Đặt Vấn Đề Trong những năm gần đây, các hoạt động nuôi thủy sản, đặc biệt là nuôi thủy sản nước lợ ở các vùng ven biển nước ta nói chung và ĐBSCL nói riêng càng trở nên năng động. Bên cạnh những đối tượng nuôi mang tính chất truyền thong như tôm biển, cá rô phi, nhiều loài khác vốn từ lâu là đối tượng khai thác nay đang bắt đầu được chú trọng trong nghề nuôi. Một trong số đó là cá chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790). Ở Thái Lan, _phần lớn cá chẽm trên thị trường là cá chẽm nuôi lồng hay ao, Thái Lan là nước đầu tiên sản xuất cá chém gidng và có truyền thống lâu đời về lĩnh vực nay.
Tuy nhiên nhiều nước ở Châu A vẫn có bờ biển dài thuận lợi cho việc nuôi cá chẽm trong ao hay lồng, nhưng hoạt động nuôi trong suốt một thập kỷ qua vẫn không phát triển do thiếu cá giống (www, fishternet. Ở nước ta, cá chém vẫn đang là lựa chọn hang đầu trong những ao nuôi tôm biển kém hiệu quả hay nuôi xen canh với tôm sú nham hạn chế dịch bệnh, ngoài ra cá chẽm nuôi lồng bè cũng phát triển mạnh như ở Long Sơn - Vũng Tàu. Điều khó khăn nhất hiện nay vẫn là sự thiếu hụt về con giống. Đứng trước thực trạng đó, Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản II đã đăng ký đề tài: “Sinh sản nhân tạo giống cá chém Lates calcarifer”.
Dé tài đã được Bộ Thủy sản phê duyệt trong 2 năm 1998 - 2000 và đã thành công như mong đợi. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã được ứng dụng ngay vào sản xuất thực tiễn tại Trung Tâm Quốc Gia Giống Hải Sản Nam Bộ. Cho đến nay sản xuất giống cá chém tại đây rất ôn định, mỗi năm cung cấp cho người nuôi hàng triệu con gidng. Được sự chấp thuận của Ban Lãnh Đạo Trung Tâm Quốc Gia Giông Hải Sản Nam Bộ và sự phân công của khoa Thủy Sản, trường Đại Học Nông Lâm Tp.HCM, tôi thực hiện dé tài: “Khảo sát qui trình sản xuất giống nhân tạo cá chém (Lates calcarifer Bloch, 1790).2 Mục Tiêu Đề Tài Dé tai được thực hiện nhăm mục tiêu nam vững qui trình sản xuât giông cá chém, bao gôm: > Nuôi thành thục cá bố mẹ, kích thích sinh sản và cho đẻ.
> Nuôi thức ăn tự nhiên dùng ương nuôi ấu trùng cá chẽm. > Ương nuôi âu trùng cá chém: Từ cá bột lên cá hương, cá hương lên cá giông. TONG QUAN TÀI LIEU 2.1 Đặc Diém Sinh Học Cá Chém 2.1 Phân loại Ngành: Chordata Nghành phụ: Vertebrata Lớp: Pisces Lớp phụ: Teleostomi Bộ: Percomorphi Họ: Centropomidae Giống: Lates Loài: Lates calcarifer (Bloch, 1790) Tên Việt Nam: Ca chém hay cá vược. Tên Tiếng Anh: Giant perch, White seabass, Silver seaperch, Palmer, Cock-up seabass.2 Đặc điểm hình thái Hình 2.1: Cá chém đực (trên) và cái (đưới) (nguồn: Nguyễn Tuần và cs., 2000) Thân dài, dep bên, phan lưng hơi cao, bắp đuôi ngắn.
Đầu dai, nửa trước nhọn, từ gáy đến mút mõm cong xuống, chiều dài lớn hơn chiều cao. Chiều dài thân bằng 3,2 lần chiều cao thân và bang 2,9 lần chiều dai đầu. Mép sau xương nắp mang trước hình răng cưa, góc dưới có một gai dài cứng. Xương nắp mang chính có một gai đẹt.
Mắt lớn, khoảng cách hai mắt hẹp. Miệng rộng, hàm dưới nhô dài hơn. Vây lưng có 7 gai cứng. Vây ngực ngắn rộng.
Vây đuôi tròn, không chia thùy (cơ sở dữ liệu một số loài thủy sản thường gặp ở Việt Nam, phiên bản 3. Màu sắc: Có 2 giai đoạn, thường giai đoạn giống cá có màu nâu ôliu ở phía trên với màu bạc ở các bên và bụng khi cá sống trong môi trường nước biển, màu nâu vàng trong môi trường nước ngọt, giai đoạn trưởng thành cá có màu xanh lục hay vàng nhạc ở phần trên và màu bạc ở phần dưới (FAO, 1974) 2.3 Phân bố a/ Phân bố theo vùng dia lý Cá chém phan bố rộng ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc tây Thái Binh Dương và An Độ Dương, giữa kinh tuyến 50° Đông — 160° Tây, vĩ tuyến 26° Bắc — 25° Nam. Cá còn tim thay ở khắp phan Bac Châu A, phía Nam kéo dai đến Queensland (Uc), phia Tay dén Đông Chau Phi (FAO, 1974). Bac Oxtraylia, An Độ, Inđônêxia, Niu ghiné, Philippin, Nam Trung Quốc, Việt Nam.
Ở Việt Nam phân bó vịnh Bắc Bộ, miền Trung, Nam Bộ (cơ sở dit liệu một số loài thủy sản thường gặp ở Việt Nam, phiên bản 3. b/ Phân bố theo vùng sinh thái Ca chém là loài rộng muối và có tính di cư xuôi dòng. Cá thành thục sinh dục tìm thấy ở những nơi có nồng độ muối dao động từ 30- 32%o và độ sâu từ 10 - 15m. Âu trùng mới nở (15- 20 ngày tuổi, dai 0,4 - 0,7 cm) thường phân bố ven bờ biển gần các cửa sông nước lợ, trong khi đó âau trùng 1 em có thé gap trong các thủy vực nước ngọt như ruộng lúa, hồ.(Bhatia và cs., 1971) Trong điều kiện tự nhiên, cá chẽm lớn lên trong nước ngọt va di cư ra vùng nước mặn tham gia sinh san (Kungvanky và cs.4 Vòng đời Ca chém trải qua phan lớn thời gian sinh trưởng (2 - 3 năm) trong các thủy vực nước ngọt như: Sông, hồ, nơi nối liền với biển.
Cá có tốc độ tăng trưởng nhanh, thường đạt cỡ 3 - 5 kg sau 2 - 3 năm. Cá trưởng thành di cư từ vùng nước ngọt về vùng cửa sông và ra biển nơi có độ mặn dao động từ 30 - 32%o dé phát triển tuyến sinh dục và đẻ trứng sau đó. Cá đẻ trứng theo chu kỳ trăng, thường là đầu tháng hay giữa thang, cá đẻ tập trung từ 18- 20 giờ, thường là cùng lúc với thủy triều lên, điều này sẽ giúp trứng và ấu trùng trôi vào vùng cửa sông. Nơi đó ấu trùng phát triển và di chuyển ngược dòng.
Hiện tại, chưa biết là cá trưởng thành có di cư ngược dong hay không (Kungvanky và cs. 5 Đặc điểm dinh dưỡng Cá chẽm trưởng thành được xem là loài cá dữ phamăn, cá chém giống thìăn tạp. Phân tích dạ dày cá chẽm thu ngoài tự nhiên (cỡ 1 — 10 cm) thì thấy khoảng 20% phiêu sinh vật, chủ yếu là nhóm khuê tảo và phiêu sinh thực vật, phần còn lại là tôm và cá nhỏ. Đối với cỡ cá dài hơn 20 cm, trong dạ dày chỉ có động vật, trong đó 70% là giáp xác (tôm và cua nhỏ), 30% cá nhỏ (Wongsomnuk và cs.,1974; Bhatia và cs.6 Đặc điểm sinh sản a/ Phân biệt giới tính cá chém Theo Kungvanki và cs (1986) thì khó phân biệt giới tính cá chẽm ngoại trừ vào mùa sinh sản, có vài đặc điểm ngoại hình biểu hiện giới tính: Mom cá đực hơi cong, cá cái thì thang hơn.
Cơ thé cá đực thon hơn cá cái. Trọng lượng cá đực nhỏ hơn cá cái nếu cùng tuổi. Những vảy gần lỗ huyệt cá đực thì dầy hơn cá cái trong mùa sinh sản. Bung cá cái phồng to hơn cá đực trong mùa sinh sản.
b/ Thành thục sinh dục Theo Parazo và cs (1998) cá chẽm tự nhiên ở Bắc Australia khi ở giai đoạn đầu trưởng thành thì chúng là cá đực sau 3 - 4 năm tuôi và trở thành cá cái sau 6 năm tuôi. Tuy nhiên không phải tất cả cá cái đều được chuyên thành từ cá đực bởi vì có những cá cái có nguồn gốc nguyên thủy (cá cái sơ cấp). _ Theo Kungvankij va cs (1986), vào giai đoạn đầu của đời sống (1,5 - 2,5 kg) phân lớn cá chém là đực nhưng khi đạt trọng lượng từ 4 - 6 kg phân lớn cá trở thành cá cái. Tuy nhiên sau 3 - 4 năm nuôi, với cùng nhóm tuôi cá chẽm có cả cái và đực.
Cá cái thành thục tot thì kích thước trứng thụ tinh thường dao động từ 0,4 - 0,5 mm. c/ Sinh sản và đẻ trứng Cá chém đẻ quanh năm (Kungvankij và cs., 1986; Nguyễn Tuần và CS. 2000) mà thời điềm chính vụ từ thang 4 - 8. Cá con cỡ 1 cm có thê thu được nhiêu từ tháng 5 - 8 (Bhatia và cs.
Dựa trên các nghiên cứu về tập tính sinh sản của cá trong bề cho thấy, cá đực và cá cái thành thục sẽ tách đàn. Khi cá cái thành thục sinh dục tốt nó sẽ gia tăng các hoạt động sinh dục với cá đực. Cá đực và cá cái chín mùi sinh dục sẽ bơi lội từng cặp, thường xuyên ở tầng mặt khi sắp đẻ trứng. Cá đẻ thành nhiều đợt trong 7 ngày, thời gian đẻ trứng vào lúc chiều tối (6 - 10 giờ đêm) (Kungvankij và cs.7 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển a/ Phát triển phôi Lần phân cắt đầu tiên xảy ra 35 phút sau khi thụ tinh.
Sự phân chia tế bào tiếp tục sau mỗi 15 - 25 phút và trứng phát triển tới giai đoạn nhiều tế bào trong vòng 3 giờ. Sự phát triển của trứng trải qua các giai đoạn thông thường: Phôi nang, phôi vị, phôi thân kinh và phôi mầm. Tim phôi bắt đầu hoạt động sau khoảng 15 giờ và trứng nở sau 18 giờ ở nhiệt độ 28 - 30°C, độ mặn 30 - 32⁄4, tính từ lúc thụ tinh (Kungvanky và cs. b/ Au trùng Chiều dai của ấu trùng mới nở dao động từ 1,21 - 1,65 mm, trung bình là 1,49 mm.
Noãn hoàng dải trung bình 0,86 mm, có một giọt dầu nằm ở phần trước của noãn hoàng làm cho cá mới nở nổi theo chiều thắng đứng hay khoảng 45 độ theo chiều ngang. Lúc đầu sự hình thành sắc tố không đồng loạt: Mắt, ống tiêu hóa, huyệt và vây đuôi trong suốt. Ba ngày sau khi nở, noan hoàng hầu như được sử dụng hết và hạt dau còn không đáng kê, lúc này miệng mở ra, hàm bắt đầu cử động, au trùng bắt đầuăn thứcăn bên ngoài (Kungvankij và cs. Có ít nhất 2 giai đoạn hình thành sắc tố ở ấu trùng cá chẽm.
Ở giai đoạn 10 - 12 ngày tudi sau khi nở sắc tố có màu xám sậm hay đen, giai đoạn tiếp theo khoảng 25- 30 ngày tudi, lúc này cá chuyên sang mau sáng bạc (Kungvankij và cs.2 Kích Thích Sinh Sản Cá Chém Sinh sản nhân tạo cá chẽm thành công lần đầu tiên trong điều kiện nuôi ở Thái Lan từ những năm đầu của thập niên 70. Hiện nay, sản xuất giống đã trở nên phô biến ở các nước Đông Nam Á, Pháp và Úc (Nguyễn Tuần và cs. Theo Garcia (1990), kích thích cá chém đẻ thành công khi trứng có đường kính từ 400 pm trở lên. Tập tính sinh sản của cá có liên quan đên chu kỳ trăng, cá thường đẻ vào trước hoặc sau 3 - 5 ngày dau tháng và giữa thang (âm lịch).
Thời gian chiếu sáng trong ngày ảnh hưởng đến sự thành thục cá chém.