Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Đưa một vài làn điệu dân ca bài chòi vào chương trình ngoại khóa tại trường Trung học phổ thông Thanh Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng" do sinh viên Bùi Thanh Tùng thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Hoàng Đình Phương (Khoa Giáo dục Nghệ thuật, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, chuyên ngành Sư phạm Âm nhạc, khóa 20, bảo vệ tháng 04/2024). Đề tài thuộc lĩnh vực khoa học giáo dục âm nhạc và phương pháp dạy học bộ môn nghệ thuật truyền thống trong nhà trường phổ thông.

Lý do chọn đề tài xuất phát từ giá trị văn hóa và thực tiễn bảo tồn di sản tại địa phương. Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ Việt Nam đã được UNESCO ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào tháng 12 năm 2017. Tại thành phố Đà Nẵng, nghệ thuật Bài chòi gắn bó lâu đời với đời sống tinh thần cư dân, tiêu biểu như huyện Hòa Vang trong thập niên 1990 từng có tới 30 đội dân ca bài chòi. Tuy nhiên, trước xu hướng hội nhập văn hóa và sự du nhập của các trào lưu giải trí mới, học sinh trung học phổ thông (THPT) có xu hướng thờ ơ với âm nhạc truyền thống, dẫn đến nguy cơ mai một di sản địa phương. Cùng với chủ trương của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng về việc truyền bá các loại hình dân ca vào trường học, việc xây dựng mô hình giáo dục âm nhạc di sản tại cấp THPT trở thành một nhu cầu cấp bách.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể nhằm:

  1. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian Bài chòi trong môi trường học đường.
  2. Giáo dục đa văn hóa, nâng cao hiểu biết và sự tôn trọng của học sinh đối với các giá trị truyền thống bản địa.
  3. Khơi nguồn cảm hứng sáng tạo nghệ thuật, rèn luyện kỹ năng biểu diễn, sự tự tin và năng lực giao tiếp cho học sinh.
  4. Tăng cường mối liên kết giáo dục giữa nhà trường và cộng đồng nghệ nhân địa phương.
  5. Góp phần duy trì, trao truyền di sản văn hóa phi vật thể cho thế hệ trẻ.

Nhiệm vụ nghiên cứu chính của đề tài là xây dựng chương trình áp dụng đưa dân ca bài chòi vào dạy học ngoại khóa cho học sinh trường THPT Thanh Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Đối tượng nghiên cứu là hoạt động dạy học dân ca Bài chòi trong chương trình ngoại khóa tại nhà trường. Phạm vi không gian và thời gian nghiên cứu giới hạn tại Trường THPT Thanh Khê trong năm học 2023 – 2024.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về cơ sở lý thuyết, tác giả kế thừa các công trình nghiên cứu âm nhạc dân gian và giáo trình chuyên ngành ca kịch Bài chòi:

  • Giáo trình Nghệ thuật ca kịch Bài chòi (2005) do NSƯT Hoàng Lê chủ biên (Trường Trung học Văn hóa Nghệ thuật Bình Định), tập trung vào quy trình luyện thanh, luyện giọng điệu và kỹ thuật thể hiện các làn điệu Bài chòi.
  • Các công trình nghiên cứu lịch sử và âm nhạc học của Trương Đình Quang (Men rượu hồng đào, 2005; Ca nhạc Bài chòi - Ca nhạc kịch hát bài chòi, 2009), GS. Hoàng Chương (Bài chòi và dân ca liên khu 5, 2007), Trần Hồng (Dân ca Đất Quảng, 1997), cùng Kỷ yếu Hội thảo quốc tế về Nghệ thuật Bài chòi dân gian Việt Nam.
  • Khung lý thuyết về đặc trưng âm nhạc dân gian xứ Quảng: thang ngũ cung hơi nam giọng oán, kết cấu thơ lục bát và lục bát biến thể, nhịp điệu bài chòi kết hợp thủ pháp nói lối, xuống hò và hát.

Về phương pháp nghiên cứu, khóa luận kết hợp các phương pháp nghiên cứu lý luận, thực tiễn và can thiệp sư phạm:

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh: Phân tích tư liệu lịch sử, đặc điểm âm nhạc của từng làn điệu và đối chiếu các phương pháp truyền dạy dân gian với phương pháp sư phạm hiện đại.
  • Phương pháp khảo sát, phỏng vấn: Thiết lập phiếu khảo sát trên cỡ mẫu ngẫu nhiên gồm 100 học sinh Trường THPT Thanh Khê nhằm đánh giá năng lực hát dân ca theo 4 tiêu chí cụ thể (cao độ, lời dấu, luyến láy, sắc thái).
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học thực nghiệm một tiết học ngoại khóa hoàn chỉnh (thời lượng 1 buổi, 180 phút) với bài hát Bài chòi "Con Sáu Tiền" (làn điệu Xuân nữ mới) để đánh giá tính khả thi và mức độ hứng thú của học sinh.

Nguồn dữ liệu bao gồm số liệu thống kê giáo dục của Trường THPT Thanh Khê (quy mô lớp học, học sinh, đội ngũ, cơ sở vật chất), văn bản pháp quy giáo dục, hồ sơ di sản Bài chòi và kết quả khảo sát thực tế tại đơn vị.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực trạng việc dạy-học dân ca Bài chòi tại trường Trung học phổ thông Thanh Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về nghệ thuật Bài chòi và khảo sát thực trạng giáo dục âm nhạc ngoại khóa tại địa bàn nghiên cứu:

  • Bức tranh dân ca Đà Nẵng: Phân tích ba loại hình tiêu biểu gồm sân khấu Tuồng, hát bả trạo (nghệ thuật diễn xướng gắn với tín ngưỡng thờ cá Ông của ngư dân ven biển) và hát Bài chòi. Bài chòi được chọn đưa vào nhà trường do có tính phổ biến cao nhất và khả năng tương tác cộng đồng mạnh mẽ.
  • Nguồn gốc và diễn xướng Bài chòi: Truyền thuyết gắn nguồn gốc Bài chòi với hoạt động canh giữ thú dữ trên các chòi cao ven rừng vào cuối thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII, kết hợp luận điểm Đào Duy Từ (1572–1634) đặt nền móng hội chơi tại Bình Định. Không gian diễn xướng truyền thống gồm 9 hoặc 11 chòi tre dựng theo đồ hình Bát quái hoặc Thập Can (phổ biến là 9 chòi), có chòi Trung ương lớn gấp đôi dành cho ban tổ chức, đối diện nhà Hội.
  • Cấu tạo bộ thẻ bài: Bộ bài gồm 30 lá chia thành 3 pho (mỗi pho 10 con bài): pho Văn (Tráng Hai, Ba Bụng, Tứ Tượng, Ngũ Rún, Sáu Miểng, Bảy Liễu, Tám Miểng, Chín Cu, Chín Gối, Ông Ầm); pho Vạn (Nhứt Trò, Nhì Bí, Tam Quăng, Tứ Móc, Ngũ Trợt, Lục Trạng, Thất Vung, Bát Bồng, Cửu Chùa, Bạch Huê); pho Sách (Nhứt Nọc, Nhì Nghèo, Ba Gà, Tứ Sách, Ngũ Trưa, Sáu Hột, Bảy Thưa, Tám Dây, Cửu Điều, Tứ Cẳng). Ba cặp bài yêu có màu đỏ là Ông Ầm, Cửu Điều và Tứ Cẳng.
  • Hệ thống 6 làn điệu Bài chòi chính:
    1. Xuân nữ cổ: Chủ yếu dùng thơ lục bát biến thể nhiều từ, nhịp độ hơi nhanh, âm khu cao, tính chất sôi nổi, dí dỏm hoặc dằn xóc.
    2. Xuân nữ mới: Lời thơ lục bát ngắn gọn, nhịp độ chậm hơn điệu cổ, tính chất nhẹ nhàng, trữ tình, tự sự, da diết.
    3. Cổ bản (Nam xuân): Dùng mở đầu cuộc chơi để giới thiệu quân bài; tính chất tươi vui, trong sáng, khỏe khoắn xen chút tinh nghịch.
    4. Xàng xê lụy: Nhịp độ rất chậm, tiết tấu ổn định, âm khu trung - trầm, tính chất bi thương, ai oán, dùng cho tâm trạng than vãn.
    5. Xàng xê dựng: Dùng nhiều đảo phách, nhịp độ hơi nhanh, âm khu cao, tính chất khẳng khái, hùng hồn, thể hiện sự đấu tranh.
    6. Hò Quảng: Lời thơ lục bát, nhịp điệu nhanh, nhiều đảo phách, tính chất tươi sáng, rộn ràng, phấn khởi.
  • Thực trạng Trường THPT Thanh Khê: Trường thành lập theo Quyết định số 4898/QĐ-UBND ngày 26/6/2007 của UBND TP. Đà Nẵng từ nguồn đóng góp của đồng bào và bạn bè quốc tế hỗ trợ nạn nhân bão Chanchu. Quy mô trường gồm 33 lớp, 1429 học sinh; tổng diện tích gần 26.000 m2 với 20 phòng học, 3 phòng thực hành Lý - Hóa - Sinh, 1 phòng Tin học, 1 phòng Ngoại ngữ và nhà đa năng. Đội ngũ gồm 86 cán bộ, giáo viên, nhân viên (3 cán bộ quản lý, 78 giáo viên, 11 nhân viên; tỷ lệ giáo viên/lớp đạt 2,3).
  • Thực trạng dạy học âm nhạc ngoại khóa: Trường hoàn toàn chưa có giáo viên biên chế chuyên trách môn Âm nhạc. Các hoạt động âm nhạc chủ yếu lồng ghép trong hoạt động trải nghiệm theo chủ điểm tháng hoặc hội diễn kỷ niệm các ngày lễ lớn (15/10, 20/10, 20/11, 22/12, 8/3, 26/3). Dân ca bài chòi từng được ứng dụng trong cuộc thi "Gen Z xứ Quảng" (làn điệu Xuân nữ) và hội thi sáng kiến khoa học kỹ thuật cấp thành phố (bài "Lý thiên thai").
  • Khảo sát năng lực học sinh: Khảo sát ngẫu nhiên 100 học sinh trường về kỹ năng hát dân ca Bài chòi cho kết quả cụ thể:
STT Tiêu chí đánh giá năng lực Tốt (%) Khá (%) Trung bình (%) Yếu (%)
1 Hát chính xác giai điệu 27 40 20 13
2 Hát rõ lời; rõ dấu 27 35 25 13
3 Xử lý các nốt luyến láy 20 28 43 9
4 Thể hiện sắc thái biểu cảm 15 25 37 23

Đánh giá từ bảng số liệu cho thấy học sinh nắm tương đối ổn định về giai điệu và lời dấu (mức Tốt và Khá đạt 62% - 67%), nhưng gặp khó khăn lớn ở kỹ thuật luyến láy (43% xếp loại Trung bình) và biểu cảm sắc thái (mức Yếu chiếm 23%, Trung bình chiếm 37%).

Chương 2: Một số giải pháp dạy học các làn điệu dân ca bài chòi cho học sinh tại trường Trung học phổ thông Thanh Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng

Chương 2 đề xuất hệ thống giải pháp sư phạm và thiết kế tiết dạy thực nghiệm cụ thể:

  • Nhóm giải pháp tổ chức hoạt động:
    1. Khai thác nghệ nhân, nghệ sĩ truyền dạy: Mời các nghệ nhân, nghệ sĩ giàu kinh nghiệm (NNND Trịnh Công Sơn, NNƯT Thanh Châu, NS Hữu Đê, NS Huyền Tân, NS Hoài Thu...) tham gia bồi dưỡng giáo viên, giao lưu, thị phạm và biểu diễn mẫu cho học sinh.
    2. Tổ chức workshop chuyên đề: Hướng dẫn quy cách chơi, luật hô bài chòi, rèn luyện kỹ năng tương tác và giao tiếp văn hóa.
    3. Tổ chức hội thi hát Bài chòi: Phát động thi đua giữa các lớp, nhóm học sinh nhằm khuyến khích sự sáng tạo và làm quen với vai trò anh/chị Hiệu.
    4. Xây dựng dự án nghiên cứu văn hóa: Định hướng học sinh tìm hiểu nguồn gốc, giá trị lịch sử và phương ngữ trong lời ca bài chòi, báo cáo thông qua thuyết trình.
    5. Tổ chức sân chơi văn hóa và liên kết cộng đồng: Lồng ghép Bài chòi vào ngày hội văn hóa dân gian của trường; tham gia các hội thi diễn xướng tại các lễ hội đình làng trên địa bàn quận và thành phố.
  • Thiết kế và tiến hành thực nghiệm sư phạm:
    • Đối tượng và thời lượng: Học sinh Trường THPT Thanh Khê; thời gian thực hiện 1 buổi ngoại khóa (180 phút).
    • Nội dung giảng dạy: Dạy hát làn điệu Xuân nữ mới thông qua con bài "Sáu Tiền". Lời ca gồm 8 câu lục bát mang nội dung giáo dục đạo đức, thái độ lao động chân chính:

      "Đất Đà thành đang thay đổi mới Người người đang vương tới ấm no Làm người phải biết đắn đo Giàu nghèo đâu phải là do ở ông trời Mà giàu nghèo là do ở con người Từ bàn tay khối óc ta thời làm ra Kiếm được đồng xu cũng trốc vẫy trầy da Có đâu phè phỡn kiếm đâu ra con Sáu Tiền"

    • Quy trình tổ chức 4 bước thực nghiệm:
      • Bước 1 (Mở đầu): Tổ chức trò chơi âm nhạc nhận diện các nhạc cụ dân tộc.
      • Bước 2 (Hình thành kiến thức mới): Tìm hiểu ý nghĩa lời ca con bài Sáu Tiền, luyện thanh khởi động giọng (1-2 phút), nghe giáo viên trình bày mẫu và hướng dẫn học hát từng câu.
      • Bước 3 (Luyện tập – thực hành): Chia lớp thành 4 nhóm để luyện tập chuẩn xác cao độ, nhịp phách và kỹ thuật luyến láy.
      • Bước 4 (Trải nghiệm – sáng tạo): Chia lớp thành 2 nhóm thực hiện hát đối ứng kết hợp gõ đệm bằng thanh phách hoặc song lan (nhóm 1 gõ phách thì nhóm 2 hát và hoán đổi ngược lại).
    • Kế hoạch bài dạy mẫu chi tiết: Giáo án xác định mục tiêu 3 phần (Kiến thức, Kỹ năng, Thái độ), chuẩn bị phương tiện dạy học (máy chiếu trình chiếu lời ca, hình ảnh con bài Sáu Tiền, nhạc cụ gõ phụ trợ song lan, thanh phách) và phân đoạn lời ca làm 4 câu đôi để luyện tập cuốn chiếu.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể thông qua số liệu khảo sát và can thiệp thực tế:

  • Định lượng hiện trạng: Cung cấp bảng số liệu thực chứng trên 100 học sinh, chỉ ra chính xác điểm yếu của học sinh phổ thông khi tiếp cận dân ca: 52% học sinh ở mức trung bình và yếu về kỹ thuật luyến láy; 60% học sinh ở mức trung bình và yếu về năng lực biểu cảm sắc thái bài chòi.
  • Đánh giá thực nghiệm: Tiết dạy ngoại khóa 180 phút về con bài "Sáu Tiền" theo làn điệu Xuân nữ mới bước đầu chứng minh tính hiệu quả của phương pháp chia câu, luyện thanh định hướng và hoạt động gõ phách tương tác. Học sinh tiếp thu bài hào hứng, giải tỏa áp lực học tập và thay đổi nhận thức đối với nghệ thuật truyền thống.
  • Hệ thống hóa bài bản giáo án ngoại khóa: Xây dựng kế hoạch bài dạy mẫu hoàn chỉnh về làn điệu Xuân nữ mới có cấu trúc phân minh, kết hợp phương tiện trực quan (powerpoint, tranh ảnh thẻ bài) và nhạc cụ gõ gõ đệm (song lan, thanh phách), làm căn cứ thực hành cho các trường phổ thông chưa có giáo viên âm nhạc.
  • Đóng góp so với nghiên cứu trước: Khác với các giáo trình chuyên nghiệp đào tạo diễn viên ca kịch (như giáo trình của NSƯT Hoàng Lê chú trọng kỹ thuật sân khấu trung cấp), tác giả đã đơn giản hóa phương pháp truyền dạy, chuyển hóa di sản diễn xướng dân gian thành mô hình sinh hoạt ngoại khóa và trải nghiệm sáng tạo phù hợp với tâm lý lứa tuổi học sinh THPT trong bối cảnh nhà trường thiếu biên chế giáo viên âm nhạc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự chỉ ra những hạn chế bắt nguồn từ điều kiện nghiên cứu thực tế tại đơn vị:

  • Trường THPT Thanh Khê chưa có giáo viên chuyên trách môn Âm nhạc, gây khó khăn cho việc duy trì hoạt động giảng dạy thường xuyên và chuẩn hóa chuyên môn sâu.
  • Dân ca Bài chòi hiện chưa nằm trong chương trình chính khóa THPT, khiến nhà trường gặp nhiều trở ngại trong việc bố trí quỹ thời gian và lịch trình ngoại khóa ổn định.
  • Cơ sở vật chất, nhạc cụ truyền thống và tài liệu tham khảo dành riêng cho việc dạy học dân ca Bài chòi trong nhà trường phổ thông chưa được đầu tư đồng bộ; hệ thống giáo trình dạy hát di sản chưa có sự thống nhất giữa các trường trên địa bàn.
  • Thực nghiệm sư phạm mới chỉ dừng lại ở quy mô 1 buổi học (180 phút) với một làn điệu duy nhất (Xuân nữ mới - con bài Sáu Tiền), chưa đủ thời lượng để kiểm chứng sự tiến bộ lâu dài về kỹ thuật xử lý luyến láy và các làn điệu phức tạp hơn (Xàng xê, Hò Quảng).

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung mở rộng thực nghiệm trên các làn điệu còn lại; biên soạn tài liệu hướng dẫn học hát bài chòi đồng bộ cho các khối lớp; tổ chức liên kết đào tạo thường xuyên giữa các câu lạc bộ nghệ nhân với Đoàn trường THPT.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Sinh viên ngành Sư phạm Âm nhạc: Cung cấp phương pháp thiết kế giáo án thực nghiệm, quy trình chuyển thể làn điệu dân ca truyền thống sang bài dạy thực hành cho học sinh phổ thông.
  • Giáo viên THPT và cán bộ Đoàn - Hội: Cung cấp khung tham chiếu về cách thức tổ chức hoạt động ngoại khóa, chuyên đề trải nghiệm văn hóa dân gian khi trường học không có giáo viên âm nhạc chuyên trách.
  • Nhà quản lý giáo dục địa phương: Báo cáo cung cấp các số liệu khảo sát thực chứng về năng lực và tâm lý học sinh THPT đối với dân ca Bài chòi, phục vụ công tác lập kế hoạch đưa di sản vào trường học theo chỉ đạo của UBND TP. Đà Nẵng.
  • Các phần đáng tham khảo nhất trong văn bản: Bảng dữ liệu khảo sát 4 tiêu chí năng lực âm nhạc của 100 học sinh (Trang 37); bản mô tả chi tiết đặc điểm cấu trúc 3 pho bài chòi và 6 làn điệu chính (Trang 21-25); tiến trình thiết kế bài giảng mẫu 4 bước và kế hoạch bài dạy chi tiết con bài "Sáu Tiền" (Trang 42-48).

Câu hỏi thường gặp

1. Khảo sát thực trạng tại Trường THPT Thanh Khê cho thấy học sinh gặp khó khăn nhất ở tiêu chí nào khi hát dân ca Bài chòi?
Dựa trên kết quả khảo sát 100 học sinh, tiêu chí học sinh thể hiện hạn chế nhất là "Thể hiện sắc thái biểu cảm" với 23% xếp loại Yếu và 37% xếp loại Trung bình (tổng cộng 60% dưới mức khá). Tiêu chí "Xử lý các nốt luyến láy" cũng là điểm nghẽn với 43% xếp loại Trung bình và 9% xếp loại Yếu.

2. Điểm đặc thù về đội ngũ giáo viên âm nhạc và cơ sở vật chất của Trường THPT Thanh Khê được văn bản ghi nhận là gì?
Về nhân sự, Trường THPT Thanh Khê có 86 cán bộ, giáo viên, nhân viên nhưng hoàn toàn chưa có giáo viên biên chế dạy bộ môn Âm nhạc. Về cơ sở vật chất, trường có diện tích gần 26.000 m2 với 20 phòng học, 3 phòng thực hành Lý - Hóa - Sinh, 1 phòng Tin học, 1 phòng Ngoại ngữ và nhà đa năng, song các thiết bị chuyên dụng phục vụ giảng dạy âm nhạc dân tộc chưa được đầu tư đồng bộ.

3. Bộ thẻ bài chòi gồm bao nhiêu lá bài và được phân chia theo cấu trúc như thế nào?
Bộ bài gồm 30 lá bài tre dán hình vẽ, chia thành 3 pho (mỗi pho 10 con bài): pho Văn, pho Vạn và pho Sách. Khi tổ chức hội chơi 9 hoặc 11 chòi, bộ bài bổ sung thêm 3 con bài xếp thành 3 cặp yêu có màu đỏ phân biệt là Ông Ầm, Cửu Điều và Tứ Cẳng (các con bài còn lại đều màu đen).

4. Sáu làn điệu Bài chòi chính được tác giả phân tích có những đặc trưng tính chất gì?
Sáu làn điệu gồm: Xuân nữ cổ (sôi nổi, dí dỏm, nhịp hơi nhanh), Xuân nữ mới (trữ tình, tự sự, nhịp hơi chậm), Cổ bản hay Nam xuân (tươi vui, trong sáng, khỏe khoắn), Xàng xê lụy (ai oán, bi lụy, nhịp rất chậm, âm khu trầm), Xàng xê dựng (hùng hồn, khẳng khái, nhiều đảo phách) và Hò Quảng (tươi sáng, rộn ràng, nhịp nhanh).

5. Trong tiết dạy thực nghiệm, tác giả đã chọn bài hát nào và tổ chức luyện tập theo các bước ra sao?
Tác giả chọn dạy con bài "Sáu Tiền" viết theo làn điệu Xuân nữ mới với lời thơ lục bát về đạo đức lao động. Tiết dạy dài 180 phút gồm 4 bước tổ chức: Khởi động nhận diện nhạc cụ dân tộc -> Hình thành kiến thức (tìm hiểu lời, luyện thanh, nghe hát mẫu, tập 4 câu) -> Luyện tập thực hành (chia 4 nhóm) -> Trải nghiệm sáng tạo (2 nhóm luân phiên vừa hát vừa gõ phách/song lan).

Kết luận

Khóa luận của Bùi Thanh Tùng đã khảo sát toàn diện thực trạng dạy học âm nhạc ngoại khóa tại Trường THPT Thanh Khê, làm rõ rào cản về nhân sự chuyên trách và sự thiếu hụt tài liệu chuẩn hóa di sản bài chòi trong nhà trường. Bằng việc hệ thống hóa 6 làn điệu truyền thống và thực nghiệm thành công bài giảng con bài "Sáu Tiền" (điệu Xuân nữ mới), đề tài chứng minh khả năng đưa nghệ thuật Bài chòi vào trường phổ thông thông qua các mô hình ngoại khóa, workshop và trải nghiệm sáng tạo. Công trình đóng góp một giải pháp sư phạm thực tiễn, góp phần hiện thực hóa chủ trương bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO tại thành phố Đà Nẵng.