Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về cây thanh long 1.1 Nguồn gốc và đặc điểm Cây thanh long Hylocereus polyrhizus thuộc chi Hylocereus họ xương rồng được trồng chủ yếu để lấy quả. Thanh long là loài thực vật bản địa tại Mexico, các nước Trung Mỹ và Nam Mỹ. Hiện nay, loài cây này cũng được trồng ở các nước trong khu vực Đông Nam Á như Việt Nam, Malaysia, Thái Lan, Philippines, Indonesia, miền nam Trung Quốc, Đài Loan và một số khu vực khác. Thanh long dễ sống, dễ trồng, mọc được trên nhiều loại đất khác nhau như đất xám bạc màu (Bình Thuận), đất phèn và phù sa (Đồng bằng sông Cửu Long), đất đỏ latosol (Long Khánh, Đồng Nai).
Cây thanh long ưa nóng và ẩm, sợ ngập úng. Nhiệt độ thích hợp cho thanh long tăng trưởng và phát triển là 14 – 260C và tối đa 38 – 400C. Trong điều kiện có sương giá nhẹ với thời gian ngắn sẽ gây thiệt hại nhẹ cho thanh long. Quả của thanh long có ba loại, tất cả đều có vỏ giống như da và có một chút lá: Hylocereus undatus thuộc chi Hylocereus, ruột trắng với vỏ hồng hay đỏ.
Hylocereus polyrhizus thuộc chi Hylocereus, ruột đỏ với vỏ hồng hay đỏ. Hylocereus megalanthus thuộc chi Selenicereus, ruột trắng với vỏ vàng. Quả thanh long hình bầu dục có nhiều tai lá xanh (do phiến hoa còn lại), đầu quả lõm sâu tạo thành “hốc mũi”. Khi còn non vỏ quả màu xanh, lúc chín chuyển qua đỏ tím rồi đỏ đậm.
Thịt quả màu trắng cho đại đa số thanh long trồng ở miền Nam Việt Nam. Mỗi quả có rất nhiều hạt nhỏ giống như hạt vừng đen nằm lẫn lộn trong thịt quả. Do hạt nhỏ và mềm nên không làm phiền người ăn như hạt của một số loại quả khác. Lớp cùi thịt trong ruột thường được ăn ở dạng quả tươi, có mùi vị thơm dịu, ngọt vừa phải và ít cung cấp calo.
Phần thịt quả có thể chế biến thành nước quả hay rượu vang, hoa có thể 3 ăn được hay ngâm vào nước giống như chè. Mặc dù các hạt bé tí xíu của chúng được ăn cùng với thịt của ruột quả nhưng chúng không bị tiêu hóa.1 3 loại quả thanh long. (A) Thanh long ruột trắng, vỏ đỏ Hylocereus undatus; (B) Thanh long ruột đỏ, vỏ đỏ Hylocereus polyrhizus; (C) Thanh long ruột trắng, vỏ vàng Hylocereus megalanthus.2 Tình hình sản xuất Hiện nay ở nước ta trồng chủ yếu hai loại thanh long là: ruột trắng vỏ đỏ và ruột đỏ vỏ đỏ. Thanh long ruột trắng vỏ đỏ: hiện được trồng chủ yếu tại các tỉnh Bình Thuận, Long An, Tiền Giang.
Còn thanh long ruột đỏ vỏ đỏ, có hai loại khác nhau là: thanh long ruột đỏ giống Đài Loan và thanh long ruột đỏ lai tạo của 2 giống thanh long ruột trắng Việt Nam và thanh long ruột đỏ có nguồn gốc từ Colombia. Thanh long bắt đầu ra hoa, kết trái vào thời điểm cuối xuân, đầu hè và mùa chính vụ kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10. Từ khi phát hiện thanh long ra hoa trái vụ bằng cách chông đèn vào ban đêm, người trồng thanh long đã “điều chỉnh” cho thanh long kết trái vào bất kỳ thời điểm nào trong năm. Thời gian từ khi hoa nở rộ đến thu hoạch từ 28 – 35 ngày.
Mặc dù thanh long là loại cây tương đối ít sâu bệnh, song vẫn có một số dịch hại trên thanh long mà phổ biến là côn trùng và bệnh hại: kiến, rầy mềm, ruồi đục trái, bệnh thối đầu cành, bệnh đốm nâu thân cành, bệnh nám cành, v. ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng trái. Ngoài ra còn một số bệnh sinh lý như rụng nụ do quá nhiều hoặc phân bón không đầy đủ, mất cân đối, hiện tượng nứt vỏ do thời tiết khô hạn sau đó mưa 4 nhiều làm ruột quả phát triển mạnh hoặc teo trái lâu ngày. Do đó cần phải kiểm soát không để bị khô hạn và phòng trừ bệnh để nâng cao hiệu quả sản xuất.
Việt Nam là nước có diện tích và sản lượng thanh long lớn nhất châu Á và cũng là nước xuất khẩu thanh long hàng đầu thế giới. Thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN-PTNT) cho thấy, hiện nay có 60/63 tỉnh thành trồng thanh long, diện tích trồng thanh long đến năm 2018 là 54. Tuy nhiên, diện tích tập trung lớn nhất là: Bình Thuận, Long An, Tiền Giang (3 tỉnh này đã có hơn 48.000 ha) tiếp theo là Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai, một số tỉnh Tây Nguyên và các tỉnh phía Bắc. Diện tích trồng thanh long tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đạt hơn 245,1 ha năm 2015, diện tích trồng mới không ngừng tăng theo từng năm.
Diên tích trồng Thanh long tỉnh Đồng Nai đạt 525,4 ha năm 2015, diện tích trồng mới không ngừng tăng theo từng năm. Hiện nay Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thực hiện quy hoạch phát triển vùng cây ăn trái để năng cao chất lượng, năng suất và tạo sự cạnh tranh cho thanh long.2 Sơ lược về tuyến trùng hại thực vật Tuyến trùng thuộc ngành giun tròn (Nematodes) là những động vật không xương sống có môi trường sống và hệ sinh thái đa dạng trên trái đất. Có khoảng 90% số lượng cá thể trong thế giới động vật đa bào là tuyến trùng. Tuyến trùng có thể sinh sống trong đất quanh rễ cây trồng, cây hoang dại, trong các hệ sinh thái nước ngọt, nước lợ vùng cửa sông, ở biển cả và ở vùng nước sâu của các đại dương.
Chúng còn có thể ký sinh ở người, động vật có xương sống, không xương sống trên cạn, dưới nước và ở cả các cây trồng và cây hoang dại khác nhau mà ta quen gọi chúng là tuyến trùng ký sinh. Ngoài ra còn có các nhóm tuyến trùng khác như nhóm tuyến trùng ăn nấm, vi khuẩn; nhóm tuyến trùng thực vật sống hoại sinh trên các mô tế bào thối rữa v., còn có nhóm tuyến trùng ăn thịt có lợi. Tuyến trùng sống trong các hệ sinh thái đất ẩm ướt, đất ngập nước rất phong phú và đa dạng, chúng được xem là nhóm động vật chiếm ưu thế tuyệt đối về số lượng loài cũng như số lượng cá thể trong các nhóm động vật đáy. Sự đa dạng cao về thành phần loài cũng như số lượng cá thể phong phú của chúng là chỉ số sinh học 5 đáng tin cậy cho phép con người có thể đánh giá mức độ bền vững của các môi trường đất và thủy vực (Nguyễn Vũ Thanh, 2007).
Theo số liệu thống kê, có khoảng 50% tuyến trùng sống ở biển, 25% tuyến trùng sống tự do và 25% tuyến trùng sống ký sinh. Trong đó, 15% ký sinh ở động vật và 10% ký sinh ở thực vật (Nguyễn Ngọc Châu, 2003). Tuyến trùng ký sinh thực vật là nhóm tuyến trùng sống chủ yếu trong đất và có quan hệ chặt chẽ với thực vật đang phát triển. Chúng sống và ký sinh ở tất cả các phần của cây gồm: rễ, thân, lá và hoa.
Chúng có thể sống dinh dưỡng trên bề mặt những mô ngoài của thực vật hoặc xâm nhập vào bên trong để ký sinh tạo ra nguồn dinh dưỡng phù hợp. Chúng có thể gây ra nhiều biến đổi như: phá hủy mô thực vật, tạo vết thương, các biến đổi sinh lý, sinh hóa bình thường của cây chủ. Các phần của cây bị tuyến trùng gây hại có thể bị tấn công bởi các tác nhân gây bệnh khác như: vi khuẩn, nấm mốc và virus (Nguyễn Ngọc Châu, 2003). Dựa vào đặc điểm hình thái, giải phẫu và tính ký sinh ở thực vật thì tuyến trùng ký sinh thực vật được chia thành 4 bộ: Bộ Tylenchida gồm hầu hết các loài tuyến trùng đại diện cho các nhóm ký sinh ở các phần khác nhau của thực vật.
Bộ Aphelenchida gồm loài tuyến trùng ký sinh ở các phần trên mặt đất của cây như lá, hoa. Bộ Dorylaimida gồm các loài họ Longidoridae là nhóm tuyến trùng ngoại ký sinh thực vật, một số loài có khả năng lan truyền virus. Bộ Triplonchida gồm các loài của hai họ Trichodoridae và Diphterophoridae là nhóm ngoại ký sinh thực vật, nhiều loài có khả năng lan truyền virus. Trong đó, bộ Tylenchida là nhóm tuyến trùng đông đảo nhất và có tầm quan trọng nhất trên thế giới (Nguyễn Ngọc Châu và Nguyễn Vũ Thanh, 2000).1 Bảng khóa định giống tuyến trùng ký sinh thực vật tại Việt Nam theo Nguyễn Ngọc Châu và Nguyễn Vũ Thanh (2000).
Bộ và Phân bộ Họ Giống TYLENCHIDA TYLENCHINA Anguinidae Ditylenchus Dolichodoridae Dolichodorus Belonolaimidae Tylenchorhynchus Trophorus Trichotylenchus Hoplolaimidae Scutellonema Rotylenchus Helicotylenchus Hoplolaimus Rotylenchulus Heteroderidae Meloidogyne Pratylenchidae Hirschmanniella Pratylenchus Criconematidae Criconemella Criconema Discocriconemella 7 Hemicriconemoides Caloosia Tylenchulidae Tylenchulus Paratylenchus APHELENCHIDA APHELENCHINA Aphelenchidae Aphelenchus Paraphelenchidae Paraphelenchus Aphelenchoididae Aphelenchoides DORYLAINIDA DORYLAIMINA Longidoridae Xiphinema Longidorus Paralongidorus TRIPLONCHIDA DIPHTEROPHORINA Diphterophoridae Diphterophora Trichodoridae Trichodorus Paratrichodorus 1.3 Biểu hiện thanh long bị tuyến trùng Tuyến trùng tấn công vào rễ, làm rễ bị tổn thương, u sưng và thối rễ. Do rễ bị hư nên từ đó cây sinh trưởng kém, cành nhanh bị ngã vàng, còi cọc, teo tóp, không nảy chồi mới rất dễ nhằm với triệu chứng thiếu phân, thiếu nước. Khi cây bệnh nặng có sự kết 8 hợp vi sinh vật Phytopthora sp. Thì rễ thối nhanh chóng và có thể nhổ một cành lên một cách dễ dàng.
Tuyến trùng thường xâm nhập vào đầu rễ. Vết bệnh sẽ làm theo rễ, màu nâu, nếu bị thối hỏng biểu hiện vết bệnh nâu đỏ chuyển sang màu đen. Tuyến trùng không gây cây chết ngay nhưng làm cho cây không phát triển bình thường, làm cây thiếu sức sống. Bên cạnh đó, chúng tạo ra các vết thương “mở đường” cho các vi sinh vật có hại khác xâm nhập dễ dàng hơn, khả năng cây bệnh cao hơn.
Ngoài ra, tuyến trùng còn có thể truyền virus gây bệnh cho cây.4 Thành phần tuyến trùng ký sinh trên cây thanh long Theo các nghiên cứu ở Đài Loan (Chen, D.2) tìm thấy một giống tuyến trùng gây hại trên thanh long. - Giống Meloidogyne sp. (Goeldi, 1892): Tuyến trùng thuộc họ Heteroderidae. Thường dị hình sinh dục.
Con cái trưởng thành hình quả lê hoặc hình cầu, nằm sâu trong rễ. Đường kính cơ thể khoảng 0,5 – 0,7 mm. Con đực hình giun sống tự do trong đất, dài 1 – 2 mm. Kim hút ngắn và khỏe.
Lổ bài tiết thường nằm gần gốc kim hút. Đuôi hình chóp, phần cuối của đuôi thường là khoảng trong với chiều dài khác nhau. - Giống Pratylenchus sp. (Filipjev, 1936): Tuyến trùng họ Pratylenchidae.
Vùng môi thấp, bằng với các vòng cutin. Kim hút không lớn nhưng rất khỏe với núm gốc to hình tròn. Đuôi con cái hình chóp, mút đuôi trơn tù. Vùng bên có 4 hoặc 6 đường bên.
- Giống Tylenchorhynchus sp. (Cobb, 1913): Tuyến trùng thuộc họ Balonolaimidae. Cơ thể dạng chỉ có nhiều dài trung bình. Đường bên có thể là 2, 3, 4 hoặc 5 đường bên.