CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về chi Abelmoschus 1. Vị trí phân bố và các loài thuộc chi Chi Abelmoschus có nguồn gốc từ khu vực nhiệt đới châu Phi, châu Á và miền Bắc Úc, phân bố hầu hết ở khắp các nơi trên thế giới [39] (hình 1. Các loài thuộc chi Abelmoschus được định danh và phân loại theo các khóa phân loại phù hợp.
Dựa vào các đặc điểm khác nhau về hình thái lá, màu sắc, kích thước, cách sắp xếp cánh hoa để phân loại thành các loài [38]. Theo “The Catalogue of Life” (2014), chi Abelmoschus có các loài được định danh tên khoa học như: Abelmoschus angulosus; Abelmoschus caillei; Abelmoschus crinitus; Abelmoschus enbeepeegearensis; Đậu bắp (Abelmoschus esculentus); Abelmoschus ficulneus; Abelmoschus hostilis; Abelmoschus manihot; Abelmoschus moschatus; Abelmoschus muliensis; Abelmoschus palianus; Sâm bố chính (Abelmoschus sagittifolius)… Bên cạnh đó, cũng có khoảng 18 thứ thuộc chi Abelmoschus hoặc tên đồng nghĩa với 10 loài nói trên. Trong các loài thuộc chi Abelmoschus, loài Sâm bố chính (Abelmoschus sagittifolius) được biết đến là loài đặc hữu của Việt Nam, có giá trị cao về dược liệu và đặc điểm phân bố, sinh thái [41]. Vị trí phân bố chi Abelmoschus trên thế giới Nguồn: The International Plant Names Index and World Checklist of Selected Plant Families 2021.
3 33a8d66 6e7d7dc9e13 dd1 05b1 1d31 bb1a 3455 1df2b0 cb9 7186 bc6 d16a 369ee5 b ee72a4a6 c95e 8b44 261 c11b4da31 9ff705 b88da 47d8 4df733 b53a c07db5dfacc 1510e98 0f4 50b60aa5d5a6890 d04 084e1 69f91b0a 0746aa f8db6ad4b36 3cb2aa f7241 c66a 32f777 f8d7 cb0bb287 f89ee b3cc87 25aa013 8eb5 ef5 3e30 c2eaa3 b4 e02a5a6fa 70b0 7f7 fcd90 ba65b61b8 f12 3f1 9667 d8f652fe56 cf4 b7e8a dcc6c3 27fc8c5 9ff18a6 cc5 b550e f27 2207e 2890 e7004 6d87 71b5cc78 c4cc78 b7b5 3ed 7c671 77c6ed c0d9 cb4e3df6 d9b4 f27 9f2 4b01 e9147a 384db32 2798e 50c0f8e b6 be2c8 01b1fb0070 8e12 c6de 961 c5f1c0 06855 d27 b368 f5d3200 457bf86 82875 8 7da9aa76 fc2 ed63 f83 0eaf0 c38 74ebfb6 7e9c8ed f16 f6dc82 6b51 078e7 60f49c 65a914d4973 444e2 d79a7 58d43b2e 6adbb6da 6d7 cb1 d692 8950 8de5 27b9 8e614 08e5183 8cb468 07e5 f69d5b5 f32e 0b59 dd6 d94 9422a0 b5 cc7e 452e d3c3d3a4 8f c8c0 747 d2d9 988b26a4d181 f8d1ae03e7 8f6a 3d5a4 0036 f14 74f03bfa68a33 1f 24180d1943 19c5b53 60e51 00c27f5c0 6601 be5b55b9 1eb2 908e5 cb1a159e 6e2b bd19 f0b1a72 c4971 21fb1e8 ee703 c88 1d05 b4f370 b27a4 cb9a 76d3 8fc7fa3 9f9 6e4c1 25a430 5bfc91 dc8 7d41 6036 0fb00fca063 6038aae 4774 0cfd0a7 b33ab4d c075 cc2 f31a 7f7 245 c7a5fca8 f749 3b20 d1be27aa69 d40 c7a2 f7f36b3f0ae f35 e190ac1c9 6f6 f10 748 f84c4d3a 7aaad61 9ff8ef2 9806 c05 43c99b8a 20c9a1df4 b83b8 d125 48d1f8 da85e1 7f2 45c47e48 f5 cf18c4a38b4fb6219a 69980 133a2 49 Theo “Plants of the World” [39], chi Abelmoschus có 11 loài được chấp nhận và định danh bao gồm: Abelmoschus angulosus Wall. ex Wight & Arn.) Stevels; Abelmoschus crinitus Wall.; Abelmoschus enbeepeegearensis KJ John, Scariah, Nisar, KV Bhat & SR Yadav; Abelmoschus esculentus (L.) Moench; Abelmoschus ficulneus (L.; Abelmoschus hostilis (Wall.) MS Khan & MS Hussain; Abelmoschus manihot (L.; Abelmoschus moschatus Medik.; Abelmoschus muliensis KM Feng; Abelmoschus palianus Sutar, KV Bhat & SR Yadav; Abelmoschus sagittifolius (Kurz) Merr. Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của Đỗ Thị Xuyến [18], chi Abelmoschus có 4 loài, 1 phân loài và 1 thứ phân bố khá phổ biến trong cả nước. Khóa định loại các loài thuộc chi Abelmoschus ở Việt Nam 1A.
Đài phụ 4 - 6 hình trứng, rộng 0,5 - 10 mm. Hoa màu vàng đậm……. Cây có lông thưa màu trắng, mềm hay gần như nhẵn……. Cây có lông dày đặc, màu vàng, cứng……….
Đài phụ 6 - 20, hình dải hay mũi giáo; rộng 0,1 - 0. Hoa màu vàng nhạt, trắng ngà, hồng hay màu đỏ. Đài phụ (10) 12 - 20, rộng, 0,1 - 0,2 mm. Quả gần hình cầu, dài 3(4) cm.
Đài phụ 6 - 10, rộng 0,2 - 0,3 mm. Quả hình thoi, bầu dục, thuôn dài, dài 4 - 25 cm. Cuống hoa 1 - 2 cm, cuống quả 3-5 cm. Cây thường nhẵn hay có lông rất ngắn.
Quả hình thuôn dài 10 - 25 cm…………………………………. Cuống hoa 3 - 5(7) cm, cuống quả 7-20 cm. Cây thường có lông cứng dày màu vàng. Quả hình thoi hay hình bầu dục, dài 4-8 cm.
4 33a8d66 6e7d7dc9e13 dd1 05b1 1d31 bb1a 3455 1df2b0 cb9 7186 bc6 d16a 369ee5 b ee72a4a6 c95e 8b44 261 c11b4da31 9ff705 b88da 47d8 4df733 b53a c07db5dfacc 1510e98 0f4 50b60aa5d5a6890 d04 084e1 69f91b0a 0746aa f8db6ad4b36 3cb2aa f7241 c66a 32f777 f8d7 cb0bb287 f89ee b3cc87 25aa013 8eb5 ef5 3e30 c2eaa3 b4 e02a5a6fa 70b0 7f7 fcd90 ba65b61b8 f12 3f1 9667 d8f652fe56 cf4 b7e8a dcc6c3 27fc8c5 9ff18a6 cc5 b550e f27 2207e 2890 e7004 6d87 71b5cc78 c4cc78 b7b5 3ed 7c671 77c6ed c0d9 cb4e3df6 d9b4 f27 9f2 4b01 e9147a 384db32 2798e 50c0f8e b6 be2c8 01b1fb0070 8e12 c6de 961 c5f1c0 06855 d27 b368 f5d3200 457bf86 82875 8 7da9aa76 fc2 ed63 f83 0eaf0 c38 74ebfb6 7e9c8ed f16 f6dc82 6b51 078e7 60f49c 65a914d4973 444e2 d79a7 58d43b2e 6adbb6da 6d7 cb1 d692 8950 8de5 27b9 8e614 08e5183 8cb468 07e5 f69d5b5 f32e 0b59 dd6 d94 9422a0 b5 cc7e 452e d3c3d3a4 8f c8c0 747 d2d9 988b26a4d181 f8d1ae03e7 8f6a 3d5a4 0036 f14 74f03bfa68a33 1f 24180d1943 19c5b53 60e51 00c27f5c0 6601 be5b55b9 1eb2 908e5 cb1a159e 6e2b bd19 f0b1a72 c4971 21fb1e8 ee703 c88 1d05 b4f370 b27a4 cb9a 76d3 8fc7fa3 9f9 6e4c1 25a430 5bfc91 dc8 7d41 6036 0fb00fca063 6038aae 4774 0cfd0a7 b33ab4d c075 cc2 f31a 7f7 245 c7a5fca8 f749 3b20 d1be27aa69 d40 c7a2 f7f36b3f0ae f35 e190ac1c9 6f6 f10 748 f84c4d3a 7aaad61 9ff8ef2 9806 c05 43c99b8a 20c9a1df4 b83b8 d125 48d1f8 da85e1 7f2 45c47e48 f5 cf18c4a38b4fb6219a 69980 133a2 49 5A. Cây cao 1 - 2(3,5) m, rễ không bao giờ phình thành củ. Hoa màu vàng nhạt, gốc cánh hoa mặt trong màu nâu hay tím. Quả dài 5 - 8 cm.
Cây cao 0,3 - 0,5(0,7) m, rễ thường phình to thành củ. Hoa màu đỏ, hồng, hiếm khi vàng, gốc cánh hoa mặt trong màu đỏ hay hồng. Quả dài 4 - 5 cm. Hạt thường có lông tơ.
sagittifolius Theo “Hệ thống phân loại về ngành Ngọc lan (Magnoliophyta)” của tác giả A. Ở Việt Nam, trong công trình “Một số dẫn liệu mới về chi Đậu bắp (Abelmoschus Medic. Do đó, nghiên cứu này chúng tôi đã lựa chọn hệ thống phân loại của Takhtajan để xác định vị trí của chi Abelmoschus trong thang hệ thống phân loại. Đặc điểm thực vật Theo Đỗ Thị Xuyến [18] kết hợp với tài liệu của Peter H.
Raven và cs [34], chi Abelmoschus có những đặc điểm thực vật đặc trưng. Tuy nhiên mỗi loài trong chi đều có những đặc điểm riêng biệt để dễ dàng nhận biết và phân biệt. Đặc điểm đăc trưng của chi được mô tả chi tiết trong khóa phân loại bao gồm: Cây thân cỏ hay bụi nhỏ, cao đến 3,5 m; có loài rễ phát triển thành củ. Lá hình tim, hình tròn, xoan tròn hay hình mũi tên; kích thước thường lớn, thường chia thùy chân vịt, 3-7 thùy nông hay sâu tới 1/2 chiều dài của lá; gốc lá tròn, hình tim hay mũi giáo; chóp lá tù tròn hay nhọn; thường có lông nhám, hiếm khi nhẵn; cuống lá dài.
Lá kèm hình chỉ, hình dùi hay mũi giáo, có lông. Cụm hoa thường đơn độc ở nách lá hay chùm ở đỉnh cành, nhiều khi phát hoa dày ở đỉnh cành tạo chùm giả. Hoa to, thường màu vàng, hiếm khi màu đỏ, có thể đổi màu tùy theo thời gian hoa nở. Đài phụ thường nhiều, hình dải, hình mũi giáo, hay hình trứng rộng, có lông dày đặc.
Đài hình mo, chóp có 5 răng rất nhỏ, có khi gần như nguyên, có lông màu vàng phủ dày, thường sớm rụng. Cánh hoa 5, hình trứng hay hình bầu dục. Nhị nhiều, ống chỉ nhị ngắn hơn tràng, không lông, các bao phấn bao phủ từ gốc đến ngọn của ống chỉ nhị, chỉ nhị phần tự do thường hình đầu. Quả nang, hình thoi, hình bầu dục hay thuôn dài, thường có chóp nhọn, khi chính nở ở lưng thành 5 mảnh quả, có lông cứng.
Hạt hình thận hay hình cầu, thường nhẵn. Ít khi có lông rải rác, có vân dạng nốt sần hay dạng tuyến. 5 33a8d66 6e7d7dc9e13 dd1 05b1 1d31 bb1a 3455 1df2b0 cb9 7186 bc6 d16a 369ee5 b ee72a4a6 c95e 8b44 261 c11b4da31 9ff705 b88da 47d8 4df733 b53a c07db5dfacc 1510e98 0f4 50b60aa5d5a6890 d04 084e1 69f91b0a 0746aa f8db6ad4b36 3cb2aa f7241 c66a 32f777 f8d7 cb0bb287 f89ee b3cc87 25aa013 8eb5 ef5 3e30 c2eaa3 b4 e02a5a6fa 70b0 7f7 fcd90 ba65b61b8 f12 3f1 9667 d8f652fe56 cf4 b7e8a dcc6c3 27fc8c5 9ff18a6 cc5 b550e f27 2207e 2890 e7004 6d87 71b5cc78 c4cc78 b7b5 3ed 7c671 77c6ed c0d9 cb4e3df6 d9b4 f27 9f2 4b01 e9147a 384db32 2798e 50c0f8e b6 be2c8 01b1fb0070 8e12 c6de 961 c5f1c0 06855 d27 b368 f5d3200 457bf86 82875 8 7da9aa76 fc2 ed63 f83 0eaf0 c38 74ebfb6 7e9c8ed f16 f6dc82 6b51 078e7 60f49c 65a914d4973 444e2 d79a7 58d43b2e 6adbb6da 6d7 cb1 d692 8950 8de5 27b9 8e614 08e5183 8cb468 07e5 f69d5b5 f32e 0b59 dd6 d94 9422a0 b5 cc7e 452e d3c3d3a4 8f c8c0 747 d2d9 988b26a4d181 f8d1ae03e7 8f6a 3d5a4 0036 f14 74f03bfa68a33 1f 24180d1943 19c5b53 60e51 00c27f5c0 6601 be5b55b9 1eb2 908e5 cb1a159e 6e2b bd19 f0b1a72 c4971 21fb1e8 ee703 c88 1d05 b4f370 b27a4 cb9a 76d3 8fc7fa3 9f9 6e4c1 25a430 5bfc91 dc8 7d41 6036 0fb00fca063 6038aae 4774 0cfd0a7 b33ab4d c075 cc2 f31a 7f7 245 c7a5fca8 f749 3b20 d1be27aa69 d40 c7a2 f7f36b3f0ae f35 e190ac1c9 6f6 f10 748 f84c4d3a 7aaad61 9ff8ef2 9806 c05 43c99b8a 20c9a1df4 b83b8 d125 48d1f8 da85e1 7f2 45c47e48 f5 cf18c4a38b4fb6219a 69980 133a2 49 1. Lịch sử nghiên cứu Các loài thuộc chi Abelmoschus hiện nay còn chưa được nghiên cứu nhiều, hầu hết mới chỉ sử dụng như những dược liệu cổ truyền.
Một số loài còn được sử dụng làm thức ăn từ những bộ phận như thân, lá, quả. Các nghiên cứu chuyên sâu về các loài này cho thấy chúng có chứa các hoạt chất tiềm năng để nghiên cứu tác dụng sinh học, góp phần phát triển trong tương lai. Loài Abelmoschus esculentus (L.) Moench được các nhà khoa học nghiên cứu cho thấy rằng chứa nhiều chất dinh dưỡng khác nhau và các chất hóa thực vật quan trọng, có tác dụng chống oxy hóa, chống viêm và điều hòa miễn dịch, kháng khuẩn, chống ung thư, điều trị tiểu đường, bảo vệ cơ quan và các hoạt động thần kinh [23, 33]. Hơn nữa, loài này còn có tác dụng hạ lipid máu, ức chế trypsin, tạo huyết khối, chống kết dính và chống mệt mỏi [24].
Một polysaccharide từ loài cây này được nghiên cứu cho thấy có tác dụng chống trầm cảm, chống viêm và tái cân bằng hệ sinh thái đường ruột trên mô hình chuột [35]. Một nghiên cứu khác xác định tác dụng của chiết xuất methanol vỏ đậu bắp (Abelmoschus esculentus L.) trên chuột bị ngộ độc gan do natri nitrit gây ra. Các hàm lượng flavonoid và tổng lượng phenolic, sinh hóa huyết thanh và mô học gan đã được kiểm tra. Kết quả cho thấy chiết suất từ vỏ đậu bắp có tiềm năng như một chất bảo vệ gan tự nhiên chống lại sự tiếp xúc với natri nitrit [33].
Một tác dụng khác của loài này được cho là tác dụng chống khối u của một lectin mới được phát hiện, được phân lập từ đậu bắp, Abelmoschus esculentus (AEL), đã được nghiên cứu trên tế bào ung thư vú ở người (MCF7) và tế bào nguyên bào sợi ở da (CCD-1059 sk). AEL gây ra sự ức chế tăng trưởng tế bào đáng kể (63%) trong các tế bào MCF7 [28]. Loài Abelmoschus manihot (Linnaeus) Medicus là một loài cây thuốc cổ truyền đã được dùng nhiều ở Trung Quốc.