Chương 1. Một số vấn đề lý luận về biện pháp đặt cọc. Thực trạng pháp luật về đặt cọc. Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đặt CỌC.
MOT SO VAN DE LY LUAN VE BIEN PHAP DAT COC 1. Khái quát về biện pháp bao dam thực hiện nghĩa vụ dân sự 1. Khái niệm biện pháp bảo dam thực hiện nghĩa vụ dân sự Trước những yêu cầu của thực tiễn, pháp luật Việt Nam về BPBĐ thực hiện nghĩa vụ dân sự ngày càng được hoàn thiện qua các BLDS 1995, 2005, 2015 và các văn bản pháp luật hướng dẫn có liên quan. Những quy định này đã tạo một tiền đề quan trọng giúp các bên tham gia giao dịch dân sự yên tâm hơn trong việc hợp tác và thực hiện các thoa thuận.
Tuy nhiên, cho đến hiện nay, Việt Nam vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào định nghĩa cụ thé về “biện pháp bảo dam thực hiện nghĩa vụ dan sự”, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng một định nghĩa rõ ràng, khoa học và phủ hợp với thực tiễn. Dưới góc độ ngôn ngữ học, “bién pháp ” được hiểu là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thé và “bảo dam” là “I. Làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được, hoặc có day du nhitng gi can thiết; 2. Nói chắc chắn và chịu trách nhiệm về lời nói của minh để cho người khác yên lòng; 3.
Nhận và chịu trách nhiệm làm tốt.^” Như vậy, có thể hiểu nội hàm BPBĐ là việc lựa chọn một cách thức hành động nhằm làm cho một việc chắc chắn sẽ được thực hiện, đồng thời phòng ngừa và hạn chế rủi ro, thiệt hại nếu có sai sót xảy ra. Bán chất của quan hệ nghĩa vụ dân sự là sự ràng buộc giữa các bên, trong đó bên có nghĩa vụ phải thực hiện một hành vi nhất định để đáp ứng lợi ích của bên có quyền. Tuy nhiên, nếu bên có nghia vụ không thực hiện đúng, đủ nghĩa vụ của mình thì quyền và lợi ích của bên có quyền sẽ bị ảnh hưởng, xâm phạm. Chính vì vậy, bảo đảm nghĩa vụ dân sự xuất hiện như một yêu cầu khách quan, giúp bên có quyền trong quan hệ nghĩa vụ có được thế chủ động trong thực tế hưởng quyền.
Về bản chất, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dan sự là một cơ chế pháp lý thúc đây các bên tuân thú đúng cam kết, đồng thời bảo vệ quyền lợi của bên có quyền trong trường hợp nghĩa vụ không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng. Đề bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, pháp luật quy định các BPBD thực hiện nghĩa vụ dân sự và cho phép các bên có thể thoả thuận sử dụng các BPBĐ để bảo * Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Da Nẵng, 2003, tr. 10 đảm việc giao kết hợp đồng và thực hiện các nghĩa vụ.
Tuy nhiên, không phải BPBĐ nào cũng phát sinh từ thoả thuận giữa các bên. Cụ thể, những BPBĐ phát sinh từ bản chất của quan hệ hoặc quy định của pháp luật như cầm giữ tài sản và bảo lưu quyền sở hữu thì được coi là BPBĐ, không phải giao dịch bảo đảm”. Điều 292 BLDS 2015 quy định 09 BPBĐ thực hiện nghĩa vụ, gồm: cầm có tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bao lưu quyền sở hữu, bao lãnh, tin chap va cam giữ tài sản. Trên cơ sở nghiên cứu pháp luật và thực tiễn áp dụng, tác giả xây dựng định nghĩa về BPBĐ nghĩa vụ dân sự là những công cụ, phương thức cụ thê được quy định trong pháp luật hoặc được các bên thoả thuận thiết lập, nhằm thúc đây việc thực hiện nghĩa vụ, đồng thời bao vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong giao dịch dân sự.
Trong trường hợp nghĩa vụ bị vi phạm, các bên có thé tự áp dụng hoặc yêu cầu cơ quan có thâm quyền áp dụng BPBĐ để bảo đảm quyền lợi cho bên có quyền. Đặc điểm biện pháp bảo đâm thực hiện nghĩa vụ dân sự BLDS 2015 quy định 09 BPBĐ nghĩa vụ dân sự, mỗi biện pháp đều có những đặc điểm riêng biệt, phù hợp với tính chất và nội dung của từng quan hệ nghĩa vụ cụ thể. Tuy nhiên, tất cả các BPBĐ đều mang những đặc điểm chung cơ bản sau: Thứ nhất, các BPBĐ nâng cao trách nhiệm của các bên đối với cam kết, nghĩa vụ của mình. Việc thiết lập BPBĐ tạo ra áp lực pháp lý, thúc đây bên có nghĩa vụ thực hiện đúng cam kết, hạn chế rủi ro và nâng cao năng lực thực hiện của thoả thuận.
Đồng thời, các BPBĐ cũng cung cấp phương thức thực hiện nghĩa vụ thay thế trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện nghĩa vụ chính theo thoả thuận ban đầu. Thứ hai, BPBD mang tính chất b6 sung cho nghĩa vụ chính. Các BPBĐ không tồn tại độc lập mà luôn gắn liền với một nghĩa vụ chính, được thiết lập nhằm mục đích thúc đây việc thực hiện nghĩa vụ đó. Nội dung và hiệu lực của BPBĐ phụ thuộc vào nội dung và hiệu lực của nghĩa vụ chính.
Nói cách khác, BPBĐ đóng vai trò hỗ trợ, củng cố cho nghĩa vụ chính, đảm bảo nghĩa vụ chính được thực hiện một cách đây đủ và hiệu quả. 3 Trương Thanh Đức, 9 biện pháp bảo dam nghĩa vụ hợp đồng, Nxb. Chính tri quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, in, 11 Thứ ba, đối tượng của các BPBĐ là lợi ích vật chất, bao gồm: tài sản hữu hình hoặc tài sản vô hình có giá trị kinh tế, hợp pháp, có thể xác định giá và có khả năng chuyến giao, hoặc công việc mang lại lợi ích vật chất. Điều này đảm bảo tính khả thi của BPBĐ khi nghĩa vụ bi vi phạm, đồng thời phù hợp với quy luật giá trị, theo đó các bên chỉ có thé dùng tài sản hoặc công việc dé bảo dam thực hiện nghĩa vụ.
Riêng với BPBD tín chấp thì đối trong bao đảm là uy tín của các tổ chức chính trị - xã hội tại cơ SỞ. Thứ tư, phạm vi bảo đảm của các BPBĐ không vượt quá phạm vi của nghĩa vụ được bảo dam. Mặc du trong thực tiễn, giá trị tài sản bảo đảm có thé lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm, song mục đích chủ yếu của việc thiết lập các BPBĐ là thúc đây bên có nghĩa vụ thực hiện đúng nghĩa vụ đã thoả thuận trong phạm vi xác định. Như vậy, đặc điểm này không chỉ đơn thuần phản ánh mỗi quan hệ giữa giá trị tài sản bao dam và giá trị nghĩa vụ, mà còn thé hiện bản chất hỗ trợ, thúc day cha BPBĐ đối với việc thực hiện nghĩa vụ.
Thứ năm, các BPBĐ chỉ được áp dụng khi có sự vi phạm nghĩa vụ, phát huy chức năng dự phòng của BPBĐ. Cụ thể, các BPBĐ dù đã được thiết lập nhưng sẽ không được áp dụng nếu nghĩa vụ chính được thực hiện đầy đủ. Tuy nhiên, việc “vi phạm nghĩa vụ” cần được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm việc vi phạm nghĩa vụ chính, vi phạm nghĩa vụ khác được bảo đảm chung bằng một tài sản, theo sự thoả thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật. Thứ sáu, các BPBĐ thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ sự thoả thuận g1ữa các bên hoặc hành vi đơn phương của một bên.
Việc thiết lập BPBĐ dựa trên sự thoả thuận giữa các bên được gọi là hợp đồng bảo đảm, thể hiện rõ nét nhất tính tự nguyện và chủ động của các bên tham gia quan hệ pháp luật. Trong khi đó, BPBĐ phát sinh từ hành vi pháp lý đơn phương thường xuất phát từ các quy định của pháp luật mang tính bắt buộc, nhằm đảm bảo công bằng cho các bên, đặc biệt là bên có quyên. Ví dụ, theo quy định tại khoán 1 Điều 453 BLDS 2015 về mua trả chậm, tra dần, bên bán có quyền đơn phương bảo lưu quyền sở hữu đối với hàng hoá cho đến khi bên mua thanh toán đầy đủ tiên hàng. Trường hợp này, BPBĐ được xác lập không cần sự đồng ý của bên mua.
Khái niệm, đặc điễm biện pháp đặt cọc 1. Khai niệm biện pháp đặt cọc Trong các giao dịch dân sự, đôi khi việc giao kết hợp đồng không thể diễn ra ngay lập tức, mặc dù các bên đã có ý định rõ ràng về việc thực hiện hợp đồng trong tương lai. Khi đó, biện pháp đặt cọc thường được sử dụng như một sự ràng buộc pháp lý giữa hai bên, đảm bảo rằng các bên sẽ tuân thủ thoả thuận và tiễn tới việc ký kết hợp đồng sau một thời hạn nhất định. Đặt cọc là một BPBĐ thực hiện nghĩa vụ phổ biến và hiệu quả, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo thuận lợi cho các giao dịch dân sự.
Biện pháp “đặt cọc” đã xuất hiện từ lâu đời trong các giao dịch dân sự của người Việt. Trong bối cảnh lịch sử khi tiền tệ thường được xâu thành từng cọc đề tiện lưu thông, việc “đặt cọc” ban đầu mang ý nghĩa đơn giản là đặt trước một số tiền làm vật bao đảm cho các giao dịch dân sự. Có thé thay, nhu cầu đảm bao an toàn trong giao dich đã tồn tại từ khi xuất hiện việc trao đối hàng hoá, tuy nhiên, đến năm 1991, đặt cọc mới chính thức được ghi nhận là một BPBĐ thực hiện nghĩa vụ dân sự theo PLHDDS 1991. Cùng với sự phát triển của xã hội, việc sử dụng “cọc” tiền dé làm tin dần được thay thế bằng các tài sản khác và đặt cọc không chỉ dé làm tin mà còn thé hiện sự thiện chí của các bên và đảm bảo cho việc xác lập, thực hiện các g1ao dịch.
Dưới góc độ ngôn ngữ, “dat coc” là một cụm tt ghép bao gồm động từ “dat” và danh từ “coc”. “Đặt” nghĩa là “đề vào vị trí thích hợp cho một việc nào đó. “Coc” là “tập hợp gém nhiều dong tiên xếp thành hình trụ. ”" Khi kết hop, “đặt cọc” mang nghĩa là đặt một khoản tiền vào vị trí thích hợp cho một việc nào đó.
Phân tích sâu hơn, có thé thấy cụm từ “đặt cọc” mang hàm ý vỀ sự cam kết, đảm bảo bởi hành động “đặt” là hành động mang tính chủ động, thể hiện sự tin tưởng và mong muốn thực hiện một việc nào đó, trong khi “cọc” với nghĩa gốc là vật cố định dùng để cắm vào đất, thể hiện sự chắc chăn, không thay đổi. Do đó, có thể hiểu cụm từ “đặt cọc” ngầm chứa đựng ý nghĩa về sự ràng buộc, cam kết thực hiện một điều gì đó trong tương lai. 6 Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, Nxb.296 7 Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, Nxb.