi là vi phạm, không có giá trị pháp lý.
Về phương diện thực tiễn, thời hạn là khoảng thời gian bắt buộc phải tuân theo. Các nhà hoạt động thực tiễn phải bằng mọi cách để thực hiện nhiệm vụ được giao trong thời hạn luật định. Tất cả mọi kết quả, hiệu quả hoạt động sẽ không được thừa nhận nếu vi phạm quy định về thời hạn. Về phương diện lý luận, thời hạn phải hợp lý.
Nếu thời hạn dài quá sẽ tác động tiêu cực đến quyền và nghĩa vụ của đối tượng bị áp dụng, làm giảm hiệu quả của pháp luật; ngược lại thời hạn ngắn quá sẽ gây khó khăn cho cơ quan có thẩm quyền và cũng sẽ dễ dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật về thời hạn, cuối cùng là làm giảm hiệu quả đấu tranh, xử lý tội phạm. - Chủ thể tiến hành tố tụng trong giai đoạn khởi tố vụ án là các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án. Theo luật hiện hành, đó là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử và các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra (Hải quan, Kiểm lâm, Bộ đội biên phòng, lực lượng Cảnh sát biển và một số cơ quan trong Công an nhân dân và Quân đội nhân dân). Chủ thể tiến hành tố tụng trong giai đoạn khởi tố vụ án có tính ổn định tương đối vì có thể thay đổi qua từng giai đoạn phát triển của mỗi nước.
Ở một số nước, cơ quan thuế vụ có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự. Ở Việt Nam gần đây, lực lượng cảnh sát môi trường được quyền tiến hành khởi tố vụ án hình sự. Trong tương lai, khi có sự thay đổi, sắp xếp lại các cơ quan trong bộ máy Nhà nước và do yêu cầu đấu tranh chống tội phạm, rất có thể một số cơ quan khác sẽ được giao thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự. Về phương diện lý luận và pháp lý, việc xác định cơ quan nào có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự cần phải được tính toán một cách thận trọng, khoa học để không chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ và phát huy cao nhất hiệu quả hoạt động của các cơ quan Nhà nước trong việc phát hiện, điều tra và xử lý tội phạm.
- Thủ tục trong khởi tố vụ án hình sự là các thủ tục pháp lý cần phải tuân theo khi áp dụng các biện pháp tố tụng cụ thể. Pháp luật tố tụng hình sự quy 8 định thủ tục cụ thể đối với từng biện pháp. Trong từng vụ án cụ thể, các biện pháp tố tụng được áp dụng cũng không hoàn toàn giống nhau. Hai loại biện pháp được áp dụng phổ biến trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là biện pháp thu thập chứng cứ và biện pháp ngăn chặn.
Trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, các biện pháp tố tụng thường được áp dụng là: Khám nghiệm hiện trường; bắt và khám người phạm tội quả tang hoặc trong trường hợp khẩn cấp; triệu tập và lấy lời khai của người tố giác; yêu cầu các cơ quan, đơn vị bổ sung, làm rõ nội dung nguồn tin mà họ đã cung cấp v.v… Mỗi loại biện pháp trên được tiến hành theo thủ tục cụ thể do pháp luật quy định. Tuy vậy, có thể khái quát thủ tục áp dụng các biện pháp trên thành các nhóm thủ tục sau: Thủ tục ra văn bản áp dụng, thủ tục tống đạt văn bản, thủ tục giải thích quyền và nghĩa vụ, thủ tục chứng kiến, thủ tục lập biên bản, thủ tục thông báo, thủ tục phê chuẩn. - Nội dung, yêu cầu cần đạt được trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự có điểm khác so với các giai đoạn tố tụng sau đó. Trong giai đoạn khởi tố vụ án, vấn đề chủ yếu là xác định căn cứ khởi tố để tạo cơ sở cho việc ra quyết định.
Nếu có căn cứ khởi tố vụ án thì ra quyết định khởi tố vụ án; nếu xác định không có căn cứ khởi tố vụ án thì ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Mặc dù xác định có hay không có căn cứ khởi tố vụ án là vấn đề không đơn giản, nhưng so với các giai đoạn tố tụng sau đó (giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử), yêu cầu của giai đoạn khởi tố vụ án “thấp” hơn. Nhận thức đúng, đầy đủ về giai đoạn khởi tố vụ án hình sự có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận, lập pháp và tổ chức hoạt động thực tiễn. Về phương diện lý luận, trước đây giáo trình, bài giảng ở nhiều cơ sở đào tạo đã gộp giai đoạn khởi tố vụ án vào giai đoạn điều tra và gọi là giai đoạn khởi tố - điều tra.
Hiện nay, một số tài liệu khi đề cập đến giai đoạn điều tra vụ án hình sự vẫn trình bày cả giai đoạn khởi tố vụ án và coi khởi tố vụ án là điều tra ban đầu. Theo chúng tôi, bản chất của hoạt động điều tra là thu thập chứng cứ, tài liệu, nhưng điều tra trong giai đoạn khởi tố khác điều tra trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Yêu cầu của hoạt động điều tra trong 9 giai đoạn khởi tố vụ án là thu thập chứng cứ, tài liệu để xác định dấu hiệu tội phạm (căn cứ khởi tố); còn điều tra trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là thu thập chứng cứ để làm rõ tất cả những vấn đề (tình tiết) cần phải chứng minh của vụ án. Về phương diện lập pháp, nếu nhầm lẫn sẽ dễ dẫn đến việc đưa ra những quy định liên quan đến giai đoạn khởi tố vụ án quá cao, không có tính khả thi.
Chúng tôi sẽ đề cập cụ thể hơn về thực trạng lập pháp tố tụng hình sự ở chương sau; ở đây chỉ xin nêu ra một quy định để chứng minh cho luận điểm nêu trên. Trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, tại Điều 104, có yêu cầu trong quyết định khởi tố vụ án hình sự phải ghi rõ điều khoản của Bộ luật hình sự được áp dụng. Với tài liệu ban đầu để từ đó xác định căn cứ khởi tố vụ án hình sự, việc xác định hành vi vi phạm cần khởi tố phạm tội gì đã rất khó. Còn yêu cầu cần phải xác định hành vi đó thuộc khoản nào (khung nào), là việc không thể và không hợp lý.
Ngay trong kết luận điều tra, luật cũng không đòi hỏi phải xác định bị can phạm vào khung nào mà trong quyết định khởi tố vụ án hình sự (có thể chưa khởi tố bị can) lại yêu cầu phải ghi rõ điều và khoản của Bộ luật hình sự cần áp dụng là không hợp lý và không khả thi. Rõ ràng ở đây nhà làm luật, khi đưa ra quy định cụ thể, đã không chú ý đúng mức đến yêu cầu cần phải đạt được của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự. Về phương diện thực tiễn, nếu lý luận chưa hoàn thiện và quy định của luật chưa hợp lý thì sẽ dẫn đến tình trạng lúng túng, không thống nhất trong tổ chức hoạt động thực tiễn, trong áp dụng pháp luật. Tình trạng tương đối phổ biến hiện nay là các cơ quan có thẩm quyền khởi tố rất khó xác định điều khoản của Bộ luật hình sự cần áp dụng nên phải xác minh thêm, dẫn đến vi phạm về thời hạn.
Mặt khác khi cần triệu tập người cung cấp tin để hỏi thêm thì rất lúng túng vì không xác định được tư cách tố tụng của họ (là người biết việc, người cung cấp tin hay người làm chứng. Chưa ra quyết định khởi tố vụ án thì có thể triệu tập một người với tư cách người làm chứng được không, vì căn cứ làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng hình sự chưa có). 10 Tóm lại, việc nghiên cứu làm rõ nội hàm của khái niệm khởi tố vụ án hình sự là rất cần thiết. Tuy vậy, trong phạm vi một luận văn thạc sỹ chúng tôi không thể và chưa đủ khả năng để trình bày một cách toàn diện đầy đủ về vấn đề này.
Đây là vấn đề cần phải nghiên cứu sâu hơn, toàn diện hơn ở cấp độ cao hơn.2 Mối quan hệ giữa khởi tố vụ án và khởi tố bị can Khởi tố bị can là quyết định bắt đầu mở tố tụng hình sự để công khai tiến hành điều tra đối với chủ thể của tội phạm. Khởi tố bị can là quyết định tố tụng, là hành vi tố tụng, không phải là giai đoạn tố tụng độc lập(4. Khởi tố bị can có thể được tiến hành cùng với khởi tố vụ án, có thể được thực hiện trong giai đoạn điều tra hay trong giai đoạn truy tố. Trường hợp có căn cứ, Hội đồng xét xử có thể khởi tố bị can.
Căn cứ khởi tố vụ án là “khi đã xác định có dấu hiệu của tội phạm”, còn căn cứ khởi tố bị can là “khi có đủ căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội”.