Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Vấn đề phát huy tính sáng tạo cho người học là một định hướng trọng tâm trong công cuộc đổi mới, cải tiến và nâng cao chất lượng dạy học tại Việt Nam cũng như trên thế giới. Đối với cấp học mầm non, đặc biệt là lứa tuổi mẫu giáo lớn (5–6 tuổi), hoạt động tạo hình giữ vai trò nền tảng trong việc hỗ trợ trẻ hình thành và phát triển toàn diện nhân cách, trí tuệ và cảm xúc thẩm mỹ. Đây là hoạt động nghệ thuật đặc thù giúp trẻ khám phá thế giới xung quanh và tái hiện lại những nhận thức, rung động cá nhân bằng ngôn ngữ hình tượng.

Nguyên vật liệu thiên nhiên (lá cây, hoa, hột, hạt, sỏi, đá...) là nguồn học liệu phong phú, gần gũi, tạo điều kiện thuận lợi để trẻ huy động các biểu tượng từ trí nhớ, kết hợp tưởng tượng tái tạo và liên tưởng nhằm hình thành các sản phẩm tạo hình sinh động. Tuy nhiên, tác giả chỉ ra thực trạng tại các trường mầm non hiện nay: việc khai thác và phát huy hiệu quả của nguyên vật liệu thiên nhiên trong hoạt động tạo hình cho trẻ 5–6 tuổi vẫn chưa được thực hiện trọn vẹn. Giáo viên còn ít chú trọng đến việc phát triển năng lực sáng tạo; phương pháp tổ chức còn mang tính áp đặt, gò ép; sản phẩm tạo hình của trẻ còn đơn điệu, sơ lược và cứng nhắc. Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài "Sử dụng nguyên vật liệu thiên nhiên trong hoạt động tạo hình nhằm phát huy tính sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi" được lựa chọn nghiên cứu.

Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp sử dụng nguyên vật liệu thiên nhiên trong hoạt động tạo hình nhằm phát huy tính sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5–6 tuổi.

Nhiệm vụ nghiên cứu (theo đúng văn bản):

  1. Tổng hợp cơ sở lý luận về vấn đề sử dụng nguyên vật liệu thiên nhiên trong hoạt động tạo hình nhằm phát huy tính sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5–6 tuổi.
  2. Điều tra thực trạng việc sử dụng nguyên vật liệu thiên nhiên trong hoạt động tạo hình của trẻ mẫu giáo 5–6 tuổi tại trường mầm non Phú Hộ – Thị xã Phú Thọ – tỉnh Phú Thọ.
  3. Đề xuất một số biện pháp sử dụng nguyên vật liệu thiên nhiên trong hoạt động tạo hình nhằm phát huy tính sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5–6 tuổi.
  4. Thực nghiệm sư phạm nhằm khẳng định hiệu quả của những biện pháp đã đề xuất.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp sử dụng nguyên vật liệu thiên nhiên trong hoạt động tạo hình nhằm phát huy tính sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5–6 tuổi.
  • Phạm vi nghiên cứu: Do giới hạn về thời gian và năng lực, nghiên cứu được triển khai tập trung tại trường mầm non Phú Hộ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ trên đối tượng trẻ mẫu giáo lớn (5–6 tuổi).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và các khái niệm cốt lõi

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng tâm lý học và giáo dục học mầm non:

  • Lý thuyết hoạt động: Tiếp cận theo quan điểm Mác-xít, coi hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới thông qua hai quá trình "xuất tâm" và "nhập tâm", từ đó tâm lý, ý thức và nhân cách được hình thành và bộc lộ.
  • Khái niệm hoạt động tạo hình: Dẫn chiếu theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê), tạo hình là "tạo ra các hình thể bằng đường nét, màu sắc và hình khối". Hoạt động tạo hình của trẻ mầm non là dạng hoạt động nghệ thuật mang tính nhận thức và phản ánh thế giới khách quan qua hình tượng nghệ thuật, có sản phẩm đặc trưng phù hợp với lứa tuổi.
  • Khái niệm sáng tạo: Tác giả tiếp thu các quan điểm của L. S. Vygotsky (sáng tạo là hoạt động tạo ra cái mới trong thế giới vật chất hoặc cấu tạo trí tuệ, tình cảm), Từ điển Triết học (sự tạo nên giá trị tinh thần và vật chất mới về chất), Nguyễn Cảnh Toàn, Chu Quang Tiềm và Nguyễn Huy Tú. Sáng tạo của trẻ mầm non mang giá trị chủ quan, nảy sinh từ nhu cầu chơi, tái tạo và bắt chước không có chủ định bền vững.
  • Đặc điểm tâm lý và tạo hình của trẻ 5–6 tuổi: Dẫn chiếu các luận điểm của TS. Lê Thanh Thủy về "tính duy kỷ" (trẻ quan tâm "vẽ cái gì" hơn là "vẽ như thế nào", vẽ những gì trẻ biết thay vì những gì trẻ nhìn thấy, ví dụ vẽ con chuột trong bụng con mèo hay vẽ đồ đạc nhìn xuyên qua tường nhà), tư duy trực quan hình tượng chiếm ưu thế kết hợp mầm mống tư duy trừu tượng.
  • Bốn chỉ số đánh giá khả năng sáng tạo: Nhanh nhạy, Linh hoạt, Chi tiết và Độc đáo.
  • Bốn giai đoạn phát triển sáng tạo trong hoạt động tạo hình: (a) Giai đoạn sơ đồ; (b) Giai đoạn nảy sinh ý thức về hình thức và đường nét; (c) Giai đoạn miêu tả giống thật; (d) Miêu tả tạo hình những bộ phận riêng biệt.
  • Phân loại nguyên vật liệu thiên nhiên: Gồm 4 nhóm chính: Hoa, lá; Hột, hạt; Củ, quả; và các chất liệu khác (sỏi, đá, vỏ ốc, hến, rơm, râu ngô, lông gà...).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu phối hợp các nhóm phương pháp sau:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp và khái quát hóa các tài liệu tâm lý, giáo dục học liên quan đến đề tài.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp quan sát: Theo dõi hành vi, thái độ, mức độ hứng thú và biểu hiện tính sáng tạo của trẻ trong các giờ tạo hình.
    • Phương pháp đàm thoại: Trao đổi với cán bộ quản lý và giáo viên về kế hoạch giảng dạy, các biện pháp đã thực hiện và khó khăn gặp phải.
    • Phương pháp điều tra bằng Anket: Phát phiếu trưng cầu ý kiến tới giáo viên để đánh giá nhận thức, mức độ sử dụng biện pháp và kiến nghị sư phạm.
    • Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: Phân tích các sản phẩm tạo hình của trẻ theo các tiêu chí kỹ năng, bố cục, màu sắc và tính độc đáo.
    • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế và triển khai các biện pháp đề xuất để kiểm chứng tính khả thi.
    • Phương pháp thống kê toán học: Tính tỷ lệ phần trăm, độ lệch chuẩn và lập biểu bảng xử lý dữ liệu.

Nguồn dữ liệu và khách thể nghiên cứu

Dữ liệu thực trạng được thu thập tại trường mầm non Phú Hộ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ:

  • Khách thể điều tra giáo viên: 18 giáo viên đang trực tiếp giảng dạy tại các lớp mẫu giáo 5–6 tuổi, có thâm niên từ 3 đến 5 năm, trình độ đào tạo từ trung cấp, cao đẳng đến đại học sư phạm mầm non.
  • Khách thể khảo sát trẻ em: 80 trẻ thuộc 2 lớp mẫu giáo 5–6 tuổi (lớp 5 tuổi A2 gồm 40 trẻ và lớp 5 tuổi A3 gồm 40 trẻ).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu vấn đề sáng tạo trong và ngoài nước. Tác giả điểm lại các dấu mốc: các nghiên cứu tâm lý học thế kỷ XX tại Liên Xô (Mát-xcơ-va) và Đông Âu (Praha, Budapest); tại Việt Nam từ năm 1990 Viện Khoa học Giáo dục triển khai nghiên cứu khả năng sáng tạo của học sinh; năm 1991 thành lập Trung tâm Sáng tạo Khoa học Kỹ thuật (TSK) tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh; cùng các công trình tiêu biểu của TS. Lê Thanh Thủy (1996), ThS. Trần Thị Nga, Phạm Thị Thu Hoa, GS. Nguyễn Ánh Tuyết, Ngô Công Hoàn và Trương Thị Bích Hà.

Để đánh giá thực trạng, tác giả thiết lập bộ tiêu chí đánh giá tính sáng tạo của trẻ 5–6 tuổi gồm 3 tiêu chí:

  1. Bố cục (1–3 điểm): Mức 1 (Tốt - 3 điểm) thể hiện bố cục cân đối, làm chủ không gian, có chiều sâu (xa - gần, cao - thấp), nhịp điệu hài hòa; Mức 2 (Khá) sắp xếp dàn trải trên đường nằm ngang; Mức 3 (Trung bình - 1 điểm) bố cục lộn xộn, lệch lạc.
  2. Màu sắc (1–3 điểm): Mức 1 (Tốt - 3 điểm) màu sắc phù hợp nội dung, thể hiện cảm xúc, biết chủ động phối hợp màu của vật liệu; Mức 2 (Khá) biết dùng vật liệu nhưng còn bắt chước, rập khuôn; Mức 3 (Trung bình - 1 điểm) chưa biết kết hợp nhiều màu để miêu tả vật thật.
  3. Hình tượng (1–3 điểm): Mức 1 (Tốt - 3 điểm) hình tượng mạch lạc, mềm mại, đặc trưng, hợp lý về tỷ lệ; Mức 2 (Khá) lựa chọn vật liệu chưa sát hình dạng, tỷ lệ thiếu chính xác; Mức 3 (Trung bình - 1 điểm) hình rời rạc, thô sơ. Thang phân loại: Tốt (8–9 điểm); Khá (6–7 điểm); Trung bình (4–5 điểm); Yếu (< 4 điểm).

Kết quả điều tra thực trạng nhận thức của 18 giáo viên mầm non được phản ánh qua các chỉ số:

  • 100% giáo viên (18/18) nhận định biểu hiện sáng tạo là khi trẻ "tự mình nêu ra ý tưởng mới lạ cho sản phẩm"; 89% (16/18) chọn "trí tưởng tượng phong phú qua chi tiết, bố cục"; 83% (15/18) chọn "biết lựa chọn, phối hợp và sử dụng đa dạng vật liệu".
  • Về sự cần thiết của nguyên vật liệu thiên nhiên trong hoạt động tạo hình: 88% cho là rất cần thiết, 6% cần thiết, 6% tương đối cần thiết.
  • Về sự cần thiết của các biện pháp sư phạm: 75% cho rằng cần thiết phải có biện pháp thích hợp; 25% cho rằng hoạt động này vốn đã kích thích sáng tạo nên không ảnh hưởng nhiều.
STT Biện pháp giáo viên thực hiện Thường xuyên (SP - %) Thỉnh thoảng (SP - %) Hiếm khi (SP - %)
1 Tăng cường tổ chức cho trẻ tiếp xúc – quan sát sự vật sinh động 15 (83.7%) 0 (0%) 0 (0%)
2 Bồi dưỡng các kỹ năng, kỹ xảo tạo hình 6 (33.7%) - -
3 Cho trẻ tích cực hứng thú hoạt động với đối tượng miêu tả 9 (50.0%) 5 (27.3%) -
4 Cho trẻ tri giác lặp lại 3 (16.3%) - -
5 Sử dụng câu hỏi gợi nhớ giúp trẻ hồi tưởng, suy nghĩ, so sánh 9 (50.0%) 7 (39.0%) 2 (11.0%)
6 Sử dụng các hình thức ngoài tiết học (nhóm chơi tạo hình...) 7 (39.0%) 9 (50.0%) 2 (11.0%)
7 Tổ chức cho trẻ quan sát, nhận xét và dùng sản phẩm vào đời sống 3 (16.3%) 0 (0%) 0 (0%)

Khảo sát mức độ biểu hiện tính sáng tạo trên 80 trẻ trước thực nghiệm cho thấy kết quả:

Lớp khảo sát Tổng số trẻ Mức Tốt (SL - %) Mức Khá (SL - %) Mức Trung bình (SL - %) Mức Yếu (SL - %)
Lớp 5 tuổi A2 40 6 (15.0%) 11 (27.5%) 16 (40.0%) 7 (17.5%)
Lớp 5 tuổi A3 40 5 (12.5%) 10 (25.0%) 17 (42.5%) 8 (20.0%)

Thực trạng cho thấy trẻ đạt mức sáng tạo trung bình và yếu chiếm tỷ lệ chi phối (57.5% ở lớp A2 và 62.5% ở lớp A3), mức tốt chỉ đạt từ 12.5% đến 15.0%. Nguyên nhân xuất phát từ việc cơ sở vật chất còn chật chội, học liệu thiếu thốn; giáo viên chịu áp lực về thời gian chuẩn bị giáo án tích hợp chủ đề và phong trào; phương pháp dạy học còn thiếu tính linh hoạt và chưa kịp thời khuyến khích trẻ.


Chương 2: Sử dụng nguyên vật liệu thiên nhiên trong hoạt động tạo hình nhằm phát huy tính sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

Chương 2 xác định 4 cơ sở định hướng xây dựng giải pháp: (1) Đặc điểm phát triển tâm lý trẻ 5–6 tuổi; (2) Mục đích, nội dung chương trình giáo dục mầm non; (3) Khả năng sáng tạo đặc thù của lứa tuổi mẫu giáo lớn; (4) Thực tiễn tổ chức hoạt động tạo hình tại trường mầm non Phú Hộ.

Tác giả đề xuất hệ thống 7 biện pháp sư phạm cụ thể:

  1. Thường xuyên tổ chức cho trẻ quan sát, làm giàu vốn biểu tượng về môi trường tự nhiên:

    • Mục đích: Tạo vốn biểu tượng cảm tính phong phú làm tiền đề cho hoạt động sáng tạo.
    • Tiến hành: Tổ chức quan sát thiên nhiên có chủ đích (tham quan vườn trường, công viên, vườn hoa); dùng lời nói giàu hình ảnh kết hợp hệ thống câu hỏi kích thích tư duy, gợi nhớ và liên tưởng. Ví dụ: Trước khi làm bài tập tạo hình, cô hướng dẫn trẻ quan sát hình dáng, màu sắc lá cây, hoa; gợi ý vật liệu mẫu như làm tổ chim bằng rơm hoặc râu ngô, làm cào cào/chuồn chuồn bằng lá dừa, xếp con gà bằng hạt đỗ, hạt vừng, làm vòng đội đầu bằng hoa đại.
    • Điều kiện: Giáo viên linh hoạt tạo tình huống, đồng hành hỗ trợ trẻ chọn vật liệu phù hợp với nội dung bài học.
  2. Gây hứng thú, tạo cảm xúc cho trẻ với những nguyên vật liệu thiên nhiên:

    • Mục đích: Kích thích xúc cảm thẩm mỹ và tính hiếu kỳ đối với các vật thể tự nhiên.
    • Tiến hành: Tổ chức cho trẻ tiếp xúc trực tiếp các vật liệu trong vườn trường kết hợp đàm thoại so sánh: "Cánh hoa phăng có giống cánh bướm không?", "Lá dừa dài và thon có thể tạo thành con cào cào", "Hạt chi chi rụng dưới chân có thể làm thành vật gì?".
    • Điều kiện: Cần tiến hành đồng thời với việc tích lũy biểu tượng chính xác, duy trì trạng thái hào hứng cho trẻ.
  3. Giáo dục lòng say mê, sự ham thích và tình yêu đối với nghệ thuật tạo hình từ nguyên vật liệu thiên nhiên:

    • Mục đích: Xây dựng động cơ bên trong và khát vọng tạo ra cái đẹp.
    • Tiến hành: Lồng ghép câu đố, thơ ca, trò chơi dân gian vào bài dạy. Ví dụ: Dùng câu đố về con kiến ("Nâu vàng đen đỏ / Đi lại từng bầy...") trước bài tạo hình con kiến bằng hạt nhãn; chơi trò chơi "Thuyền về bến" trước hoạt động xé dán thuyền bằng lá cây; đàm thoại về gia đình trước bài xếp dán sỏi đá tranh "Gia đình yêu thương".
    • Điều kiện: Động viên, nhận xét tế nhị, tránh phê bình gay gắt gây ức chế tâm lý sáng tạo.
  4. Rèn luyện, bồi dưỡng khả năng suy luận độc đáo cho trẻ từ nguyên vật liệu thiên nhiên:

    • Mục đích: Phát triển tư duy trực quan hình tượng và khả năng phân tích, tổng hợp logic các thuộc tính của đối tượng.
    • Tiến hành: Tập cho trẻ phân tích cấu trúc vật thể thành các bộ phận để tái hiện. Ví dụ: Phân tích viên sỏi tự nhiên theo hình dáng để ghép thành các thành viên (bố, mẹ, anh, em); phân tích chiếc lá làm thân thuyền và cánh buồm trong bài xé dán thuyền trên biển; hướng dẫn dùng một loại vật liệu cho nhiều mục đích (hạt nhãn vừa làm con kiến, vừa làm mắt con vật).
    • Điều kiện: Dẫn dắt trẻ từ dễ đến khó, từ gần đến xa, khuyến khích các sáng kiến độc lập.
  5. Khuyến khích trẻ vận dụng kinh nghiệm riêng trong việc sử dụng nguyên vật liệu thiên nhiên:

    • Mục đích: Dạy học phân hóa cá nhân, tôn trọng ý tưởng riêng biệt của từng trẻ.
    • Tiến hành: Phân nhóm tạo hình theo sở thích nguyên liệu trong lớp hoặc góc chơi: nhóm thích sỏi đá tạo hình chú vịt, ếch con, tranh gia đình; nhóm thích hột hạt làm tranh con gà từ hạt đỗ, hạt chi chi; nhóm củ quả in lát chanh lên giấy, làm quả khô; nhóm hoa lá làm con trâu bằng lá đa, cào cào bằng lá dừa, xâu vòng cổ bằng hoa đại, hoa lộc vừng.
    • Điều kiện: Khuyến khích trẻ nhút nhát tham gia đàm thoại, không áp đặt khuôn mẫu đồng loạt.
  6. Hướng dẫn làm mẫu chuẩn mực:

    • Mục đích: Giúp trẻ nắm vững kỹ năng thao tác kỹ thuật mà không triệt tiêu tính sáng tạo.
    • Tiến hành theo quy trình 4 bước:
      • Bước 1: Đàm thoại về nội dung tạo hình (vận động bài hát, đặt câu hỏi gợi mở).
      • Bước 2: Cho trẻ quan sát mẫu và giáo viên thị phạm (vừa làm chậm vừa giải thích rõ ràng).
      • Bước 3: Trẻ trực tiếp thực hiện bài tập, giáo viên quan sát, bao quát và hỗ trợ cá nhân.
      • Bước 4: Tổ chức trưng bày và cho trẻ nhận xét sản phẩm (treo tranh triển lãm trên giá).
    • Điều kiện: Vị trí đứng của cô bao quát cả lớp; vật mẫu phải đa dạng và mang tính thẩm mỹ cao.
  7. Trò chơi hóa sản phẩm tạo hình:

    • Mục đích: Gắn kết sản phẩm tạo hình với đời sống sinh hoạt thực tiễn, củng cố cảm xúc tích cực.
    • Tiến hành: Đưa sản phẩm sau giờ học vào các góc hoạt động (vòng hoa đội đầu đưa vào góc phân vai gia đình đeo cho búp bê; trâu lá đa đem ra sân chăn thả); sử dụng tranh sỏi đá làm quà tặng cha mẹ treo phòng khách; làm quà tặng chú bộ đội nhân ngày lễ hội.
    • Điều kiện: Tổ chức không gian trưng bày trang trọng, tạo tâm trạng hào hứng, tự hào cho trẻ.

Kết quả và đóng góp

Kết quả khảo sát thực tế có trong văn bản

Nghiên cứu phản ánh trung thực thực trạng sư phạm tại địa bàn khảo sát thông qua hệ thống dữ liệu:

  • Đa số giáo viên (88%) nhận thức được tầm quan trọng của nguyên vật liệu thiên nhiên trong việc kích thích sáng tạo, song năng lực ứng dụng thực tế còn hạn chế: chỉ có 33.7% giáo viên thường xuyên bồi dưỡng kỹ năng tạo hình và 16.3% đưa sản phẩm của trẻ vào đời sống sinh hoạt.
  • Thực trạng sáng tạo của trẻ mẫu giáo lớn trước tác động sư phạm ở mức thấp: tỷ lệ trẻ đạt mức trung bình và yếu tại lớp 5 tuổi A2 là 57.5% (Trung bình: 40.0%, Yếu: 17.5%), tại lớp 5 tuổi A3 là 62.5% (Trung bình: 42.5%, Yếu: 20.0%). Tỷ lệ trẻ đạt mức tốt còn hạn chế (15.0% ở lớp A2 và 12.5% ở lớp A3).
  • Xác định rõ các nguyên nhân cản trở: thiếu thốn trang thiết bị, không gian lớp học chật hẹp, trẻ thiếu hụt kỹ năng xé dán/chắp ghép, giáo viên thiếu thời gian do áp lực soạn giảng chương trình đổi mới và tham gia công tác phong trào.

Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất

Tác giả đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ gồm 7 biện pháp sư phạm đi từ khâu chuẩn bị biểu tượng (quan sát, tạo cảm xúc), tổ chức hoạt động (suy luận logic, cá nhân hóa sở thích, quy trình 4 bước làm mẫu) đến khâu đánh giá và ứng dụng (trò chơi hóa sản phẩm). Tác giả kiến nghị nhà trường cần đầu tư không gian, bổ sung đa dạng nguồn nguyên vật liệu thiên nhiên và giảm tải các hoạt động ngoài chuyên môn để giáo viên tập trung nâng cao chất lượng giờ dạy tạo hình.

Đóng góp của đề tài

  • Về lý luận: Tổng hợp và làm rõ các cơ sở lý luận về tính sáng tạo của trẻ mầm non gắn liền với hoạt động tạo hình; xây dựng được khung tiêu chí gồm 3 phương diện (Bố cục, Màu sắc, Hình tượng) với thang điểm 9 mức rõ ràng để lượng hóa tính sáng tạo của trẻ 5–6 tuổi khi thao tác với nguyên vật liệu thiên nhiên.
  • Về thực tiễn: Cung cấp quy trình hướng dẫn cụ thể kèm hệ thống ví dụ sinh động, dễ triển khai từ các nguyên liệu sẵn có ở địa phương (lá chuối, lá dừa, lá đa, hạt nhãn, hạt đỗ, sỏi, đá), giúp giáo viên mầm non đổi mới phương pháp giảng dạy, hạn chế lối truyền thụ áp đặt, rập khuôn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Phạm vi khảo sát thực trạng còn hẹp, mới chỉ thực hiện trên 18 giáo viên và 80 trẻ tại một trường mầm non (Trường mầm non Phú Hộ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ), chưa bao quát nhiều vùng miền có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau.
    • Do giới hạn về thời gian và phạm vi tài liệu, văn bản trích đoạn dừng lại ở hệ thống biện pháp đề xuất tại Chương 2; các dữ liệu định lượng của giai đoạn thực nghiệm sư phạm kiểm chứng (nhiệm vụ 4) chưa được trình bày đầy đủ trong văn bản.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Cần triển khai thực nghiệm sư phạm diện rộng, thu thập số liệu đối chứng trước và sau tác động để kiểm định mức độ cải thiện tính sáng tạo của trẻ bằng các thuật toán thống kê (kiểm định t-test, độ lệch chuẩn).
    • Mở rộng nghiên cứu áp dụng nguyên vật liệu thiên nhiên cho các độ tuổi mẫu giáo bé (3–4 tuổi) và mẫu giáo nhỡ (4–5 tuổi).

Giá trị tham khảo

Tài liệu này cung cấp nguồn tư liệu chuyên môn hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên ngành Giáo dục Mầm non: Tham khảo khung lý thuyết về tâm lý học sáng tạo của trẻ mẫu giáo, quy trình thiết kế bài tập tạo hình và phương pháp luận nghiên cứu thực tiễn trong khóa luận tốt nghiệp.
  • Giáo viên mầm non đang trực tiếp đứng lớp: Ứng dụng trực tiếp hệ thống 7 biện pháp sư phạm, đặc biệt là quy trình hướng dẫn làm mẫu 4 bước và cách thức khai thác các nguyên vật liệu thiên nhiên rẻ tiền, sẵn có tại địa phương để làm phong phú giờ dạy.
  • Cán bộ quản lý chuyên môn mầm non: Tham khảo bộ tiêu chí đánh giá sản phẩm tạo hình (Bố cục, Màu sắc, Hình tượng) để xây dựng tiêu chuẩn chấm thi hội thi "Bé khéo tay" và đánh giá chất lượng chăm sóc - giáo dục thẩm mỹ tại các cơ sở giáo dục mầm non.

Câu hỏi thường gặp

1. Tiêu chí và thang điểm đánh giá tính sáng tạo của trẻ trong nghiên cứu được quy định như thế nào? Tác giả xây dựng 3 tiêu chí đánh giá trên sản phẩm:

  • Bố cục (1–3 điểm): Tốt (3 điểm) khi bố cục cân đối, làm chủ không gian giấy, có chiều sâu xa - gần; Khá (2 điểm) khi dàn trải theo đường ngang; Trung bình (1 điểm) khi lộn xộn, lệch lạc.
  • Màu sắc (1–3 điểm): Tốt (3 điểm) khi màu sắc phù hợp, biết phối màu hài hòa; Khá (2 điểm) khi còn rập khuôn; Trung bình (1 điểm) khi không thể hiện được màu sắc tự nhiên của vật.
  • Hình tượng (1–3 điểm): Tốt (3 điểm) khi đường nét mạch lạc, mềm mại, đúng đặc điểm; Khá (2 điểm) khi tỷ lệ chưa chuẩn; Trung bình (1 điểm) khi hình rời rạc, thô sơ. Tổng điểm tối đa là 9 điểm, xếp thành 4 mức: Tốt (8–9 điểm), Khá (6–7 điểm), Trung bình (4–5 điểm) và Yếu (< 4 điểm).

2. Thực trạng mức độ sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5–6 tuổi tại trường mầm non Phú Hộ trước khi áp dụng biện pháp ra sao? Kết quả khảo sát trên 80 trẻ thuộc 2 lớp 5 tuổi A2 và 5 tuổi A3 cho thấy tính sáng tạo còn ở mức thấp:

  • Lớp 5 tuổi A2 (40 trẻ): Mức Tốt đạt 15.0% (6 trẻ); Khá đạt 27.5% (11 trẻ); Trung bình chiếm 40.0% (16 trẻ); Yếu chiếm 17.5% (7 trẻ).
  • Lớp 5 tuổi A3 (40 trẻ): Mức Tốt đạt 12.5% (5 trẻ); Khá đạt 25.0% (10 trẻ); Trung bình chiếm 42.5% (17 trẻ); Yếu chiếm 20.0% (8 trẻ).

3. Những nguyên nhân chính nào khiến giáo viên gặp khó khăn khi tổ chức hoạt động tạo hình với nguyên vật liệu thiên nhiên? Qua khảo sát 18 giáo viên, các khó khăn được xác định gồm:

  • Cơ sở vật chất, đồ dùng đồ chơi còn thiếu thốn, chưa đồng bộ, không gian lớp học chật chội.
  • Kỹ năng cắt, xé, xếp, dán của trẻ chưa thành thục khi thao tác với các vật liệu tự nhiên.
  • Giáo viên mất nhiều thời gian cho việc soạn giáo án tích hợp chủ đề theo chương trình đổi mới.
  • Giáo viên phải kiêm nhiệm nhiều phong trào của nhà trường và địa phương nên quỹ thời gian đầu tư xây dựng kế hoạch tạo hình bị hạn chế.

4. Quy trình hướng dẫn làm mẫu của giáo viên gồm những bước nào? Tại biện pháp 6, tác giả đề xuất quy trình tổ chức làm mẫu gồm 4 bước:

  • Bước 1: Đàm thoại với trẻ về nội dung tạo hình (qua bài hát, câu đố để gợi mở).
  • Bước 2: Cho trẻ xem mẫu, phân tích mẫu và cô làm mẫu trực tiếp (đứng vị trí trung tâm, vừa làm chậm vừa giải thích).
  • Bước 3: Trẻ tiến hành thực hiện bài tập; giáo viên quan sát, khích lệ và sửa sai cá nhân.
  • Bước 4: Tổ chức trưng bày sản phẩm (triển lãm tranh trên giá) để trẻ tự nhận xét và đánh giá sản phẩm của mình, của bạn.

5. Tác giả đề xuất những ý tưởng tạo hình cụ thể nào từ nguyên vật liệu thiên nhiên? Các ví dụ cụ thể trong tài liệu bao gồm:

  • Dùng lá dừa tết con cào cào, con chuồn chuồn.
  • Dùng lá đa làm con trâu; dùng các loại lá cây xé dán thuyền trên biển.
  • Dùng hạt nhãn làm tranh "Hai chú kiến đoàn kết" hoặc làm mắt con vật.
  • Dùng hạt đỗ, hạt vừng, hạt chi chi xếp hình con gà, con vịt.
  • Dùng sỏi, đá tự nhiên xếp dán bức tranh "Gia đình yêu thương", tạo hình chú vịt, chú ếch con.
  • Dùng hoa đại, hoa lộc vừng xâu thành vòng cổ, vòng đội đầu; dùng rơm hoặc râu ngô bện tổ chim.

Kết luận

Khóa luận đã giải quyết một vấn đề sư phạm thiết thực trong giáo dục mầm non: khai thác tiềm năng của nguyên vật liệu thiên nhiên để giải phóng tính sáng tạo cho trẻ 5–6 tuổi trong hoạt động tạo hình. Thông qua việc phân tích thực trạng tại trường mầm non Phú Hộ với các số liệu điều tra khách quan, đề tài đã chỉ rõ những điểm nghẽn về phương pháp tổ chức và kỹ năng của trẻ. Hệ thống 7 biện pháp sư phạm được đề xuất mang tính đồng bộ, chi tiết từ khâu cung cấp biểu tượng đến quy trình làm mẫu và ứng dụng sản phẩm, tạo tiền đề nâng cao chất lượng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ lứa tuổi mẫu giáo lớn.