CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 1. Khái niệm từ vựng, từ toàn dân, từ địa phương 1. Khái niệm từ vựng Theo Đỗ Hữu Châu trong Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt và Nguyễn Thiện Giáp trong Từ vựng học tiếng Việt: tập hợp các từ và ngữ cố định được gọi là từ vựng của ngôn ngữ. “Từ vựng của một ngôn ngữ là tập hợp các đơn vị từ vựng của ngôn ngữ đó” [11, tr.465] “Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức” [12, tr.
Trong quá trình vận dụng ngôn ngữ, các từ luôn được tái hiện với tư cách là những đơn vị có sẵn, mỗi từ luôn luôn được gặp trong những trường hợp riêng biệt khác nhau và trong những trường hợp tái hiện khác nhau của nó. Từ vựng không phải là một tập hợp đơn giản, hỗn độn. Nó là một tổ chức, một tổ chức cực kì lớn, rất phức tạp nhưng có quy tắc. Đơn vị cơ bản của từ vựng là từ.
Bên cạnh các từ, trong thành phần từ vựng của mỗi ngôn ngữ còn tồn tại rất nhiều các cụm từ cố định, thường được gọi là các thành ngữ, quán ngữ. Từ và cụm từ cố định được gọi là những đơn vị định danh cơ bản của ngôn ngữ, thực hiện chức năng gọi tên các sự vật, hiện tượng v.v… của thực tế. Trong kết cấu ngôn ngữ, từ vựng thuộc vào ngoại biên về nghĩa vì nó trực tiếp gọi tên các sự vật, hiện tượng của thực tế; còn ngữ âm thuộc vào ngoại biên về chất liệu vì nó trực tiếp lĩnh hội bởi giác quan (tai) của con người. Do tính chất hiển nhiên, có sẵn của các từ mà ngôn ngữ của loài người bao giờ cũng được gọi là ngôn ngữ của từ.
Chính tổng thể của các từ là vật liệu xây dựng nên tổng thể một ngôn ngữ hoàn chỉnh. Từ vựng của ngôn ngữ bao gồm nhiều lớp hạng khác nhau. Căn cứ vào phạm vi sử dụng của các từ có thể chia ra từ vựng toàn dân và từ vựng hạn chế về mặt xã hội và lãnh thổ. Khái niệm từ toàn dân Từ vựng toàn dân là những từ toàn dân hiểu và sử dụng.
Nó là vốn chung cho tất cả những người nói ngôn ngữ đó, thuộc các địa phương khác nhau, các tầng lớp xã hội khác nhau. Đây chính là lớp từ vựng cơ bản, lớp từ vựng quan trọng nhất của mỗi ngôn ngữ. Có thể nói, từ vựng toàn dân là hạt nhân từ vựng, làm cơ sở cho sự thống nhất ngôn ngữ, không có nó ngôn ngữ không thể có được, và do đó cũng không thể có sự trao đổi, giao tiếp giữa mọi người. Về mặt nội dung, từ vựng toàn dân biểu hiện những sự vật, hiện tượng, những khái niệm quan trọng và cần thiết nhất trong đời sống, chẳng hạn, những từ chỉ hiện tượng thiên nhiên: mưa, nắng, núi, sông, bão, gió,.
những từ chỉ bộ phận cơ thể con người: đầu, mắt, mũi, chân, tay,. những từ chỉ các sự vật, hiện tượng gắn liền với đời sống: cày, cuốc, kim, chỉ, nhà, cửa, ruộng,. những từ chỉ tính chất của sự vật: đỏ, đen, dài, ngắn, tốt, xấu,. những từ chỉ những hoạt động thông thường: đi, đứng, nói, cười, chạy,.
Về mặt nguồn gốc, từ vựng toàn dân có thể đa dạng. Từ vựng toàn dân của tiếng Việt, có từ bắt nguồn từ tiếng Mường: bố < pổ, vai < bai, vú < pú,. có từ gốc Môn – Khơmer: sông (Ba - na: krôn), bắn độm (Khơmer: pắn), lớp (Khơmer: láp),. có từ bắt nguồn từ tiếng Hán: gan, gác, gần,.
ngay cả những từ mới vay mượn về sau như sơ mi, ô tô, hợp tác xã,. cũng mau chóng được sử dụng rộng rãi, trở thành vốn từ toàn dân. Từ vựng toàn dân là bộ phận nòng cốt của từ vựng văn học. Nó là vốn từ cần thiết nhất để diễn đạt tư tưởng trong mỗi ngôn ngữ.
Từ vựng toàn dân đồng thời cũng là cơ sở để cấu tạo các từ mới, làm giàu cho vốn từ vựng của ngôn ngữ nói chung. Khái niệm từ địa phương Từ địa phương là những từ ngữ được dùng hạn chế ở một hoặc một vài địa phương. Nhìn chung, từ địa phương là bộ phận từ ngữ nói hàng ngày của dân cư trong một vùng địa lý nào đó của dân tộc chứ không phải là từ vựng của ngôn ngữ văn học. Khi dùng vào sách báo nghệ thuật, các từ địa phương thường mang sắc thái tu từ: diễn tả lại đặc điểm của địa phương, đặc điểm của nhân vật.
Có thể thấy một số kiểu từ địa phương như sau: Từ địa phương không có sự đối lập với từ vựng toàn dân: Đó là những từ biểu thị những sự vật, hiện tượng, những hoạt động, cách sống đặc biệt chỉ có ở địa phương 9 nào đó chứ không phổ biến đối với toàn dân, do đó không có từ song song trong ngôn ngữ văn học toàn dân. Các nhà ngôn ngữ gọi loại này là từ địa phương dân tộc học. Ví dụ: sầu riêng, chôm chôm, măng cụt, chao, tàu ki,. là các từ địa phương dân tộc học biểu thị những sản vật chỉ có ở miền Nam Việt Nam.
Từ địa phương có sự đối lập với từ vựng toàn dân. Kiểu từ địa phương này có thể chia ra hai loại nhỏ căn cứ vào hai mặt ngữ âm và ngữ nghĩa của chúng: Từ địa phương đối lập về mặt ý nghĩa: những từ này về ngữ âm giống với từ tương ứng trong ngôn ngữ văn học toàn dân, nhưng ý nghĩa khác nhau. Ví dụ: ở Nam Bộ, nón có nghĩa là “ cái mũ”, chén có nghĩa là “ cái bát ”, dù có nghĩa là “cái ô”, ở Trung Bộ, hòm có nghĩa là “cái quan tài”. Từ địa phương có sự đối lập về mặt ngữ âm: ví dụ các từ ngữ: cái vịm, cái cá ràng, con cò,.
ở Nam Bộ (tương ứng với cái liễn, cái bếp kiền, con tem trong ngôn ngữ toàn dân) và các từ mô, rào, chộ, ngái,. Phương ngữ và các vùng phương ngữ tiếng Việt 1. Phương ngữ là gì? Trong các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học và phương ngữ, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều khái niệm về phương ngữ. Trong Từ điển giải thích thuật ngữ Ngôn ngữ học, phương ngữ được xem là: “Biến thể của một ngôn ngữ được sử dụng với tư cách là phương diện giao tiếp của những người gắn bó chặt chẽ với nhau trong một cộng đồng thống nhất về lãnh thổ, về hoàn cảnh xã hội hay về nghề nghiệp; còn gọi là tiếng địa phương.
Tác giả Hoàng Thị Châu quan niệm: “Phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác” [6, tr. Phương ngữ (dialect) trong 777 Khái niệm ngôn ngữ học, được tác giả Nguyễn Thiện Giáp định nghĩa là: “Biến thể địa lí của một ngôn ngữ. Cùng một ngôn ngữ, nhưng ở những địa phương khác nhau, nó được nói với những hình thức khác nhau. Những hình thức khác nhau ấy được gọi là phương ngữ” [11, tr.356-357] Các tác giả Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Quang, Vương Toàn đã khẳng định: “Phương ngữ là hình thức ngôn ngữ có hệ thống từ vựng, ngữ pháp và 10 ngữ âm riêng biệt được sử dụng ở một phạm vi lãnh thổ hay xã hội hẹp hơn là ngôn ngữ.
Là một hệ thống kí hiệu và quy tắc kết hợp có nguồn gốc chung với hệ thống khác được coi là ngôn ngữ (cho toàn dân tộc), các phương ngữ (có người còn gọi là tiếng địa phương, phương ngôn) khác nhau trước hết là ở cách phát âm, sau đó là ở vốn từ vựng” [28, tr. Tóm lại, có thể hiểu phương ngữ là tiếng địa phương, là tiếng nói được sử dụng trong phạm vi một vùng lãnh thổ nhất định. Thuật ngữ “phương ngữ” được dùng trong khoa học; thuật ngữ “tiếng địa phương” là cách nói dễ hiểu, dân dã. Về căn bản thì phương ngữ là một biến thể (hay có thể xem là một nhánh) của ngôn ngữ toàn dân, có sự khác biệt so với ngôn ngữ toàn dân về vốn từ vựng, ngữ pháp và cách phát âm đặc trưng.
Nghiên cứu phương ngữ của một vùng địa lý, khám phá những đặc trưng về ngôn ngữ, từ vựng địa phương là cơ hội để con người nhìn nhận về những giá trị văn hóa mang tính đặc trưng của địa phương hay vùng địa lý đó. Phương ngữ được chia thành phương ngữ địa lý và phương ngữ xã hội: Phương ngữ địa lý hay vùng phương ngữ, là biến thể ngôn ngữ ở một khu vực địa lý nhất định, thuộc bộ phận của một chỉnh thể ngôn ngữ. Phương ngữ lãnh thổ tồn tại sự khác biệt về cơ cấu âm thanh, ngữ pháp, trong cấu tạo từ, và trong hệ thống từ vựng. Sự khác biệt so với ngôn ngữ không quá lớn nên hầu hết toàn dân vẫn có thể hiểu được những biến thể phát âm này.
Tuy nhiên, đôi khi cũng xảy ra trường hợp người địa phương này nói, người địa phương khác không hiểu được. Phương ngữ địa lý không được sử dụng phổ biến trong báo chí, truyền thông, khoa học. Phương ngữ xã hội là biến thể ngôn ngữ theo nhóm xã hội hay nhóm nghề nghiệp nhất định. Sự khác biệt giữa nhóm ngôn ngữ xã hội và ngôn ngữ toàn dân chủ yếu ở vốn từ vựng, không tồn tại quá nhiều sự khác biệt như phương ngữ địa lý.
Vấn đề phân chia vùng phương ngữ Có nhiều ý kiến chia tiếng Việt thành các vùng phương ngữ, trong đó có ý kiến của Hoàng Phê phân chia tiếng Việt thành hai vùng phương ngữ chủ yếu là tiếng miền Bắc và tiếng miền Nam 11 Các tác giả Võ Xuân Trang, Hoàng Thị Châu, Nguyễn Tài Cẩn có cùng quan điểm phân chia tiếng Việt thành ba vùng phương ngữ. Đại diện cho nhóm quan điểm chia làm ba vùng phương ngữ có Hoàng Thị Châu, với cách phân chia như sau: - Phương ngữ Bắc (giọng Bắc): từ Bắc Bộ đến hết Thanh Hóa; - Phương ngữ Trung (giọng Trung): từ Nghệ An đến hết Thừa Thiên Huế; - Phương ngữ Nam (giọng Nam): từ Đà Nẵng vào Nam. Tác giả Huỳnh Công Tín lại chia tiếng Việt thành bốn vùng phương ngữ: - Phương ngữ Bắc Bộ; - Phương ngữ Bắc Trung Bộ; - Phương ngữ Nam Trung Bộ; - Phương ngữ Nam Bộ. Từ những ý kiến khác nhau về vấn đề phân chia vùng phương ngữ trên, tôi lựa chọn theo ý kiến phân chia thành ba vùng phương ngữ gồm: - Phương ngữ Bắc (Bắc Bộ); - Phương ngữ Trung (Bắc Trung Bộ); - Phương ngữ Nam (Nam Trung Bộ và Nam Bộ).