mở đầu cuộc chơi, hát giới thiệu về các con bài trong bộ bài chòi. Anh Hiệu xóc thẻ và bốc con bài, hát làn điệu bài chòi mang tên con bài đó, cuối lời hô/hát Hiệu xướng tên thẻ bài cho tất cả mọi người biết Mỗi con bài là một lời hô/hát. Anh/chị Hiệu hô đến khi chòi nào có đúng quân bài Hiệu đang hô thì người chơi gõ mõ hoặc xướng lên báo và nhận được một cây cờ đuôi nheo nhỏ. Người chơi ở chòi nào ăn đủ 3 con (được 3 cờ) như lời Hiệu hô ứng trong tấm thẻ mình được phát thì hô “tới” và gõ một hồi mõ kéo dài, lúc này trống tum, trống cán ở chòi trung tâm đánh vang lên, nghĩa là người ở chòi đó đã thắng thì chấm dứt một ván/hiệp bài và tiếp tục một ván/hiệp bài khác.
Ở những địa phương không có nghệ nhân hô/hát bài chòi thì họ tổ chức chơi bài chòi với hình thức đơn giản hơn: không có anh Hiệu mà chỉ có người hô (không hát). Người hô xóc thẻ rồi rút từng con bài. Mỗi lần rút bài người hô đọc (xướng) to tên con bài. Người nào có đúng quân bài đó thì xướng lên “ăn rồi” và được trao một cây cờ đuôi nheo nhỏ.
Người chơi ăn đủ 3 con (được 3 cờ) thì hô “tới”. Thông thường cuộc chơi từ 8 đến 10 hiệp/ván là hết một hội bài chòi. Điều đặc biệt, trong mỗi một hiệp/ván bài chòi không hát lặp lại lần thứ hai những con bài đã hô/hát ở ván trước. Nếu ở hiệp/ván sau thì cũng tên con bài đó nhưng hô/hát lời khác và chỉ lặp lại các từ Ới bạn mình ơi cộng với tên con bài sắp ra.
Một điều hết sức đặc biệt trong mỗi hội chơi Bài chòi đó là vai trò của anh Hiệu - người điều khiển hội Bài chòi, được xem là linh hồn của cuộc chơi. Hội Bài chòi có sinh động, rôm rả, thu hút người chơi và người xem hay không phụ 23 thuộc vào tài hô/hát của anh Hiệu. Trong mỗi hội Bài chòi ở Đà Nẵng, Hiệu thường là đôi nam nữ hát đối đáp, cộng thêm lối pha trò hài hước, tung hứng cùng nhau và có ứng tác đặc sắc, tăng thêm tính giao tiếp với người chơi khiến cho hội Bài chòi càng sôi nổi hơn. Một anh/chị Hiệu giỏi phải là người hát hay, có tài ứng khẩu linh hoạt, có khả năng làm trò duyên dáng, có tính hài hước, nhanh nhẹn, thuộc hàng trăm bài thơ, bài vè, hàng ngàn câu ca dao; phải biết hát nam, hát khách những làn điệu dân ca đặc trưng của những vùng miền xứ Quảng.
Tên gọi và hình vẽ trên lá bài. Lá bài Tên con bài là những tên gọi nôm na, tinh nghịch, hài hước tiếng Nôm có, tiếng Hán có. mà khi đọc lên rất vui tai, ngộ nghĩnh, đôi lúc tưởng như tục tĩu, thô lỗ, nhưng vẫn rất tự nhiên: bảy giày, bảy sưa, ba gà, ba bụng, nọc đượng, năm rún, ông ầm, bạch tuyết (đôi nơi gọi là bạch huê, có khi còn gọi là con l…), tứ tượng, ngủ trưa… Có con bài gợi lên hình ảnh một anh nông dân chây lười, biếng nhác “Ngủ trưa, ngủ trượt”, có con lại gợi lên sự đanh đá điêu ngoa “Đỏ 24 mỏ”, có con lại gợi lên hình ảnh gánh gồng của một đôi gióng nặng nợ “Tứ gióng”. Các quân bài ở pho Văn sử dụng những hình vẽ gần gũi với lối hình học, có những miếng tròn như bánh xe, đồng tiền hay nửa đồng tiền.
Quân bài thuộc pho Vạn thì đều vẽ mặt người. Các quân bài pho Sách lại vẽ những nút tròn nhỏ, giữa vòng tròn có những chấm đen, ngoài ra còn có những đường gạch ngang rất đều có thể hình dung như quấn tròn đều đặn bằng dây mây. Ba cặp bài yêu cũng có hình vẽ tương tự. Trên mỗi con bài không ghi tên, chỉ có hình vẽ làm ký hiệu riêng cho mỗi con bài.
Các làn điệu Bài chòi. Làn điệu hát Bài chòi dựa trên sáu làn điệu chính: Xuân nữ cổ, Xuân nữ mới, Cổ bản, Xàng xê cũ (lụy), Xàng xê mới (dựng), Hồ quảng (còn được gọi là hò quảng). • Điệu Xuân nữ cổ với đặc điểm nổi bật chủ yếu dựa trên thơ Lục bát biến thể với số ca từ nhiều, giai điệu được tiến hành với nhịp độ hơi nhanh và được đẩy lên âm khu cao, tạo nên tính chất sôi nổi, cuốn hút. Vì vậy, làn điệu Xuân nữ cổ thường được dùng để áp dụng vào các câu hát có tính chất dí dỏm, hài hước, hoặc trong ca kịch Bài chòi dùng để kể chuyện và thể hiện tính cách giận dỗi, dằn xóc của nhân vật.
• Điệu Xuân nữ mới sử dụng lời ca là thơ lục bát và một số ít thơ lục bát biến thể ít từ, nhịp độ hơi chậm hơn so với điệu Xuân nữ cổ. Giai điệu nhẹ nhàng, mượt mà, trữ tình, da diết… phù hợp với những câu hát mang tâm trạng tự sự, bộc bạch, nhắn gửi, tâm tình, nhớ nhung… • Điệu Cổ bản, thường được sử dụng mở đầu cho cuộc chơi Bài chòi để giới thiệu sơ lược tất cả các con bài trong bộ bài Tỳ. Nhìn chung, điệu Nam xuân được sử dụng không nhiều trong Hát Bài chòi ở Quảng Nam. Nhịp điệu của điệu này nhanh hơn so với điệu Xuân nữ.
Tính chất giai điệu tươi vui, trong sáng, pha 25 chút tinh nghịch, khỏe khoắn. “Bài chòi Nam xuân trong sáng, khỏe khoắn. Với cách pha trộn tiết tấu, kết hợp ngữ khí có thể diễn tả tính chất đểu giả, kệch cỡm • Điệu Xàng xê lụy sử dụng chủ yếu là thơ lục bát, nhịp độ rất chậm, tiết tấu ổn định, ít đảo phách. Giai điệu mang tính chất trữ tình, da diết, bi lụy.
Âm khu thường nằm ở âm khu trung và trầm, đôi khi giai điệu cũng được đưa lên âm khu cao với mục đích xây dựng cao trào. Trong ca kịch Bài chòi, điệu Xàng xê lụy thường được dùng cho các nhân vật trung thực, hiền lương, địa vị thấp trong xã hội, thể hiện tâm trạng buồn tủi, mất mát, ai oán, than vãn,… • Khác với điệu Xàng xê lụy, điệu Xàng xê dựng sử dụng thơ lục bát và lục bát biến thể, tiết tấu dùng nhiều đảo phách, nhịp độ hơi nhanh. Giai điệu thường nằm trên âm khu cao, cảm giác trong sáng, hùng hồn. “Bài 46 chòi Xàng xê buồn bã, bi thảm; khi dựng lên, tính chất khẳng khái, đấu tranh” • Điệu Hò Quảng sử dụng chủ yếu là thơ lục bát, đôi khi sử dụng lục bát biến thể ít từ.
Nhịp điệu hơi nhanh, dùng nhiều tiết tấu đảo phách, giai điệu tươi sáng nhộn nhịp. Nhìn chung, điệu Hò Quảng có tính chất vui tươi, trong sáng thể hiện tình cảm vui mừng, phấn khởi, thắng lợi,… Ở Đà Nẵng, Bài chòi còn tiếp thu những làn điệu khác: hò khoan, hát ru, vọng kim lang, vè quảng lý thương nhau, hò giã vôi, hoa chúc, các điệu lý như: lý hò hê, lý tình tang, lý vọng phu, lý vãi chài… Cộng với ảnh hưởng của lối hát lối nói tuồng mà hình thành nên những làn điệu bài chòi rất độc đáo. Bài chòi ở Đà Nẵng mang đậm tính dân gian và tích hợp được nhiều âm giai, âm hưởng của dân ca Quảng Nam, đặc biệt là lối vừa hô bài chòi, vừa hát. Nghệ thuật diễn xướng cũng đóng một phần quan trọng làm nên thành công của một hội Bài chòi.
Trong phần diễn xướng chủ yếu là xướng, bao gồm: nói lối, xuống hò và hát. Nói lối: là hình thức mở đầu trong Bài chòi, nói có vần, có lối những bài thơ dân gian, hát tự do, không nhịp điệu, không tiết tấu. Mở đầu hội Bài chòi 26 không phải lúc nào cũng nói lối, mà có thể có nhiều cách khác nhau: nói lối xuống hò vào hát, không xuống hò vào hát, không nói lối vào hát ngay, nói thường vào hát. Xuống hò: sau nói lối là xuống hò, đóng vai trò lấy hơi, để ổn định điệu thức hoặc để “kết đoạn” sau một đoạn hát.
Hát : hát Bài chòi từ lối chơi dần dần trở thành một hình thức diễn xướng dân ca, dùng thơ lục bát, lục bát biến thể, song thất lục bát, thơ mới… Hát trên nền ngũ cung hơi nam giọng oán, với các làn điệu cổ truyền Xuân nữ, Cổ bản, Xàng xê, Hồ quảng… những câu có thể ngắn, giản dị như những câu đố vui hoặc có thể dài mang tính chất tự sự, trữ tình… 1. Về thể thơ, kết cấu và ngôn ngữ. Bài bản của lời hát Bài chòi đang thực hành ở Đà Nẵng là những bài thơ bốn chữ, năm chữ theo điệu vè và phổ biến nhất là thơ lục bát (6/8), lục bát biến thể, song thất lục bát. Nhờ ai đỗ tổng đỗ nghề Nhờ ai lên xuống ngựa xe huy hoàng Nhờ ai ta chiếm được bảng vàng Ngoài công cha mẹ, còn mang ơn Thầy Về kết cấu lời hát Bài chòi thường được sáng tác theo một khuôn mẫu, đồng thời, có sự sáng tạo thêm trong từng hoàn cảnh của anh Hiệu.
Bên cạnh đó lời ca bài chòi còn có kết cấu một vế đơn giản, và kết cấu hai vế theo dạng ca dao đố - giải. Về ngôn ngữ, thổ âm địa phương được biểu hiện rõ nét trong lời hô/hát Bài chòi của anh Hiệu ở Đà Nẵng, đó là tiếng nói của người Quảng Nam. Ngôn ngữ 27 trong lời hô/hát Bài chòi giàu tính hình tượng, mang tính tự sự và trữ tình cao, tạo sự liên tưởng cho người nghe để đoán định con bài sắp ra và hiểu được nội dung lời ca bài chòi biểu đạt nội dung gì. Về tiết tấu và âm nhạc Bài chòi.
Về tiết tấu, chỉ có nhịp đôi đều đặn hay nhịp ba bỏ một nhịp, nhưng cũng có thể biến tấu. Âm nhạc Bài chòi là thành phần quan trọng tạo ra phong cách Bài chòi ở mỗi vùng miền. Nhìn chung, ở Đà Nẵng nói riêng và Quảng Nam nói chung về âm nhạc Bài chòi có hai hình thức là nhạc hát (Hô Thai/Hô Bài Thai) và dàn nhạc đệm cho hát. Về động tác sử dụng trong nghệ thuật hô/hát Bài chòi chủ yếu là những động tác giống như trong nghệ thuật hát tuồng, ngoài ra, còn có các điệu như múa sắc bùa, lục cúng, bát dạo… 1.
Về nội dung lời hát Bài chòi. Trong lời hát của anh Hiệu, có thể bắt gặp được những lời tự sự về sinh hoạt hàng ngày, lao động sản xuất, ca ngợi tình làng nghĩa xóm, cách đối nhân xử thế, hay phê phán những thói hư tật xấu ở đời… Có thể nói, hô hát Bài chòi đầu Xuân là một trong những nét văn hoá truyền thống dân gian rất độc đáo và mang tính đặc trưng của vùng đất và con người xứ Quảng nói chung và Đà Nẵng nói riêng.