Khóa luận tốt nghiệp: Khảo sát tuyến trùng ký sinh trên cây thanh long tại Đông Nam Bộ

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu 27 02 22 khóa luận tốt nghiệp hồ minh cường bảng đã chỉnh sửa, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải pháp cụ thể cho vấn đề .

Chuyên ngành

Bảo vệ thực vật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

115
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT

DANH SÁCH HÌNH

DANH SÁCH BẢNG

DANH SÁCH BIỂU ĐỒ

GIỚI THIỆU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Sơ lược về cây thanh long

1.1.1. Nguồn gốc và đặc điểm

1.1.2. Tình hình sản xuất

1.2. Sơ lược về tuyến trùng gây hại

1.3. Biểu hiện thanh long bị tuyến trùng

1.4. Thành phần tuyến trùng ký sinh trên cây thanh long

1.5. Biện pháp kiểm soát tuyến trùng ký sinh gây hại

1.5.1. Biện pháp vật lý

1.5.2. Biện pháp canh tác

1.5.3. Biện pháp sinh học

1.5.4. Biện pháp hóa học

1.5.4.1. Sơ lược các loại thuốc bảo vệ thực vật sử dụng
1.5.4.2. Hoạt chất Carbonsulfan
1.5.4.3. Hoạt chất Abamectin
1.5.4.4. Hoạt chất Fosthiazate

2. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nội dung nghiên cứu

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2.1. Điều kiện thời tiết khu đất thí nghiệm

2.2.2. Sa cấu đất khu đất thí nghiệm

2.2.3. Dụng cụ làm thí nghiệm

2.3. Phương pháp thí nghiệm

2.3.1. Nội dung 1: Khảo sát thành phần tuyến trùng ký sinh thực vật trên đất thanh long tại vùng Đông Nam Bộ

2.3.1.1. Thời gian thực hiện: Từ tháng 11/2020 đến tháng 02/2021
2.3.1.2. Đối tượng điều tra
2.3.1.3. Chọn ruộng điều tra
2.3.1.4. Phương pháp thu thập thông tin ruộng điều tra
2.3.1.5. Phương pháp lấy mẫu
2.3.1.6. Phương pháp tách chiết
2.3.1.7. Phương pháp đếm mật độ tuyến trùng
2.3.1.8. Phương pháp giám định tuyến trùng
2.3.1.9. Các chỉ tiêu theo dõi

2.3.2. Nội dung 2: Khảo sát hiệu quả phòng trừ tuyến trùng ký sinh thực vật của một số loại thuốc Bảo vệ thực vật

2.3.2.1. Thời gian và địa điểm thí nghiệm
2.3.2.2. Đối tượng thí nghiệm
2.3.2.3. Thuốc sử dụng thí nghiệm
2.3.2.4. Bố trí thí nghiệm
2.3.2.5. Phương pháp xử lý
2.3.2.6. Phương pháp lấy mẫu
2.3.2.7. Phương pháp tách chiết tuyến trùng
2.3.2.8. Phương pháp đếm mật độ tuyến trùng
2.3.2.9. Phương pháp theo dõi

2.3.3. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Nội dung 1: Khảo sát thành phần chi tuyến trùng ký sinh thực vật trên đất thanh long tại vùng Đông Nam Bộ

3.1.1. Thành phần, mật số và diễn biến mật số tuyến trùng ký sinh thực vật trên đất cây thanh long tại xã Bông Trang, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

3.1.2. Thành phần, mật số và diễn biến mật số tuyến trùng ký sinh thực vật trên đất cây thanh long tại xã Hưng Thịnh, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

3.1.3. Mật độ tuyến trùng trong đất trồng thanh long tại Bà Rịa – Vũng Tàu và Đồng Nai

3.2. Nội dung 2: Hiệu lực phòng trừ tuyến trùng của một số loại thuốc bảo vệ thực vật

3.2.1. Hiệu lực phòng trừ tuyến trùng của một số loại thuốc tại xã Bông Trang, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

3.2.2. Hiệu lực phòng trừ tuyến trùng của một số loại thuốc tại xã Hưng Thịnh, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tuyến trùng ký sinh trên thanh long

Cây thanh long, một loại cây ăn quả phổ biến tại Việt Nam, đang phải đối mặt với nhiều thách thức từ các loại bệnh hại, trong đó có tuyến trùng ký sinh. Tuyến trùng là nhóm động vật không xương sống, có thể gây hại nghiêm trọng đến sự phát triển của cây trồng. Việc nghiên cứu về tuyến trùng ký sinh trên cây thanh long không chỉ giúp nâng cao năng suất mà còn bảo vệ chất lượng sản phẩm xuất khẩu.

1.1. Đặc điểm sinh học của cây thanh long

Cây thanh long thuộc chi Hylocereus, có khả năng sinh trưởng tốt trong điều kiện khí hậu nhiệt đới. Thanh long có hai loại chính: ruột trắng và ruột đỏ. Đặc điểm sinh học của cây ảnh hưởng đến khả năng chống chịu với tuyến trùng ký sinh.

1.2. Tình hình sản xuất thanh long tại Việt Nam

Việt Nam là nước xuất khẩu thanh long hàng đầu thế giới, với diện tích trồng ngày càng tăng. Tuy nhiên, sự gia tăng diện tích canh tác cũng kéo theo sự phát sinh của nhiều loại bệnh, trong đó có bệnh do tuyến trùng ký sinh.

II. Vấn đề và thách thức từ tuyến trùng ký sinh trên thanh long

Sự xuất hiện của tuyến trùng ký sinh trên cây thanh long gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng. Chúng không chỉ làm giảm năng suất mà còn ảnh hưởng đến chất lượng trái. Việc phát hiện và phòng trừ tuyến trùng gặp nhiều khó khăn do chúng thường tấn công vào rễ cây.

2.1. Biểu hiện của cây thanh long bị tuyến trùng tấn công

Cây thanh long bị tuyến trùng ký sinh thường có triệu chứng như thối rễ, sưng rễ, và chậm phát triển. Những biểu hiện này làm giảm khả năng hút dinh dưỡng của cây, dẫn đến năng suất thấp.

2.2. Tác động của tuyến trùng đến năng suất và chất lượng

Nghiên cứu cho thấy, tuyến trùng ký sinh có thể làm giảm năng suất thanh long từ 30-50%. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến người nông dân mà còn đến nền kinh tế xuất khẩu của Việt Nam.

III. Phương pháp nghiên cứu tuyến trùng ký sinh trên thanh long

Để xác định thành phần và mật số của tuyến trùng ký sinh, nhiều phương pháp nghiên cứu đã được áp dụng. Việc sử dụng các phương pháp hiện đại giúp nâng cao độ chính xác trong việc phát hiện và phân tích tuyến trùng.

3.1. Phương pháp thu thập mẫu đất và rễ

Mẫu đất và rễ cây thanh long được thu thập từ nhiều địa điểm khác nhau. Việc lấy mẫu đúng cách là rất quan trọng để đảm bảo tính đại diện cho kết quả nghiên cứu về tuyến trùng ký sinh.

3.2. Phương pháp phân tích mật số tuyến trùng

Các phương pháp phân tích mật số tuyến trùng bao gồm đếm số lượng tuyến trùng trong mẫu đất và rễ. Kết quả sẽ giúp đánh giá mức độ nghiêm trọng của sự tấn công từ tuyến trùng ký sinh.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về tuyến trùng

Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc xác định thành phần và mật số của tuyến trùng ký sinh là rất cần thiết để đưa ra các biện pháp phòng trừ hiệu quả. Các loại thuốc bảo vệ thực vật cũng đã được thử nghiệm để kiểm soát tuyến trùng.

4.1. Hiệu lực của các loại thuốc bảo vệ thực vật

Nghiên cứu cho thấy, một số loại thuốc như Solvigo 108SC có hiệu quả cao trong việc kiểm soát tuyến trùng ký sinh. Hiệu lực của thuốc được đánh giá qua thời gian và mật độ tuyến trùng sau khi xử lý.

4.2. Kết quả khảo sát thành phần tuyến trùng

Kết quả khảo sát cho thấy có sự xuất hiện của nhiều giống tuyến trùng ký sinh khác nhau trên cây thanh long. Việc phân tích này giúp nông dân có biện pháp phòng trừ kịp thời.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu về tuyến trùng ký sinh

Nghiên cứu về tuyến trùng ký sinh trên cây thanh long là rất quan trọng để bảo vệ cây trồng và nâng cao năng suất. Tương lai của nghiên cứu này sẽ tập trung vào việc phát triển các biện pháp phòng trừ hiệu quả và bền vững.

5.1. Đề xuất các biện pháp phòng trừ hiệu quả

Cần nghiên cứu và phát triển các biện pháp phòng trừ tuyến trùng ký sinh hiệu quả, bao gồm cả biện pháp sinh học và hóa học. Việc này sẽ giúp bảo vệ cây thanh long và nâng cao năng suất.

5.2. Tương lai của nghiên cứu về tuyến trùng

Nghiên cứu về tuyến trùng ký sinh sẽ tiếp tục được mở rộng để tìm ra các giải pháp mới, giúp nông dân đối phó với các vấn đề do tuyến trùng gây ra.

16/08/2025
27 02 22 khóa luận tốt nghiệp hồ minh cường bảng đã chỉnh sửa

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về cây thanh long 1.1 Nguồn gốc và đặc điểm Cây thanh long Hylocereus polyrhizus thuộc chi Hylocereus họ xương rồng được trồng chủ yếu để lấy quả. Thanh long là loài thực vật bản địa tại Mexico, các nước Trung Mỹ và Nam Mỹ. Hiện nay, loài cây này cũng được trồng ở các nước trong khu vực Đông Nam Á như Việt Nam, Malaysia, Thái Lan, Philippines, Indonesia, miền nam Trung Quốc, Đài Loan và một số khu vực khác. Thanh long dễ sống, dễ trồng, mọc được trên nhiều loại đất khác nhau như đất xám bạc màu (Bình Thuận), đất phèn và phù sa (Đồng bằng sông Cửu Long), đất đỏ latosol (Long Khánh, Đồng Nai).

Cây thanh long ưa nóng và ẩm, sợ ngập úng. Nhiệt độ thích hợp cho thanh long tăng trưởng và phát triển là 14 – 260C và tối đa 38 – 400C. Trong điều kiện có sương giá nhẹ với thời gian ngắn sẽ gây thiệt hại nhẹ cho thanh long. Quả của thanh long có ba loại, tất cả đều có vỏ giống như da và có một chút lá:  Hylocereus undatus thuộc chi Hylocereus, ruột trắng với vỏ hồng hay đỏ.

 Hylocereus polyrhizus thuộc chi Hylocereus, ruột đỏ với vỏ hồng hay đỏ.  Hylocereus megalanthus thuộc chi Selenicereus, ruột trắng với vỏ vàng. Quả thanh long hình bầu dục có nhiều tai lá xanh (do phiến hoa còn lại), đầu quả lõm sâu tạo thành “hốc mũi”. Khi còn non vỏ quả màu xanh, lúc chín chuyển qua đỏ tím rồi đỏ đậm.

Thịt quả màu trắng cho đại đa số thanh long trồng ở miền Nam Việt Nam. Mỗi quả có rất nhiều hạt nhỏ giống như hạt vừng đen nằm lẫn lộn trong thịt quả. Do hạt nhỏ và mềm nên không làm phiền người ăn như hạt của một số loại quả khác. Lớp cùi thịt trong ruột thường được ăn ở dạng quả tươi, có mùi vị thơm dịu, ngọt vừa phải và ít cung cấp calo.

Phần thịt quả có thể chế biến thành nước quả hay rượu vang, hoa có thể 3 ăn được hay ngâm vào nước giống như chè. Mặc dù các hạt bé tí xíu của chúng được ăn cùng với thịt của ruột quả nhưng chúng không bị tiêu hóa.1 3 loại quả thanh long. (A) Thanh long ruột trắng, vỏ đỏ Hylocereus undatus; (B) Thanh long ruột đỏ, vỏ đỏ Hylocereus polyrhizus; (C) Thanh long ruột trắng, vỏ vàng Hylocereus megalanthus.2 Tình hình sản xuất Hiện nay ở nước ta trồng chủ yếu hai loại thanh long là: ruột trắng vỏ đỏ và ruột đỏ vỏ đỏ. Thanh long ruột trắng vỏ đỏ: hiện được trồng chủ yếu tại các tỉnh Bình Thuận, Long An, Tiền Giang.

Còn thanh long ruột đỏ vỏ đỏ, có hai loại khác nhau là: thanh long ruột đỏ giống Đài Loan và thanh long ruột đỏ lai tạo của 2 giống thanh long ruột trắng Việt Nam và thanh long ruột đỏ có nguồn gốc từ Colombia. Thanh long bắt đầu ra hoa, kết trái vào thời điểm cuối xuân, đầu hè và mùa chính vụ kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10. Từ khi phát hiện thanh long ra hoa trái vụ bằng cách chông đèn vào ban đêm, người trồng thanh long đã “điều chỉnh” cho thanh long kết trái vào bất kỳ thời điểm nào trong năm. Thời gian từ khi hoa nở rộ đến thu hoạch từ 28 – 35 ngày.

Mặc dù thanh long là loại cây tương đối ít sâu bệnh, song vẫn có một số dịch hại trên thanh long mà phổ biến là côn trùng và bệnh hại: kiến, rầy mềm, ruồi đục trái, bệnh thối đầu cành, bệnh đốm nâu thân cành, bệnh nám cành, v. ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng trái. Ngoài ra còn một số bệnh sinh lý như rụng nụ do quá nhiều hoặc phân bón không đầy đủ, mất cân đối, hiện tượng nứt vỏ do thời tiết khô hạn sau đó mưa 4 nhiều làm ruột quả phát triển mạnh hoặc teo trái lâu ngày. Do đó cần phải kiểm soát không để bị khô hạn và phòng trừ bệnh để nâng cao hiệu quả sản xuất.

Việt Nam là nước có diện tích và sản lượng thanh long lớn nhất châu Á và cũng là nước xuất khẩu thanh long hàng đầu thế giới. Thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN-PTNT) cho thấy, hiện nay có 60/63 tỉnh thành trồng thanh long, diện tích trồng thanh long đến năm 2018 là 54. Tuy nhiên, diện tích tập trung lớn nhất là: Bình Thuận, Long An, Tiền Giang (3 tỉnh này đã có hơn 48.000 ha) tiếp theo là Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai, một số tỉnh Tây Nguyên và các tỉnh phía Bắc. Diện tích trồng thanh long tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đạt hơn 245,1 ha năm 2015, diện tích trồng mới không ngừng tăng theo từng năm.

Diên tích trồng Thanh long tỉnh Đồng Nai đạt 525,4 ha năm 2015, diện tích trồng mới không ngừng tăng theo từng năm. Hiện nay Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thực hiện quy hoạch phát triển vùng cây ăn trái để năng cao chất lượng, năng suất và tạo sự cạnh tranh cho thanh long.2 Sơ lược về tuyến trùng hại thực vật Tuyến trùng thuộc ngành giun tròn (Nematodes) là những động vật không xương sống có môi trường sống và hệ sinh thái đa dạng trên trái đất. Có khoảng 90% số lượng cá thể trong thế giới động vật đa bào là tuyến trùng. Tuyến trùng có thể sinh sống trong đất quanh rễ cây trồng, cây hoang dại, trong các hệ sinh thái nước ngọt, nước lợ vùng cửa sông, ở biển cả và ở vùng nước sâu của các đại dương.

Chúng còn có thể ký sinh ở người, động vật có xương sống, không xương sống trên cạn, dưới nước và ở cả các cây trồng và cây hoang dại khác nhau mà ta quen gọi chúng là tuyến trùng ký sinh. Ngoài ra còn có các nhóm tuyến trùng khác như nhóm tuyến trùng ăn nấm, vi khuẩn; nhóm tuyến trùng thực vật sống hoại sinh trên các mô tế bào thối rữa v., còn có nhóm tuyến trùng ăn thịt có lợi. Tuyến trùng sống trong các hệ sinh thái đất ẩm ướt, đất ngập nước rất phong phú và đa dạng, chúng được xem là nhóm động vật chiếm ưu thế tuyệt đối về số lượng loài cũng như số lượng cá thể trong các nhóm động vật đáy. Sự đa dạng cao về thành phần loài cũng như số lượng cá thể phong phú của chúng là chỉ số sinh học 5 đáng tin cậy cho phép con người có thể đánh giá mức độ bền vững của các môi trường đất và thủy vực (Nguyễn Vũ Thanh, 2007).

Theo số liệu thống kê, có khoảng 50% tuyến trùng sống ở biển, 25% tuyến trùng sống tự do và 25% tuyến trùng sống ký sinh. Trong đó, 15% ký sinh ở động vật và 10% ký sinh ở thực vật (Nguyễn Ngọc Châu, 2003). Tuyến trùng ký sinh thực vật là nhóm tuyến trùng sống chủ yếu trong đất và có quan hệ chặt chẽ với thực vật đang phát triển. Chúng sống và ký sinh ở tất cả các phần của cây gồm: rễ, thân, lá và hoa.

Chúng có thể sống dinh dưỡng trên bề mặt những mô ngoài của thực vật hoặc xâm nhập vào bên trong để ký sinh tạo ra nguồn dinh dưỡng phù hợp. Chúng có thể gây ra nhiều biến đổi như: phá hủy mô thực vật, tạo vết thương, các biến đổi sinh lý, sinh hóa bình thường của cây chủ. Các phần của cây bị tuyến trùng gây hại có thể bị tấn công bởi các tác nhân gây bệnh khác như: vi khuẩn, nấm mốc và virus (Nguyễn Ngọc Châu, 2003). Dựa vào đặc điểm hình thái, giải phẫu và tính ký sinh ở thực vật thì tuyến trùng ký sinh thực vật được chia thành 4 bộ:  Bộ Tylenchida gồm hầu hết các loài tuyến trùng đại diện cho các nhóm ký sinh ở các phần khác nhau của thực vật.

 Bộ Aphelenchida gồm loài tuyến trùng ký sinh ở các phần trên mặt đất của cây như lá, hoa.  Bộ Dorylaimida gồm các loài họ Longidoridae là nhóm tuyến trùng ngoại ký sinh thực vật, một số loài có khả năng lan truyền virus.  Bộ Triplonchida gồm các loài của hai họ Trichodoridae và Diphterophoridae là nhóm ngoại ký sinh thực vật, nhiều loài có khả năng lan truyền virus. Trong đó, bộ Tylenchida là nhóm tuyến trùng đông đảo nhất và có tầm quan trọng nhất trên thế giới (Nguyễn Ngọc Châu và Nguyễn Vũ Thanh, 2000).1 Bảng khóa định giống tuyến trùng ký sinh thực vật tại Việt Nam theo Nguyễn Ngọc Châu và Nguyễn Vũ Thanh (2000).

Bộ và Phân bộ Họ Giống TYLENCHIDA TYLENCHINA Anguinidae Ditylenchus Dolichodoridae Dolichodorus Belonolaimidae Tylenchorhynchus Trophorus Trichotylenchus Hoplolaimidae Scutellonema Rotylenchus Helicotylenchus Hoplolaimus Rotylenchulus Heteroderidae Meloidogyne Pratylenchidae Hirschmanniella Pratylenchus Criconematidae Criconemella Criconema Discocriconemella 7 Hemicriconemoides Caloosia Tylenchulidae Tylenchulus Paratylenchus APHELENCHIDA APHELENCHINA Aphelenchidae Aphelenchus Paraphelenchidae Paraphelenchus Aphelenchoididae Aphelenchoides DORYLAINIDA DORYLAIMINA Longidoridae Xiphinema Longidorus Paralongidorus TRIPLONCHIDA DIPHTEROPHORINA Diphterophoridae Diphterophora Trichodoridae Trichodorus Paratrichodorus 1.3 Biểu hiện thanh long bị tuyến trùng Tuyến trùng tấn công vào rễ, làm rễ bị tổn thương, u sưng và thối rễ. Do rễ bị hư nên từ đó cây sinh trưởng kém, cành nhanh bị ngã vàng, còi cọc, teo tóp, không nảy chồi mới rất dễ nhằm với triệu chứng thiếu phân, thiếu nước. Khi cây bệnh nặng có sự kết 8 hợp vi sinh vật Phytopthora sp. Thì rễ thối nhanh chóng và có thể nhổ một cành lên một cách dễ dàng.

Tuyến trùng thường xâm nhập vào đầu rễ. Vết bệnh sẽ làm theo rễ, màu nâu, nếu bị thối hỏng biểu hiện vết bệnh nâu đỏ chuyển sang màu đen. Tuyến trùng không gây cây chết ngay nhưng làm cho cây không phát triển bình thường, làm cây thiếu sức sống. Bên cạnh đó, chúng tạo ra các vết thương “mở đường” cho các vi sinh vật có hại khác xâm nhập dễ dàng hơn, khả năng cây bệnh cao hơn.

Ngoài ra, tuyến trùng còn có thể truyền virus gây bệnh cho cây.4 Thành phần tuyến trùng ký sinh trên cây thanh long Theo các nghiên cứu ở Đài Loan (Chen, D.2) tìm thấy một giống tuyến trùng gây hại trên thanh long. - Giống Meloidogyne sp. (Goeldi, 1892): Tuyến trùng thuộc họ Heteroderidae. Thường dị hình sinh dục.

Con cái trưởng thành hình quả lê hoặc hình cầu, nằm sâu trong rễ. Đường kính cơ thể khoảng 0,5 – 0,7 mm. Con đực hình giun sống tự do trong đất, dài 1 – 2 mm. Kim hút ngắn và khỏe.

Lổ bài tiết thường nằm gần gốc kim hút. Đuôi hình chóp, phần cuối của đuôi thường là khoảng trong với chiều dài khác nhau. - Giống Pratylenchus sp. (Filipjev, 1936): Tuyến trùng họ Pratylenchidae.

Vùng môi thấp, bằng với các vòng cutin. Kim hút không lớn nhưng rất khỏe với núm gốc to hình tròn. Đuôi con cái hình chóp, mút đuôi trơn tù. Vùng bên có 4 hoặc 6 đường bên.

- Giống Tylenchorhynchus sp. (Cobb, 1913): Tuyến trùng thuộc họ Balonolaimidae. Cơ thể dạng chỉ có nhiều dài trung bình. Đường bên có thể là 2, 3, 4 hoặc 5 đường bên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ