Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu về cây khoai tây 1.1 Vị trí phân loại Khoai tay (Solanum tuberosumL.), thuộc họ Cà (Solanaceae) là cây nông nghiệp ngắn ngày, trồng lấy củ chứa tinh bột. Là loại cây trồng phổ biến thứ tư về mặt sản lượng tươi xếp sau lúa, lúa mì và ngô.2 Đặc điểm thực vật hoc Theo Nguyễn Đức Cường (2009), cây khoai tây có những đặc điểm thực vật học như sau: Thân và lá cây khoai tây có nhiều lông. Lá kép lông chim không đối xứng. Các lá chét có đặc điểm là luân phiên xen kẽ 1 lá to đến 1 lá nhỏ.
Hoa cân đối. Cánh hoa có gốc dính liền nhau. Nhị đực kết dính thành ống hoặc chop cụt. Nhụy ở trên và dé rụng.
Mau sắc của cánh hoa là đặc điểm phân biệt các giống. Cánh hoa có các mau: trang, tím - đỏ, tím - xanh, xanh thầm. Hạt rất nhỏ có mầm uốn cong. Củ là phần phình của thân cây nằm dưới đất.
Củ khoai tây có nhiều mầm. Thường mầm ở đỉnh mọc thành cây con. Ở phần dưới của củ còn lại sẹo nơi củ được nôi với cuông củ.3 Điều kiện ngoại cảnh Theo Nguyễn Đức Cường (2009), nhiệt độ tốt nhất cho thân, lá phát triển là 18°C. Nhiệt độ đất thích hợp cho củ phát triển là 16 - 17°C.
Nhiệt độ cao trên 25°C thi các đốt thân phát triển dài ra, lá nhỏ lại, tác dụng quang hợp giảm đi rõ rệt, tốc độ hình thành củ giảm xuống, quá trình tích lũy chất tạo được vào củ bị trở ngại. Khoai tây là cây ưa ánh sáng. Ảnh sáng không đủ có ảnh hưởng rõ rệt đên năng suất. Tuy nhiên, các thời kỳ sinh trưởn khác nhau của khoai tây có yêu cầu đối với ánh sáng không giống nhau.
Trong thời gian sinh trưởng, khoai tây cần rất nhiều nước. Thiếu nước ảnh hưởng rất lớn đến năng suất. Trước khi hình thành củ, khoai tây yêu cầu độ âm đất là 60%. Khi củ đã hình thành và phát triển, khoai tây cần độ âm đất là 80%.
Tuy vậy, khôn phải vào thời gian nao khoai tây cũng yêu câu độ âm gidng nhau. Cây khoai tây thích hợp với chân đất tơi x6p, đất cát pha, đất thịtnhẹ, đất phù sa ven sông với thành phan cơ giới nhẹ thoát nước vàg1ữ 4m tốt, quy hoạch tập trung, gon vùng, chủ động tưới tiêu, tốtnhất là ruộng luân canh với lúa nước; pH thích hợp cho khoai tây là 5,2 - 6,4.2 Kỹ thuật trồng khoai tây Theo Nguyễn Thế Nhuận và ctv (2015), về kỹ thuật trồng khoai tây như sau: Chuẩn bị giống: Sử dụng đúng giống, sạch bệnh, củ giống có trọng lượng từ 30 - 50 g, mầm dai từ 1,5 - 2 cm. Củ giống đảm bảo thời gian nghỉ, tốt nhất sử dụng củ giống được bảo quản trong điều kiện kho lạnh để có số lượng mầm đều trên các mắt ngủ. Chuẩn bị đất trồng: Chọn đất có cau tượng nhẹ, tơi xốp và thoát nước tốt.
Dọn sạch cỏ, phay tơi xóp, sâu tối thiểu 25 - 30 cm, làm luống đôi rộng 1,3 - 1,4 m, cao 10 cm, mùa khô nên làm luống chìm. Xẻ 2 rạch trồng sâu 15 cm, cách nhau 50 cm và cách đều 2 mép luống. Cách trồng: Trồng 2 hang so le, mật độ trồng 40.000 củ/ha, trồng sâu 5 — 6 cm, lấp kín củ bằng đất tơi xóp. Nếu trồng bằng củ cắt nên úp mặt củ xuống phía dưới.
Sau khi trồng tưới dam nước, sau đó tùy vào điều kiện thời tiết có thé 2 — 3 ngày tưới 1 lần. Lượng phân bón: Lượng phân tính chung cho 1 ha là 40 mỶ phân bò hoai mục, 800 — 1000 kg vôi, 800 — 1000 kg phân hữu co vi sinh, 150 kg N (330 kg Ure), 150 kg P20s (940 kg Super lân), 180 kg K2O (330 kg KCI) và 40 kg MgSOa. Cách bón phân: Bón lót vôi bột khi làm đất, vãi đều, phay kỹ. Bón vào rãnh toàn bộ phân chuồng, hữu co vi sinh, lân, MgSOa, 1/4 lượng dam, 1/4 lượng kali.
Phân được trộn đều trong đất, tưới âm nước khi đặt củ giống. Bón thúc được chia làm 2 lần: - Lan 1 (7 — 10 ngay sau khi cây mọc): bón 1/4 lượng dam, 1/4 lượng kali, kết hợp làm cỏ, vun gốc nhẹ kin chân khoảng 5 cm. - Lần 2 (25 — 30 ngày sau mọc): bón toản bộ lượng phân còn lại, kết hợp làm cỏ và vun kín sốc cao 7 - 10 cm. Không nên bón phân quá muộn, đặc biệt là giai đoạn sau khi khoai tây ra hoa.
Phòng trừ một số loại sâu hại chính (ruồi đục lá, ray, rép): Ap dung bién phap phòng trừ tổng hợp, vệ sinh đồng ruộng, tiêu hủy ký chủ khác xung quanh, dùng bay vàng, cắt bỏ lá bị nhiễm. Phun phòng thuốc hóa học 10 — 15 ngày/lần, sử dụng các loại thuốc Polythrin, Abamectin, Trigard, Pegasus, phun luân phiên và không dùng liên tục quá 3 lần cùng loại thuốc trong một tháng. Phòng trừ một số bệnh hại chính: Áp dụng biện pháp IPM sử dụng củ giống sạch bệnh, luân canh với cây khác họ, trồng xa ruộng cây họ cà, tưới rửa sương vào buổi sáng, theo dõi tình hình thời tiết và phát sinh bệnh để kịp thời phun thuốc phòng. Bệnh mốc sương (Phythopthora infetan), bệnh đốm vòng (Alternaria solani).
Sử dụng các loại thuốc hóa học Mancozeb, Dithane, Zineb để phun phòng 7 — 10 ngày/lần, khi bệnh mốc Sương xuất hiện sử dụng các loại thuốc như Curzate M8, Rves opti 440SC, Acrobat MZ hoặc Equation 52.5WG dé phun luân phiên, khi bệnh đốm vòng xuất hiện sử dụng Amista 250 SC hoặc Ara super 350SC dé phun phòng. Phòng ngừa bệnh héo xanh (Ralstonia solanacearum) bằng việc sử ly đất Calcium hypoclorite (30 — 40 kg/ha), rải và phay đều khi làm đất.3 Sơ lược về phân bón hữu cơ Phân bón hữu cơ gồm các loại phân bón được sản xuất từ nguyên liệu chính là các chất hữu cơ tự nhiên (không bao gồm các chất hữu cơ tổng hop), được xử lý thông qua quá trình vật lý (làm khô, nghiền, sàng, phối trộn, làm âm) hoặc sinh học (ủ, lên men, chiết) và tùy theo thành phần, chức năng của các chỉ tiêu chất lượng chính hoặc quá trình sản xuất được phân loại chi tiết trong quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (Nghị định 84/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 của Chính phủ Nghị định quy định về quản lý phân bón). Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2019), đã ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng phân bón (QCVN 01-189:2019/BNNPTNT), trong đó phân loại phân bón thuộc nhóm phân bón hữu cơ theo thành phần hoặc chức năng của thành phân hoặc quá trình sản xuât được chia làm 3 loại sau: - Phân bón hữu co là phân bón có thành phan chỉ là chất hữu cơ tự nhiên và có chitiéu chat lượng chính đáp ứng quy định tại Quy chuẩn này. - Phân bón hữu cơ cải tạo đất là phân bón có tác dụng cải thiện tính chất lý, hoá, sinhhọc của đất để tạo điều kiện thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng, phát triển, được sảnxuất từ nguyên liệu chính là các chất hữu cơ tự nhiên (không bao gồm các chất hữu cơtông hợp) và có chỉ tiêu chất lượng chính đáp ứng quy định tại Quy chuẩn này.
- Phân bón hữu cơ nhiều thành phần là phân hữu cơ được sản xuất từ nguyên liệuchính là các chất hữu cơ tự nhiên (không bao gồm các chất hữu cơ tổng hợp) và đượcphối trộn thêm một hoặc nhiều chất vô cơ, chất sinh học, vi sinh vật có ích, có chỉ tiêuchất lượng chính đáp ứng quy định tại Quy chuẩn này. Một số loại phân hữu cơ phô biến hiện nay bao gồm: - Phân chuông là chất thải động vật như phân và nước tiểu, được phơi khô, chế biến theo những phương pháp ủ phân hữu cơ truyền thống. - Phân xanh là những loại cây tươi, thường được sử dụng lá nhiều hơn. Được ủ cho phân hủy rồi bón xuống đất hoặc dé tươi phủ lên mặt dat hay vùi trực tiếp xuống đất.
Thông thường những loại phân xanh được sử dụng là những cây có chứa hàm lượng dinh dưỡng cao như cây họ đậu chứa nhiều nguồn đạm hữu cơ, cây cỏ hôi, cây lục binh,. - Phân rác là những rác thải hữu cơ như lá cỏ, rơm ra, lá cây hay những quả và lá cây thừa trong sản xuất nông nghiệp. - Than bùn không bón trực tiếp mà phải qua chế biến mới sử dụng được cho cây trồng. Than bùn được khai thac tại những vũng bùn hữu cơ, ở những nơi chứa chất thải công — nông nghiệp.
- Phân bón vi sinh là phân bón có chứa một hoặc nhiều vi sinh vật phân giải dinh dưỡng cho cây như: vi sinh vật phân giải hữu co, vi sinh vật phân hủy xenlulo, vi sinh vật cô định đạm, vi sinh vat đôi kháng, vi sinh vật kí sinh,. - Phân bón hữu cơ sinh học là tổng hợp nhiều nguồn hữu cơ và nhiều vi sinh vật khác nhau (nấm, vi khuẩn, virus). Các chất hữu cơ được phân hủy và chế biến bằng những biện pháp sinh học đề thành sản phẩm cuối cùng. - Phân hữu cơ vi sinh là sản phẩm phân bón chế biến theo quy mô lớn với quy trình công nghiệp từ nhiều nguồn nguyên liệu hữu cơ khác nhau, được xử lý lên men với từ một hoặc nhiều chủng vi sinh vật có lợi.
- Phân hữu cơ khoáng là sản phẩm phân bón hữu cơ nhưng được phối trộn thêm các nguyên tố khoáng vô cơ gồm N, P, K. Trong đó chứa phân hữu cơ và các sinh vật phân giải là chủ yếu còn lại từ 8 - 18% tổng số các chất vô cơ.4 Một số nghiên cứu về phân bón đối với cây khoai tây Theo Mohammadi và ctv (2012), đã nghiên cứu anh hưởng của phân bón hóa học và không hóa chất đến năng suất và chất lượng khoai tây. Kết quả chỉ ra rằng việc áp dụng tổng hợp phân bón tự nhiên và sinh học có thé cải thiện đáng ké năng suất khoai tây. Mặc dù, để có được năng suất tiềm năng của khoai tây, việc sử dụng phan đạm hóa học là cần thiết.
Chất lượng khoai tây cũng bị ảnh hưởng tích cực bởi phân bón không hóa chất ngay cả khi bón phân đạm hóa học cao. Do đó, kết luận rằng để tạo ra năng suất khoai tây có thể chấp nhận được với chất lượng cao, việc sử dụng kết hợp phân hóa học và phân hữu cơ là có lợi. Theo Alaa và ctv (2012), đã thí nghiệm hiệu quả sử dụng nước của khoai tây theo các phương pháp tưới khác nhau và tỷ lệ bón kali cho thấy kali là chất dinh dưỡng mà khoai tây hấp thụ với số lượng lớn nhất; nó cũng chiếm nhiều nitơ và một lượng đáng ké phốt pho, canxi, magiê và lưu huỳnh.