Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong lịch sử phát triển xã hội, gia đình đóng vai trò là tế bào của xã hội, trực tiếp tác động đến sự ổn định và phát triển của quốc gia. Bên cạnh yếu tố tình cảm, cơ sở vật chất và điều kiện kinh tế là nền tảng bảo đảm sự duy trì bền vững của quan hệ hôn nhân. Trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng, diện mạo kinh tế của gia đình có nhiều chuyển biến; vợ và chồng tham gia ngày càng nhiều vào các quan hệ dân sự, kinh doanh, thương mại độc lập hoặc cùng nhau. Việc quản lý, sử dụng và định đoạt khối tài sản chung đòi hỏi sự cân bằng chặt chẽ giữa quyền tự chủ của mỗi bên với việc bảo đảm lợi ích chung của gia đình và quyền lợi chính đáng của người thứ ba tham gia giao dịch.

Thực tiễn áp dụng pháp luật ghi nhận nhiều trường hợp một bên tự ý định đoạt tài sản chung khi chưa có sự đồng thuận của bên kia, dẫn đến các tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu, hoặc các bất cập trong xử lý nghĩa vụ trả nợ, phân định tài sản khi hôn nhân rạn nứt. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cùng Nghị định số 126/2014/NĐ-CP được ban hành đã tạo bước tiến quan trọng khi chính thức công nhận chế độ tài sản theo thỏa thuận bên cạnh chế độ tài sản theo luật định, mở rộng quyền tự chủ của vợ chồng trong việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên, quá trình áp dụng vào thực tiễn xét xử vẫn phát sinh một số vướng mắc, bất cập cần được nghiên cứu và làm sáng tỏ dưới góc độ lý luận lẫn thực tiễn.

  • Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; phân tích ranh giới quyền và nghĩa vụ chung - riêng; trên cơ sở đó đề xuất quan điểm và giải pháp hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật, nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ việc tại Tòa án.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nghiên cứu lý luận chung về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản thông qua khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa gắn liền với chế độ tài sản của vợ chồng.
    2. Làm rõ quá trình hình thành và phát triển của chế định quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng qua các thời kỳ lịch sử pháp luật Việt Nam, kết hợp so sánh với quy định của một số quốc gia trên thế giới.
    3. Phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chỉ ra những thành tựu đạt được và hạn chế còn tồn tại; từ đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ tài sản trong quan hệ hôn nhân.
  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng trong chế độ tài sản theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; các quy định pháp luật hiện hành có liên quan trong mối liên hệ với Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành; thực tiễn xét xử thông qua các bản án, quyết định cụ thể của Tòa án nhân dân.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian và nội dung: Tập trung vào hệ thống pháp luật Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại (trọng tâm là Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đang có hiệu lực), tham khảo pháp luật một số nước (Pháp, Nhật Bản, Thái Lan và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây); phân tích báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố và các bản án thực tế.
    • Giới hạn loại trừ: Khóa luận không nghiên cứu các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được xây dựng trên hệ thống cơ sở lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về gia đình và nhà nước pháp quyền, kết hợp với các học thuyết pháp lý về quyền sở hữu và hợp đồng hôn sản.

  • Khung văn bản pháp luật sử dụng:
    • Văn bản hiện hành: Hiến pháp năm 2013 (Điều 32); Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (các điều khoản về đại diện, chế độ tài sản, quyền và nghĩa vụ tài sản chung/riêng: Điều 3, 24, 25, 27, 29, 30, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 40, 41, 42, 43, 44, 46); Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 53, 105, 115, 134, 158, 563, 587); Luật Đất đai năm 2013 (Điều 98); Nghị định số 126/2014/NĐ-CP (Điều 9, 10, 11, 12, 13); Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT và Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
    • Văn bản pháp luật lịch sử: Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức), Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long); Dân luật Bắc kỳ năm 1931 (DLBK), Dân luật Trung kỳ năm 1936 (DLTK), Dân luật giản yếu Nam kỳ năm 1883 (DLGYNK); Luật Gia đình năm 1959, Sắc luật số 15/64, Bộ Dân luật năm 1972 tại miền Nam trước năm 1975; Sắc lệnh số 97/SL và 159/SL năm 1950, Luật Hôn nhân và Gia đình các năm 1959, 1986, 2000.
    • Pháp luật nước ngoài tham chiếu: Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 (Điều 1388, 1389, 1395); Bộ luật Dân sự Nhật Bản (Điều 756); Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan (Điều 1465); các nguyên tắc pháp lý về chế độ tài sản trong luật hôn nhân của Liên Xô, Ba Lan, CHDC Đức, Tiệp Khắc, Bungari, Cuba, Trung Quốc.
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Xem xét sự biến đổi của chế định tài sản gắn liền với sự thay đổi của hình thái kinh tế - xã hội qua từng thời kỳ.
    • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Làm rõ nội hàm các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt và cơ chế chịu trách nhiệm liên đới.
    • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu sự khác biệt giữa các văn bản pháp luật qua các thời kỳ lịch sử của Việt Nam và so sánh với pháp luật của các quốc gia theo hệ thống Civil Law.
    • Phương pháp thống kê, đánh giá thực tiễn: Tiếp cận các báo cáo tổng kết ngành Tòa án và phân tích các vụ án cụ thể phát sinh trong thực tế.
  • Nguồn dữ liệu tham khảo: Giáo trình Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2021); công trình nghiên cứu, luận án, luận văn chuyên ngành của các tác giả Nguyễn Văn Cừ (2005, 2008, 2014, 2019), Nguyễn Thị Kim Dung (2014), Nông Thị Thoa (2017), Đoàn Ngọc Dụng (2020), Từ Văn Bắc (2021), Nguyễn Ngọc Điện (2016), Bùi Minh Hồng (2009); các bài viết trên Tạp chí Luật học, Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Một số vấn đề lý luận về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản

Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận về chế định tài sản trong hôn nhân:

  • Khái niệm và bản chất pháp lý: Tài sản theo Điều 105 BLDS 2015 gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Quyền sở hữu gồm ba quyền năng: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt (khác với pháp luật một số nước phương Tây chỉ coi quyền sở hữu gồm sử dụng và định đoạt, còn chiếm hữu là tình trạng thực tế). Tài sản chung của vợ chồng thuộc hình thức sở hữu chung hợp nhất, phục vụ nhu cầu thiết yếu và thực hiện nghĩa vụ chung. Tài sản riêng bảo đảm sự độc lập của mỗi cá nhân với tư cách là chủ thể độc lập trong quan hệ pháp luật dân sự.
  • Ý nghĩa của việc quy định quyền và nghĩa vụ tài sản: Bảo đảm gia đình thực hiện tốt chức năng tế bào xã hội; bảo vệ sự an toàn pháp lý cho người thứ ba ngay tình khi xác lập giao dịch; cung cấp căn cứ pháp lý rõ ràng để Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tài sản, phân định nghĩa vụ bồi thường thiệt hại.
  • Các yếu tố tác động đến pháp luật tài sản vợ chồng: Trình độ phát triển kinh tế - xã hội; xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế và tự do giao kết hợp đồng hôn sản; truyền thống văn hóa, phong tục tập quán và nguyên tắc bình đẳng giới của Nhà nước.
  • Tiến trình lịch sử pháp luật Việt Nam về tài sản vợ chồng:
Thời kỳ lịch sử Văn bản tiêu biểu Đặc điểm chế độ tài sản của vợ chồng
Phong kiến Quốc triều hình luật (thời Lê), Hoàng Việt luật lệ (thời Nguyễn) Quốc triều hình luật ghi nhận quyền sở hữu tài sản riêng và tài sản chung tương đối tiến bộ; Hoàng Việt luật lệ mang nặng tư tưởng Nho giáo phong kiến, tước bỏ quyền sở hữu độc lập của người vợ.
Pháp thuộc DLBK 1931, DLTK 1936, DLGYNK 1883 Bắc kỳ và Trung kỳ áp dụng chế độ cộng đồng toàn sản nếu không lập hôn ước, quyền quản lý tập trung vào người chồng; Nam kỳ không thừa nhận tài sản riêng của người vợ.
Miền Nam (1954 - 1975) Luật Gia đình 1959, Sắc luật 15/64, Bộ Dân luật 1972 Thừa nhận chế độ tài sản ước định (hôn ước) và pháp định (cộng đồng toàn sản hoặc cộng đồng động sản và tạo sản), duy trì quyền gia trưởng của người chồng.
Sau Cách mạng tháng Tám đến nay Sắc lệnh 97/SL & 159/SL (1950), Luật HN&GĐ 1959, 1986, 2000, 2014 Xóa bỏ bất bình đẳng giới, khẳng định quyền bình đẳng tuyệt đối. Luật 1959 áp dụng cộng đồng toàn sản; Luật 1986 phân định tài sản chung/riêng và cho phép chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân; Luật 2000 hoàn thiện quyền sở hữu riêng; Luật 2014 bổ sung chế độ tài sản theo thỏa thuận.

Chương 2. Pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản

Chương này phân tích chi tiết các quy định thực định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và văn bản hướng dẫn:

  • Xác định tài sản chung và tài sản riêng:
    • Tài sản chung (Điều 33): Tài sản tạo ra do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân (tiền thưởng, trúng thưởng xổ số, trợ cấp theo Điều 9 Nghị định 126/2014/NĐ-CP); tài sản được thừa kế chung, tặng cho chung; quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn (trừ trường hợp được thừa kế/tặng cho riêng hoặc mua bằng tài sản riêng). Nguyên tắc suy đoán: nếu không có chứng cứ chứng minh là tài sản riêng thì coi là tài sản chung.
    • Tài sản riêng (Điều 43): Tài sản có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng; tài sản được chia riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu; quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ, khoản trợ cấp ưu đãi người có công (Điều 11 Nghị định 126/2014/NĐ-CP).
  • Quyền và nghĩa vụ đối với tài sản chung:
    • Bình đẳng quyền năng (Điều 29, Điều 35): Vợ chồng ngang nhau trong chiếm hữu, sử dụng, định đoạt, không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập. Định đoạt bất động sản, động sản phải đăng ký quyền sở hữu, hoặc tài sản là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình bắt buộc phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của cả hai vợ chồng.
    • Đưa tài sản chung vào kinh doanh (Điều 25, Điều 36): Khi có thỏa thuận bằng văn bản giao một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh, người đó tự mình xác lập giao dịch; hoa lợi, lợi tức thu được vẫn thuộc sở hữu chung hợp nhất.
    • Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng (Điều 34 Luật HN&GĐ 2014, Điều 98 Luật Đất đai 2013): Giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
    • Đại diện và giám hộ (Điều 24): Vợ hoặc chồng là người giám hộ đương nhiên của bên kia khi bị mất năng lực hành vi dân sự, có quyền đại diện xác lập giao dịch định đoạt tài sản chung để bảo đảm đời sống gia đình (phù hợp Điều 53 BLDS 2015).
    • Nghĩa vụ chung về tài sản (Điều 37): Gồm nghĩa vụ do vợ chồng cùng thỏa thuận; nghĩa vụ bồi thường thiệt hại liên đới (Điều 587 BLDS 2015); bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự gây ra; nghĩa vụ do một bên xác lập nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình (Điều 30).
    • Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (Điều 38, 40, 41, 42): Vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung bằng văn bản công chứng/chứng thực hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết. Phần tài sản được chia và hoa lợi phát sinh từ phần đó thuộc sở hữu riêng của mỗi bên. Thỏa thuận chia bị vô hiệu nếu nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ, nộp thuế, cấp dưỡng hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống gia đình.
  • Quyền và nghĩa vụ đối với tài sản riêng:
    • Quyền tự chủ của chủ sở hữu (Điều 44, Điều 46): Vợ, chồng có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng; tự quyết định việc nhập hay không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung. Thủ tục nhập quyền sử dụng đất riêng vào tài sản chung phải tuân thủ trình tự đăng ký biến động theo Thông tư 24/2014/TT-BTNMT và Thông tư 33/2017/TT-BTNMT.
    • Nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng (khoản 2 Điều 30): Trường hợp không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, vợ chồng có nghĩa vụ dùng tài sản riêng đóng góp theo khả năng kinh tế của mỗi bên.
    • Quản lý tài sản riêng: Khi một bên không thể tự quản lý và không ủy quyền cho người khác, bên còn lại có quyền quản lý nhưng không đương nhiên trở thành chủ sở hữu; nếu tự ý định đoạt trái phép, bên sở hữu có quyền yêu cầu Tòa án tuyên giao dịch vô hiệu.

Chương 3. Thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản và giải pháp hoàn thiện pháp luật

Chương này đánh giá thực trạng xét xử và đề xuất các nhóm giải pháp:

  • Thực tiễn thực hiện và các vướng mắc qua vụ án cụ thể:
    • Giao dịch tài sản đứng tên một bên: Điển hình là tình huống giao dịch chứng khoán của cá nhân đứng tên tài khoản (trường hợp chị B dùng tiền mua chứng khoán đứng tên mình, anh A yêu cầu hủy giao dịch; theo Điều 38 Luật HN&GĐ, do hai bên chỉ thỏa thuận miệng nên giao dịch với bên thứ ba ngay tình là công ty chứng khoán vẫn có hiệu lực pháp luật).
    • Tranh chấp quyền sử dụng đất cấp trước năm 2004: Các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ ghi tên một người gây khó khăn cho việc chứng minh nguồn gốc tài sản chung hay riêng khi ly hôn.
    • Lạm dụng phân chia tài sản để trốn tránh nghĩa vụ: Tình trạng tẩu tán tài sản thông qua thỏa thuận chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân nhằm né tránh nghĩa vụ thi hành án dân sự hoặc nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước.
  • Giải pháp hoàn thiện pháp luật:
    • Hoàn thiện quy định: Sửa đổi, hướng dẫn cụ thể tiêu chí định lượng về "nhu cầu thiết yếu của gia đình" tại khoản 20 Điều 3 Luật HN&GĐ 2014; bổ sung quy định chi tiết về cơ chế bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi xác lập giao dịch với một bên vợ/chồng; xây dựng hướng dẫn thống nhất giữa Luật Đất đai, Luật Nhà ở và Luật Hôn nhân và Gia đình về thủ tục cấp đổi giấy tờ đứng tên cả hai vợ chồng.
    • Nâng cao hiệu quả áp dụng: Tăng cường liên thông dữ liệu thông tin giữa Tòa án, Văn phòng Đăng ký đất đai, tổ chức hành nghề công chứng và cơ quan Thi hành án dân sự; đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật về chế độ tài sản theo thỏa thuận; nâng cao kỹ năng điều tra, thu thập chứng cứ của Thẩm phán khi giải quyết các tranh chấp tài sản chung - riêng phức tạp.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu chính:
    • Hệ thống hóa toàn diện các quy định về quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, làm rõ các căn cứ xác định tài sản chung, tài sản riêng và cơ chế chịu trách nhiệm liên đới theo Điều 27 và Điều 37.
    • Phân tích sâu sắc sự chuyển dịch từ nguyên tắc "cộng đồng toàn sản" thời kỳ trước năm 1986 sang việc thừa nhận song song hai chế độ: tài sản theo luật định và tài sản theo thỏa thuận trong pháp luật hiện hành.
    • Luận giải cơ chế pháp lý về việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (Điều 38, 40, 42) và các điều kiện pháp lý để bảo vệ bên thứ ba ngay tình khi giao dịch với một bên vợ hoặc chồng.
  • Giải pháp và kiến nghị đề xuất:
    • Đề xuất bổ sung văn bản quy phạm dưới luật hướng dẫn cụ thể về việc xác định "lao động trong gia đình được coi như lao động có thu nhập" để áp dụng thống nhất trong xét xử chia tài sản.
    • Kiến nghị quy định bắt buộc phải công chứng hoặc đăng ký đối với các thỏa thuận đưa tài sản chung có giá trị lớn vào kinh doanh riêng để bảo đảm tính minh bạch và tránh tranh chấp.
    • Hoàn thiện chế tài xử lý các trường hợp thỏa thuận phân chia tài sản mang tính chất tẩu tán, trốn tránh nghĩa vụ dân sự đối với chủ nợ.
  • Đóng góp của khóa luận: Khóa luận đã kết hợp phương pháp nghiên cứu lịch sử lập pháp Việt Nam với việc đối chiếu quy định của các hệ thống pháp luật nước ngoài (Pháp, Nhật Bản, Thái Lan), cung cấp góc nhìn lập pháp hoàn chỉnh về quyền tự chủ tài sản của cá nhân trong quan hệ hôn nhân.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Khóa luận chủ yếu tập trung vào các quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam ở trong nước; phạm vi nghiên cứu loại trừ các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài hoặc tranh chấp tài sản của vợ chồng có yếu tố quốc tế (tài sản ở nước ngoài, một bên là người nước ngoài). Số lượng bản án thực tế được trích dẫn và phân tích còn giới hạn ở một số vụ án điển hình.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu sang chế định chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong tư pháp quốc tế; phân tích các xung đột pháp luật về tài sản hôn nhân khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng hơn; nghiên cứu cơ chế công khai, đăng ký tài sản hôn ước trên hệ thống dữ liệu số quốc gia.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Dân sự: Tài liệu tham khảo hữu ích cho việc học tập, nghiên cứu các chuyên đề về quyền sở hữu, chế độ tài sản và trách nhiệm liên đới của vợ chồng.
    • Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Luật sư, Công chứng viên: Cung cấp nguồn phân tích quy phạm rõ ràng phục vụ việc giải quyết các tranh chấp về phân chia tài sản chung, xác định hiệu lực của hợp đồng dân sự và bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba ngay tình.
  • Nội dung giá trị nhất:
    • Bảng so sánh và phân tích lịch sử lập pháp về chế độ tài sản của vợ chồng qua các thời kỳ (Chương 1).
    • Phân tích chuyên sâu về điều kiện vô hiệu của thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (Điều 42) và nghĩa vụ liên đới đối với các giao dịch đáp ứng nhu cầu thiết yếu (Chương 2).

Câu hỏi thường gặp

1. Theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, những loại tài sản chung nào khi định đoạt bắt buộc phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của cả vợ và chồng?
Căn cứ khoản 2 Điều 35 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Điều 13 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP, việc định đoạt tài sản chung phải có văn bản thỏa thuận của cả hai vợ chồng trong các trường hợp: bất động sản; động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu; và tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.

2. Vợ, chồng có được quyền chia tài sản chung khi quan hệ hôn nhân vẫn đang tồn tại không và hệ quả pháp lý được quy định ra sao?
Căn cứ Điều 38 và Điều 40 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung (phải lập thành văn bản) hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi chia, phần tài sản được chia cùng với hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản đó là tài sản riêng của mỗi bên (trừ khi có thỏa thuận khác), phần tài sản còn lại không chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản chung chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch dân sự được xử lý như thế nào?
Căn cứ Điều 34 và Điều 36 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, tài sản đó vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng. Giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định về đại diện giữa vợ và chồng. Nếu người đứng tên tự ý xác lập giao dịch trái quy định về đại diện thì giao dịch đó bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền lợi theo quy định của Bộ luật Dân sự.

4. Thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân bị tuyên bố vô hiệu trong những trường hợp nào?
Căn cứ Điều 42 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, thỏa thuận chia tài sản chung bị vô hiệu nếu thuộc một trong các trường hợp: ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình, quyền và lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; hoặc nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ thanh toán khi bị tuyên bố phá sản, nghĩa vụ trả nợ, nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước.

5. Khi một bên vợ hoặc chồng bị mất năng lực hành vi dân sự thì quyền quản lý và định đoạt tài sản chung được thực hiện như thế nào?
Theo quy định tại khoản 3 Điều 24 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và khoản 1 Điều 53 Bộ luật Dân sự năm 2015, bên vợ hoặc chồng còn lại là người giám hộ đương nhiên, đại diện cho bên bị mất năng lực hành vi dân sự trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản chung nhằm bảo đảm duy trì đời sống chung và lợi ích của gia đình.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Cầm Thị Lan Hương đã phân tích một cách có hệ thống cơ sở lý luận, lịch sử lập pháp và các quy phạm thực định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 về quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng. Công trình làm rõ sự cân bằng giữa bảo đảm quyền tự chủ sở hữu cá nhân với việc duy trì trách nhiệm liên đới phục vụ lợi ích chung của gia đình và trật tự an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự. Các kiến nghị và giải pháp hoàn thiện được đề xuất có giá trị thực tiễn đối với công tác lập pháp và hoạt động xét xử của Tòa án trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường hiện nay.