Mở đầu: trang 1 đến trang 3. Phần 2: Tổng quan: từ trang 4 đến trang 81. Phần 3: Vật liệu và phương pháp: từ trang 82 đến trang 120. Phần 4: Kết quả và bàn luận: từ trang 121 đến trang 180.
2 Phần 5: Kết luận và kiến nghị: trang 181 đến trang 182. Phần 6: Tài liệu tham khảo: trang 183.5 Địa điểm thực hiện nghiên cứu Địa điểm khảo sát tại TPHCM: công viên Hoàng Văn Thụ, công viên Tao Đàn, công viên Gia Định và tại Trường Đại Học Công nghiệp Thực phẩm TPHCM. Địa điểm thí nghiệm: Trung tâm thí nghiệm thực hành Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm TPHCM – 93 và 337 Tân Kỳ Tân Quý, Phường Tân Sơn Nhì, Quận Tân Phú, TPHCM.1 Tổng quan về thị trường nước giải khát không cồn tại Việt Nam Việt Nam là một trong những nước Châu Á có tiềm năng sản xuất nước giải khát đặc biệt là nước giải khát có lợi cho sức khỏe. Điều này được minh chứng qua 3 ý sau: Thứ nhất, theo thống kê ở hình 2.1 cho thấy khối lượng tiêu thụ nước giải khát tăng dần qua các năm từ 2010 – 2015.
Trong đó năm 2015 đạt mức 3.1 tỷ lít khối lượng tiêu thụ tương tương với 46.8 nghìn tỷ đồng (2.19 tỷ USD) doanh số bán [2]. 1 Khối lượng và doanh thu nước giải khát 2010–2015 Thứ hai, báo cáo tài chính của Brandsvietnam 2015 thì nguyên nhân chủ yếu giúp cho ngành nước giải khát Việt Nam có mức tiêu thụ cao là do điều kiện khí hậu nóng ẩm, văn hóa ăn uống đa dạng với sự phát triển nhanh của dịch vụ ăn uống ngoài hàng đã đẩy nhu cầu về nước giải khát tăng nhanh chóng qua các năm [3]. Còn báo cáo về thị trường thức uống Việt Nam của Babuki thì thị trường thức uống được dự báo là 6% đến năm 2020, ngành công nghiệp đồ uống tại Việt Nam là một trong những ngành hàng tiêu dùng nhanh tăng trưởng cao nhất. Tiêu thụ nước giải khát đạt 81,6 tỷ lít vào năm 2016 với triển vọng đạt 109 tỷ lít vào năm 2020 [4].
Thứ ba, xu hướng của người tiêu dùng Việt Nam đang chuyển sang tiêu thụ đồ uống có giá trị cao hơn. Báo cáo phân tích thị trường quý 2/2016 của Nelsen, gần 8 trong 10 người Việt sẵn sàng trả thêm tiền cho thực phẩm và đồ uống không chứa các thành phần không mong muốn như chất bảo quản, màu nhân tạo và xu hướng này vẫn không ngừng tăng lên [5]. Khi nói đến sự chọn lựa thành phần nguyên liệu, sự tập trung vào các nguyên liệu đơn giản và với tư tưởng trở về với tự nhiên đại đa số ít sử dụng lại các nguyên liệu nhân tạo hoặc thực phẩm chế biến. Chính vì vậy những chất như: chất bảo quản nhân tạo (70%), màu sắc nhân tạo (68%) và hương vị nhân tạo (65%) đứng đầu danh sách các thành phần 4 mà người tiêu dùng Việt Nam cố gắng tránh không sử dụng.
Ngoài ra, hơn một nửa số người được hỏi muốn tránh khỏi việc dùng kháng sinh hoặc chất kích thích (59%) và các chất làm ngọt nhân tạo (52%). Trong đó có 79% người Việt trả lời chủ động lựa chọn chế độ ăn uống để giúp ngăn ngừa tình trạng sức khỏe như béo phì, tiểu đường, cholesterol cao hoặc tăng huyết áp. Theo Tổ chức Y Tế Thế giới (WHO), bệnh mãn tính như tiểu đường loại 2, bệnh tim mạch và ung thư được dự kiến sẽ chiếm khoảng 73% các ca tử vong trên toàn cầu vào năm 2020, tăng từ khoảng 60% năm 2001 [6]. Từ những nhận định trên thấy được nhu cầu được sống khỏe mạnh thật sự rất lớn đối với đa số người tiêu dùng.
Và điều này sẽ mở ra nhiều cơ hội và cũng chính là phân khúc tìm năng cho các sản phẩm mà đáp ứng được như cầu về sức khỏe. Dựa vào hình 2.2 cho thấy yếu tố dinh dưỡng nằm trong các loại nước giải khát tăng lên, khiến cho tỉ trọng tiêu thụ nước giải khát có ga bị suy giảm. Và cùng với đó, là sự tăng lên của trà xanh, nước ép và các loại nước bổ sung vitamin và chất dinh dưỡng khác [7]. 2 Mức tăng trưởng của nước giải khát không ga từ giai đoạn 2007-2017 (Nguồn: Euromonitor) Nước trà xanh đóng chai Mới xuất hiện từ khoảng 7-8 năm trở lại đây, nhưng theo Neisen 2013 mặt hàng trà xanh đóng chai đã chứng kiến một tốc độ tăng trưởng nhanh trên 35%/năm trong giai đoạn 2009- 2013.
Hương vị trà xanh đã rất quen thuộc với người Việt Nam nay lại có thêm mặt hàng pha sẵn đóng chai với nhiều hương vị khác nhau khiến việc sử dụng càng dễ dàng hơn. Bên cạnh đó, trà xanh nay được các nhà khoa học chứng minh rằng nó bao gồm tính chất chống oxy hóa giúp cơ thể luôn sảng khoái, giảm căng thẳng mệt mỏi, ngăn ngừa ung thư và giảm cholesterol. Về thị phần của các doanh nghiệp, theo thống kê của Neisen vào năm 2013, tính trên thị trường trà xanh nói riêng, thương hiệu trà xanh không độ của Tân Hiệp Phát vẫn dẫn đầu 5 thị trường với 46,4%, C2 của URC chiếm 19,6%, Nuta trà chanh của Tân Quang Minh chiếm khoảng 9,1% [2]. Tất cả đều được thể hiện ở hình 2.
3 Thị phần và thương hiệu trà uống liền năm 2013 (Nguồn: Euromonitor Internation 2013) Về tốc độ tăng trưởng thì trà uống liền có tốc độ có tốc độ tăng trưởng nhanh chóng trong giai đoạn 2009-2010. Năm 2013, trà uống liền đạt 21 nghìn tỷ đồng (994 triệu USD) doanh số bán, tăng 12,2% và khối lượng tiêu thụ là 1 tỷ lít, tăng 13,3% so với năm 2012. Tốc độ CAGR 2010-2013 của sản phẩm này đạt 15,9% về khối lượng và 14,9% về giá trị được thể hiện ở hình 2. 4 Doanh thu nước giải khát không cồn năm 2013 (Nguồn: Euromonitor International 2013) Nước giải khát có gas Nhóm trà xanh và các sản phẩm mới nổi thay thế, tỉ trọng nước ngọt có ga trong ngành nước giải khát không cồn đang bị thu hẹp dần lại.
Tốc độ tăng trưởng doanh thu tính theo lít của nhóm hàng này giảm từ 8.16% năm 2013 và tiếp tục được dự báo giảm xuống còn 7% năm 2017 theo BMI. Việc mất dần tỉ trọng của nhóm nước giải khát có ga được giải thích bằng việc thị hiếu của người tiêu dùng đã thay đổi. Thay vì những loại nước có ga, người tiêu dùng chuyển sang uống các loại nước trà đóng sẵn hay các loại nước hoa quả trái cây tốt cho sức khỏe khác. Theo thống kê của Bộ Công Thương năm 2013, trung bình cứ 10 người đi vào siêu thị, thì đến 6 người lựa chọn mua nước hoa quả thay vì nước giải khát có ga.
6 Nước tăng lực Sự tăng trưởng của dòng nước tăng lực tại Việt Nam cũng chịu sự cạnh tranh khốc liệt của các tập đoàn lớn. Năm 2001, Tân Hiệp Phát sau khi thất bại ở dòng sản phẩm bia Bến Thành đã cho ra sản phẩm mới là nước tăng lực Number 1. Loại nước giải khát này đạt thành công nhanh chóng vì nó đã đáp ứng được thị hiếu của giới trẻ năng động. Theo đó hai công ty Coca Cola Việt nam và Pepsico Việt Nam đã sản xuất hai dòng sản phẩm tương tự lấy tên là Samurai và Sting.
Đặc biệt, Pepsico cho ra đời những sản phẩm Sting mang hương vị hoa quả nên nhanh chóng thu được thiện cảm của giới trẻ, vươn lên dẫn đầu thị trường về dòng sản phẩm này. Cụ thể, tính theo thị trường nhánh này, Sting của Pepsico chiếm khoảng 40%, theo sát là Number 1 của Tân Hiệp Phát với 30%, Samurai tụt lại phía sau với khoảng 10% thị phần vào năm 2013. Nước tăng lực các loại có tốc độ tăng trưởng doanh thu thấp hơn so với các ngạch nước giải khát khác, nhưng có xu hướng ngược chiều khi giai đoạn 2009-2013, thị trường này chỉ tăng với tốc độ trung bình là 8%/năm thì đến giai đoạn 2014-2017, Euromonitor dự báo tăng với tốc độ 11%/năm. Nước ép trái cây Nước ép trái cây bổ sung dưỡng chất cho cơ thể.
Vì vậy, nước trái cây ép cũng đang tăng trưởng với tốc độ cao (21%/năm trong giai đoạn 2009-2013). Dòng nước trái cây này dược dự đoán tiếp tục tăng trưởng với tốc độ trung bình đạt 17.5%/năm trong vòng 5 năm tới. Thị phần của các dòng nước hoa quả chưa được xác định rõ ràng. Nhưng theo một khảo sát của Vinaresearch, dòng nước ép Vfresh của Vinamilk được ưa chuộng nhất, sau đó đến dòng nước ép trái cây Number 1 của Tân Hiệp Phát, dòng nước cam bưởi ép Trio.
Theo báo báo cáo thị trường quý 2/2016 của Nielsen, xu hướng đại đa số người tiêu dùng đang từ bỏ thức uống có nguyên liệu nhân tạo để lựa chọn sản phẩm được chiết xuất từ nguồn gốc tự nhiên [8]. Tuy nhiên, mỗi loại trà khác nhau lại có những thành phần thảo mộc và công dụng khác nhau. Đồ uống từ trà có thảo mộc là một phương pháp giúp cung cấp các chất dinh dưỡng từ các loại cây thảo mộc dưới dạng nước, giúp cơ thể hấp thụ dễ dàng hơn. Theo báo cáo của VPBank Securities thì tiêu thụ nước giải khát (NGK) trung bình mỗi người VN chỉ khoảng 23 lít/năm, thấp hơn rất nhiều so với mức 40 lít/năm/người của thế giới.
Về số lượng, ở Việt Nam mới có trên 7.000 loại thức uống trong khi ở Nhật bản là 14. Với mức tiêu thụ và số lượng nước giải khát như thống kê, dễ nhận thấy thị trường và người tiêu dùng Việt là đối tượng cần được “phục vụ” nhiều hơn so với những thị trường đã bão hòa. 7 Từ đó cho thấy trà uống liền là một trong những thị trường tìm năng tạo được sự hấp dẫn và thu hút của người tiêu dùng ở Việt Nam.2 Môt số sản phẩm trà phổ biến hiện nay STT Sản phẩm Thương hiệu Thành phần ĐẶC ĐIỂM Bao Hạn Xuất Hướng GIÁ THỊ nguyên liệu bì sử xứ dẫn bảo TRƯỜNG dụng quản 1 Trà xanh Oo Không độ Nước, đường, Sản phẩm chứa Chai 1 Việt Để ở nơi 8,000đ /455ml fructose, trà hàm lượng PET năm Nam khô ráo, xanh, vitamin EGCG cao có thoáng C, hương trong lá trà xanh. mát, tránh chanh tự Sản phẩm giải ánh nắng nhiên, màu tự khát không chứa trực tiếp.
nhiên dùng các chất bảo trong thực quản gây hại, phẩm. chất tạo màu nhân tạo. 2 Trà Ô Long Tea Plus Tea Plus Nước, đường, Sản phẩm còn Chai 1 Việt Để nơi 9,000đ/455ml trà Ô Long có chứa OTTP PET năm Nam khô sạch, (7,5g/l), (Oloong Tea thoáng hương giống Polymerized mát. tự nhiên, chất Polyphenols) chống oxi hóa giúp hạn chế hấp (E300), chất thu chất béo.