Chương 1: Nêu lý do chọn những người bán vé số dạo ở quận Thủ Đức để nghiên cứu. Đưa ra mục tiêu nghiên cứu, thời gian và địa điểm nghiên cứu của đề tài Chương 2: Giới thiệu chung về tình hình kinh tế - xã hội của quận Thủ Đức dé thay lực hút của vùng này đối với những người di cư. Một số thông tin về xổ số kiến thiết, các quy định của Nhà nước về ngành xổ số kiến thiết ở Việt Nam. Chương 3: Nêu cơ sở lý luận của đề tài, đó là các khái niệm về di cư, nhập cư, các vẫn đề liên quan đến đi cư và một số khái niệm khác.
Nêu những phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài. Chương 4: Trình bày kết quả của những số liệu thu thập đã được xử lý và phân tích. Những kết quả số liệu liên quan đến thu nhập, đời sống, khó khăn và nguyên nhân di cư của những người bán vé số dạo tại quận Thủ Đức. Từ thực trạng lao động của những người bán vé số dạo đưa ra giải pháp để sử dụng lao động này hiệu quả.
Chương 5: Dựa vào kết quả điều tra và xử lý, đưa ra những kết luận về lực lượng bán vé số đạo ở quận Thủ Đức và đề nghị để sử dụng lao động bán vé số đạo hiệu quả. CHƯƠNG 2 TỎNG QUAN 2. Tổng quan về quận Thú Đức 2. Vi trí địa lý Quận Thủ Đức được thành lập theo nghị định 03/ND- CP cia Chính Phủ từ ngày 01/04/1997.
Diện tích khoảng 4776, 04 ha, bao gồm 12 phường. Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương Phía Đông giáp quận 9 Phía Nam giáp quận 2 và quận Bình Thạnh Phía Tây giáp quận 12 Cơ cấu dia chất vững chắc, thuận lợi cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng và bế tri khu công nghiệp, bao gồm các phường Linh Trung, Linh Tây, Linh Xuân, Bình Thọ, Bình Chiêu, Linh Chiểu. Kinh tế- xã hội Quận Thủ Đức, TP.HCM có nhiều trục giao thông chính của thành phố như đường bộ, đường thủy, đường sắt và tiếp giáp với các khu công nghiệp Bình Dương, Đồng Nai nên có nhiều yếu tố thuận lợi cơ bản cho việc phát triển kinh tế - xã hội. Chín năm qua, với những tiềm năng sẵn có về vị trí, đất đai, lao động kết hợp với những chính sách phù hợp của Đảng và Nhà nước, Đảng bộ quận Thủ Đức đề ra các giải pháp để phát triển các loại hình kinh tế hợp tác, đẩy mạnh kêu gọi đầu tư các thành phần kinh tế, phát huy thế mạnh sẵn có dé phát triển các làng nghề truyền thống như hoa kiếng, dệt sợi.
Những thuận lợi trên cộng với những nỗ lực của chính quyền và nhân dân, Thủ Đức ngày nay đã trở thành một quận đô thị có bước phát triển tương đôi vững vàng. a) Kinh tế Đảng bộ quận Thủ Đức đã xác định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế về công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp, thương mại, địch vụ và chuyển đổi cơ cấu vật nuôi cây trồng trong sản xuất nông nghiệp. Kết quả hàng trăm doanh nghiệp tham gia đầu tư trên địa bàn. Các khu chế xuất vả khu công nghiệp Linh Trung I, II, Bình Chiểu, các hộ tiểu thủ công nghiệp cũng đã từng bước phát triển trong cơ chế thị trường.
Cơ cấu kinh tế của quận Thủ Đức gồm 3 nhóm ngành chính: CN- XD, TM- DV và NN - DVNN. Ngành CN - XD chiếm ưu thế so với các ngành khác tới tỷ lệ 82%, tiếp đến là TM- DV với tỷ lệ 17%, và NN- DVNN chiếm tỷ lệ rất thấp chỉ 1% (Năm 2005). Năm 2006 thì ngành TM-DV tăng lên chiếm 19% và ngành CN- XD giảm xuống còn 80%. Như vậy cơ cấu kinh tế của quận Thủ Đức có xu hướng chuyển sang ngành TM- DV.
Cơ cấu ngành ở quận Thủ Đức có xu hướng chuyển dịch CN- XD sang TM-DV được thé hiện qua hình 2. Cơ Cau Kinh Tế Quận Thủ Đức Năm 2005- 2006 Cơ Cau Ngành Năm 2005 17% 1% 82% mCN - XD g TM - DV ONN-DVNN Cơ Cấu Ngành Năm 2006 19% 1% 80% Nguồn tin: Phòng thống kê quận Thủ Đức Do Thủ Đức có nhiều khu công nghiệp nên thu hút rất nhiều lao động, đặc biệt là lao động từ nông thôn. Với sự di cư ao at của lao động nông thôn làm cho việc quản lý của chính quyền Thủ Đức gặp khó khăn, bên cạnh đó còn là vấn đề nhà ở cho những cho người này. Nắm được thực trạng này nhiều hộ gia đình địa phương đã mở dich vụ thuê phòng trọ cho những người di cư, dich vụ này ngày càng phát triển ở Thủ Đức.
Số dịch vụ phòng trọ tăng lên trong hai năm 2005 và 2006 đã chứng minh điều này. Số liệu thống kê số dịch vụ phòng trọ ở quận Thủ Đức được trình bày ở bảng 2. Các Cơ Sở Cho Thuê Phòng Trọ và Doanh Thu Từ Dịch Vụ Này Năm Cơ sở cho thuê phòng Doanh thu (Cơ sở) ( Triệu đồng) 2005 5.245 Nguồn tin: Phòng thống kê quận Thủ Đức Số lượng cơ sở phòng trọ tăng lên từ 5.860 (Năm 2006) thì chứng tô số người di cư đến đây tăng, dé đáp ứng nhu cầu chỗ ở của lực lượng này dịch vụ cho thuê phòng trọ cũng tăng theo. Loại hình dịch vụ này đem lại doanh thu không nhỏ cho những người kinh doanh và cho ngần sách quận Thủ Đức.
Năm 1997, giá trị sản xuất, công nghiệp, tiéu thủ công nghiệp quận Thủ Đức tăng đạt 218 tỷ đồng; năm 2005 giá tri dat 1. 778 ty đồng (tăng gấp 8 lần), với mức trưởng bình quân trên 16%. Ngành dịch vụ thương mại đạt 2.763 tỷ đồng, tăng 3,8 lần Đức so với năm 1997. Những thành tựu kinh tế đã mang về cho ngân sách quận Thủ 291 ty đồng (năm 2005) tăng gần 5 lần so với năm 1997.
Chín năm qua, Thủ Đức đã thay đổi rõ nét và hiện đại hơn, do cơ sở hạ tầng đã ngày càng hoàn chỉnh. Tổng vốn đầu tư cơ sở hạ tang trên dia bàn đạt gần 2. ng Hàng trăm công trình đã đưa vào sử dụng; có các công trình giá trị lớn như trườ tâm y mam non Vanh Khuyên, Trường PTTH Tam Phú, Từ Đức, Linh Trung. Trung tế quận, trụ sở làm việc của các cơ quan, đơn vị thuộc quận, đường vành đai khu chế xuất Linh Trung I, chợ nông sản thực pham Thủ Đúc.
b)Văn hóa- xã hội Quận Thủ Đức được thành phố công nhận hoàn thành giáo dục trung học cơ sở. Các phong trào vận động quan chúng xây dung đời sống mới ở khu dân cư, chương trình “vì người nghèo”, đền ơn đáp nghĩa đã ngày càng đi vào chiều sâu. Các hoạt động lễ hội quận, phường tổ chức da dang va phong phú hơn. Giải quyết việc làm 79.113 lao động và trợ vốn cho trên 14.940 lượt hộ nghèo.
Tạo mọi điều kiện cho nhà đầu tư và nhân đân, UBND quận đã triển khai thực hiện đồng bộ cơ chế “một cửa, một đấu” theo quy định của UBND TP.HCM từ năm 2000 đến nay, đã từng bước đưa tin học hóa vào phục vụ công tác quản lý nhà nước. Từ năm 2005, quận tập trung một số nhiệm vụ trọng tâm để thu hút đầu tư cũng như cải cách hành chính trên lĩnh vực quy hoạch, thủ tục nhà đất, tổ chức hội nghị kêu gọi đầu tư, tập trung xây dựng khu công nghiệp địa phương để tái bố trí cho các doanh nghiệp ô nhiễm đi dời; xây dựng các khu chung cư tái định cư nhằm phục vụ triển khai nhanh các dự án trên địa bàn và điều quan trọng là sẽ thúc đây bộ máy nhà nước vận hành hiệu quả. Đây sẽ là cơ sở có ý nghĩa quyết định cho Thủ Đức phát triển trong những năm tới. Chính vì sự phát triển nhanh chóng của quận Thủ Đức cả về kinh tế và văn hóa xã hội trong những năm gần đây nên Thủ Đức đã thu hút những dòng người đi cư đến đây để tìm việc.
Nhưng với sự di cư tự do của họ đã gây những cản trở cho kinh tế xã hội Thủ Đức, thị trường việc làm không đủ đáp ứng việc làm cho tất cả những người đi cư, nên họ đã tự chọn cho mình những công việc khác nhau để tự mưu sinh ở quận Thủ Đức, nhiều người trong số họ chọn bán số đạo. Di cư tự do và kiếm sống tự do, lực lượng này đã gây khó khăn cho chính quyền quận về vấn đề quản lý. c)Dân số Quận Thủ Đức là quận mới tách ra nên dan địa phương it. Hầu hết người ở quận Thủ Đức là từ nơi khác đến.
Trong bảng thống kê ở phòng thống kê quận Thủ Đức thì dân địa phương xếp vào dạng KT I. Những người di cư từ nơi khác đến, có thể chuyển đến ở lâu năm nên được xếp vào dân thường trú loại KT II, còn những người chuyển đến Thủ Đức trên 3 năm được xếp vào KT III, những ngươi đến tự do và thời gian ở tại quận dưới 3 năm được xếp vào KT IV. Số người thường trú và nhập cư tại quận Thủ Đức được trình bày ở bảng 2. Số Người Thường Trú và Nhập Cư tại Quận Thủ Dire Năm 2006 DVT: Người Tổng số Thường trú Nhập cư 360.730 KTI KTH KT I KT IV 151.598 Nguồn tin: Phong thống kê quận Thủ Đức Thành phần nhập cư KT IV là những người di cư tự do, chiếm số lượng khá đông chỉ đứng sau dân địa phương.
Với số lượng đông những người di cư tự do như vậy, chính quyền quận Thủ Đức rất khó kiểm soát về số lượng cũng như việc làm của những người di cư tự do này. Tổng quan về ngành xổ số kiến thiết 2. Lược sử của công ty XSKT TP.HCM Xổ số là trò chơi có thưởng theo quy định của Nhà nước dựa trên các số được quay ra một cách ngẫu nhiên. Giải thưởng có nhiều giải, có thể bằng tiền mặt hay hiện kim.
Xổ số có nhiều loại hình với nhiều tên gọi khác nhau như: vé số truyền thống, vé số cào, vé số bóc, vé số lô tô.với vé số ai cũng hy vọng có cơ may trúng được số tiền lớn sau khi chi bỏ ra một số tiền nhỏ, đối với người nghèo là ước mong được đổi đời, người khá giả thì hy vọng được giàu thêm. Đó là lý do xổ số ngày càng phổ biến dưới nhiều hình thức. Ở Việt Nam xổ số xuất hiện từ thời Pháp thuộc vào đầu thé kỷ 20. Từ sau năm 1975, Việt Nam chính thức có các công ty xổ số kiến thiết với mục tiêu kiến thiết đất nước sau chiến tranh.
Lãi từ xổ số được đóng góp vào ngân sách nhà nước, dé xây dựng các công trình phúc lợi xã hội, bệnh viện, trường học, các công trình công cộng.