CHƯƠNG I VỀ CÁC CON SỐ ĐƯỢC SỬ DỤNG VỚI Ý NGHĨA BIỂU TRƯNG Các con số mang ý nghĩa biểu trưng trong tiếng Việt không nhiều, chỉ bao gồm 28 con số sau: 1/2, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 20, 21, 30, 70, 71, 72, 100, 1000, 10000, 84000. Mỗi con số này có thể dùng độc lập hoặc kết hợp với các con số khác để tạo nên những ý nghĩa phong phú. TAN SUẤT CUA CÁC CON SỐ 1. Khảo sát dữ liêu Khảo sát 353 kết cấu tiếng Việt có sử dụng các con số biểu trưng, ta thấy những con số này xuất hiện tổng cộng 624 lan.
Tân suất của mỗi con số rất khác nhau. Hiện điện nhiều nhất là: số 1 (209 lần), 3 (86 lần), 100 (69 lần), 7 (40 lần), 10 (38 lần), 5 (30 lần), 9 (28 lần). Hiện diện ít nhất là: 8, 15, 17, 20, 21, 30, 71, 72, mỗi số xuất hiện một lần; và 16, 18, mỗi con số xuất hiện 2 lần. Như vậy, trong bảy con số có tần suất cao nhất, có năm con số lẻ (1, 3, 5, 7, 9, đều nhỏ hơn mười), hai con số còn lại là số tròn (10 và 100).
Tổng số lin hiện diện của năm con số lẻ nhỏ hơn mười này lên GVHD : PGS - TS Hoang Ding -8 Khda luận tốt nghigp = SVTH : Dé “Thị Xông Whang đến 393, chiếm đến 62,98%. Đặc biệt, trong số những con số lẻ, nam số nhỏ hơn mười chiếm ưu thế tuyệt đối; tổng số lần xuất hiện của những số lẻ lớn hơn mười chỉ là 5, hoàn toàn không đáng kể so với 393 lần hiện diện của năm số 1, 3, 5, 7, 9. Biểu 46 tròn (HÌNH 2, trang 13) thể hiện rõ điều này. Ta rất thường gặp năm con số trên trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt: Một dong cũng đỡ một đồng, Một thân một mình, Một hội một thuyền, Một cây làm chẳng nên non /Ba cây chum lại nên hòn núi cao, Ba mặt một lời, Một kẻ nói ngang ba làng nói không lại, Một lần sấy bằng bảy lan sinh, Một liêu ba bảy cũng liêu, Một câu nhịn chín câu lành, Ba lo bảy liệu, Md ba mớ bảy, Ba vuông bảy tròn, Ba chìm bảy nổi chín lênh đênh, Ba bò chín trâu, Ba hồn chin vía, Tum năm tum ba, Năm bà ba chuyện, Năm lân bảy lượt.
Điểu này phù hợp với nhận xét của Trần Ngọc Thêm (1999: 61): "Tư duy số lễ dường như là nét đặc thù của người nông nghiệp phương Nam”. Xưa nay, người ta vẫn hay cho rằng số ba là con số thiêng liêng đối với người phương Đông nói chung, người Việt nói riêng. Ờ đây chưa bàn đến vấn để tâm linh, chỉ xét riêng trong ngôn ngữ, ta thấy số 3 là con số được sử dụng rất phổ biến. Trong 353 kết cấu được khảo sát, tổng số lin xuất hiện của số 3 và những bội số của nó như 6, 9, 12, 15, 18, 21, 30, 72 là 127, một con số khá đáng kể.
Tuy nhiên, nếu so với 209 lần xuất hiện của số 1 thì con số 127 cho cả 9 số trên chưa là gì. Bởi vậy, nhận định như Nguyễn (1999 :14): “Trong dãy số tự nhiên, số ba là một con sốđược dùng đến nhiều nhất trong đời sống ngôn ngữ của dân gian” e rằng chưa thỏa đáng. Số ba có một vị trí rất quan trọng nhưng số một mới là con số được sử dụng nhiều nhất. GVHD: PGS - TẢ Hoang Ding -9 Khéa lugn tất nghigp — SV TH : “Đỗ Thi Hing Wang Còn với số chấn, tổng số ldn xuất hiện của chúng là 219, chiếm 35,09%, trong đó có 151 số tròn (10, 100, 1000, 10000).
Dé dàng thấy rằng 4 con số tròn đó đã chiếm đến hơn 2/3 trong tổng 17 con số chẩn được sử dụng. Dân gian rất hay dùng mười, trăm, ngàn, vạn; Mười năm đèn sách, Mười phân ven mười, Trăm người mười bông. Tram dâu đổ đầu tằm, Làm dâu trăm họ, Trăm méi tơ vò, Trăm nghe không bằng một thấy, Trăm voi không được bát nước xáo, Trăm công nghìn việc. Trăm cay nghìn đẳng, Muôn hông nghìn tia, Muôn hình vạn trạng, Muôn màu muôn vẻ, Muôn thảm nghìn sấu.
Còn những con số chẩn nhỏ hơn mười như 2, 4, 6, 8 ít được ding, tổng tần suất của cả bốn con số này chỉ là 43, chưa bằng 1/9 so với tổng tan suất của năm con số lẻ nhỏ hơn mười. Điều thú vị là nhìn chung, con số càng lớn thì càng ít được sử dụng. Đối với số lẻ, các số 1, 3, 5 có tần suất giảm dan từ 209 — 86 — 30, nhưng đến số 7 lại tăng lên 40, sau đó giảm còn 28 ở số 9. Có thể xem số 7 là một ngoại lệ của quy luật này.
Sau đó, tin suất giảm đột ngột còn | cho mỗi con số 15, 17, 21, 71, và mất hẳn. Đối với số chấn, quy luật này đúng tuyệt đối cho các số nhỏ hơn mười. Số hai xuất hiện 26 lần, số bốn 12 lin, số sáu 4 lần, số tám I lần. Nhưng lên đến 10, tần suất đột ngột tăng đến 38, sau đó giảm và đao động từ 1 - 7 cho các con số chin tiếp theo: 12, 14, 16, 18, 20, 30, 70, 72.
Lên đến 100, 1000, 10000, tần suất lại tăng, nhờ đây là những con “sé tròn”. Số 84000 không “tròn” bằng ba con số này nên chỉ xuất hiện có 4 lần. GVHD; PGS - TS Xeang Ding - 10 Xkúa tuận tất ngiiệp = SVTH : Od “Thị Hang Whang Nhìn một cách tổng quát, ta thấy những con số nhỏ hơn hoặc bằng 10 được sử dụng nhiều nhất. Tổng tin suất của những con số này là 474, chiếm 75,96%.
Kế đến là những con số “tron” 100, 1000, 10000, chiếm tỉ lệ 24,20%. Những con số trong khoảng từ 10 đến 100 hiện diện thưa thớt, chỉ 25 lần cho 12 con số gồm: 12, 14, 15, 16, 17, 18, 20, 21, 30, 70, 71, 72. Biểu đồ cột (trang 11) cao ở hai đầu, lõm ở giữa cho ta thấy rõ điều này. Tất cả các con số biểu trưng đều là số dương, và tuyệt đại đa sé (98,72%) là số nguyên.
1/2 là con số thập phân duy nhất được dùng. Tuy là con số không nguyên. nhưng có lẽ 1/2 “nguyên” nhất trong tập hợp số thập phân. Những con số như 1⁄3, 6/7 hay 3,14 tuyệt nhiên không có.
Thực tế này cho thấy người Việt xưa không thích sự chia lẻ, rối rắm, phức tạp trong ngôn ngữ cũng như đời sống, họ ưa chuộng sự nguyên vẹn, giản dị hơn. GVHD: PGS - TS Hoang Ding -1I Xe~IN/.YMLOaGiS-D1WVtỚy?l2)e|A`oHJEi(239a tk H|NIH sezo‘r.ovzj] s98ozof11 ot ok Khéa luận tốt nghiệp —- SVTH : Dé Thi Héng Hhung BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN TAN SUẤT CỦA CÁC SỐ LẺ VÀ CÁC SỐ CHẮN .EH Các số k nhỏ _ hơn 10 “Mi Các số lẻ lớn hơn 10 @ Các số chấn nhỏ hơn 10 @ Các số chấn | lớn hơn hoặc | 10 bằng 1. Người Việt chỉ ưa dùng số nguyên, không hay dùng số thập phân. Số thập phân duy nhất mang ý nghĩa biểu trưng là 1/2, được sử dụng 8 lần.
Số 1 là con số có tần suất cao nhất (209 lần), gấp 2.4 lần tần suất của con số 3 - số mà nhiều người vẫn thường nghĩ là hiện diện nhiều nhất trong đời sống ngôn ngữ dân gian Việt Nam. Một là số đếm dau GVHD : PGS - TS Hoang Dang - 13 Xhóa luậm tht “giiệp = SVTH : Dé “Thị Hong Wang tiên, là số nguyên dương nhỏ nhất, dé hiểu nhất, kể cả đối với người không biết chữ. Vì vậy, hoàn toàn hợp lý khi nó hiện diện nhiều nhất trong lời ăn tiếng nói của người bình dân. Ông cha ta quen dùng những con số có giá trị từ | đến 10 để biểu thị ý nghĩa biểu trưng.
Đây là những con số quen thuộc, cẩn gũi với người bình dan, họ dé dang mường tượng ra độ lớn của chúng từ việc đếm 10 ngón tay. Vì vậy, 10 con số này chiếm đến 70,67% trong tổng tần suất của 28 con số biểu trưng. Ngoài những con số có giá trị tương đối nhỏ, người Việt Nam còn thích dùng những con con số lớn, khó lòng đếm xuể như 100, 1000 hay thậm chí 10000. Có lẽ sự tròn trịa, trọn vẹn từ những bội số của “Mười phân ven mười” đã “mê hoặc” người Việt.
Số lẻ hiện diện nhiều hơn hẳn số chấn. Tuy nhiên, sự phân bố chẩn - lẻ có khác nhau tùy theo từng mức giá tri của chúng. Ở mức nhỏ hơn 10, số lẻ chiếm đến 83,4% trong tổng số lần xuất hiện của những con số từ 1 đến 9. Nhung ở mức từ 10 trở lên, tn suất của số chẩn lại cao gấp 44 lần số lẻ.
SỰ KẾT HỢP GIỮA CÁC CON SỐ 1. Con số dùng độc lập và dùng trong tổ hựp nhiều con số Con số biểu trưng có thể được dùng độc lập hoặc kết hợp với những con số khác để tạo nên ý nghĩa cho tổ hợp chứa nó. Một tổ hợp như vậy có GVHD: PGS - TS Hoang Ding -14 Khéa luận tất ngkiệp - SVTH : (0ô Thi Wong Hhung thể chứa một, hai, ba hay tối đa là bốn con số đi chung với nhau. Không có trường hợp nào dùng cùng lúc năm con số trở lên.
Biểu đô dưới đây sẽ minh họa rõ hơn về tỉ lệ của các kết cấu chứa một hay hai, ba, bốn con số biểu trưng. BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN SỐ LƯỢNG CÁC CON SỐ TRONG MỖI KẾT CẤU 0.85% @ Kết cấu dùng l con số El Kết cấu dùng 2 con số @ Kết cấu dùng 3 con số Kết cấu dùng 4 con số GVHD : PGS - TS Hoang Ding -15 Xkháúa luận tốt “giiệp = SVTH : Dé “Thị Wéng Mung 1. Con số đùng độc lập Kết quả khảo sát 353 kết cấu mang con số biểu trưng cho thấy có 64 kết cấu chỉ dùng một con số, tương đương 18,13%. Trong số những con số được dùng độc lập này, số 100 hiện diện nhiều nhất với 21 lan: “Lam dâu trăm ho”, “Trăm dâu đổ đầu tim”, “Một trăm cái gid đổ đâu trưởng nam”, *Trăm hay không bằng tay quen”, “Trăm mối tơ vo", “Trăm thứ bà giần ".
Đứng kế tiếp về số lượng dùng độc lập là con số 1 với 12 lân: “Một đồng chà thông di chợ”, “Một thước cắm dùi cũng không có”, “Một ngày nên nghĩa, chuyển đò nên quen”. Trong số 12 kết cấu này, có một nửa (6 kết cấu) tuy chỉ dùng số 1 một cách độc lập nhưng đã tạo ra sự đối lập giữa ít với nhiều.