Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu khai thác lễ hội đền Trần Hưng Hà Thái Bình phục vụ phát triển du lịch" được thực hiện bởi sinh viên Phạm Văn Duy (Mã số sinh viên: 1412601107, Lớp: VH1802), dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Thị Phương Thảo tại Trường Đại học Dân lập Hải Phòng (năm 2018), chuyên ngành Văn hóa Du lịch.

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn: Du lịch văn hóa là một trong những xu hướng phát triển nổi bật của du lịch quốc tế và Việt Nam. Việt Nam sở hữu kho tàng tài nguyên du lịch nhân văn phong phú với 10 di sản văn hóa được UNESCO công nhận (bao gồm cả vật thể và phi vật thể), hơn 3.000 di tích cấp quốc gia cùng hệ thống lễ hội truyền thống, làng nghề đa dạng. Trong chiến lược phát triển, du lịch văn hóa được định hướng trở thành loại hình mũi nhọn.

Lễ hội đền Trần tại xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình là sự kiện văn hóa gắn liền với vùng đất phát tích, nơi đặt tôn miếu và lăng mộ của các vị vua khởi nghiệp triều Trần. Dù việc khai thác du lịch tại di tích và lễ hội đền Trần đã đạt được một số kết quả ban đầu, hoạt động này vẫn bộc lộ nhiều hạn chế, tính mùa vụ cao và chưa tương xứng với tiềm năng lịch sử - văn hóa. Xuất phát từ thực tế đó cùng mong muốn đóng góp giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác di sản quê hương, tác giả đã lựa chọn đề tài này.

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Tìm hiểu, khảo sát công trình di tích lịch sử - văn hóa gắn với các danh nhân dân tộc tại Khu di tích đền Trần, Thái Bình.
  2. Phân tích, đánh giá hiện trạng khai thác lễ hội đền Trần phục vụ phát triển du lịch trong giai đoạn nghiên cứu.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác các giá trị của lễ hội nhằm thúc đẩy phát triển du lịch địa phương.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Hệ thống hóa các cơ sở lý luận về lễ hội và du lịch lễ hội.
  2. Khảo sát, làm rõ thực trạng khai thác lễ hội đền Trần để phát triển du lịch tại khu di tích trong những năm gần đây.
  3. Đề xuất các nhóm giải pháp góp phần bảo tồn, phát huy giá trị lễ hội đền Trần, Thái Bình phục vụ phát triển du lịch bền vững.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động khai thác lễ hội đền Trần (Thái Bình) phục vụ phát triển du lịch.
  • Phạm vi không gian: Khu di tích và không gian tổ chức lễ hội đền Trần tại xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình cùng các tuyến điểm du lịch liên kết phụ cận (đền Tiên La, làng nghề dệt chiếu Hới, làng dệt Phương La...).
  • Phạm vi thời gian và nội dung: Tập trung vào công tác tổ chức, quản lý và khai thác dịch vụ du lịch lễ hội tại khu di tích trong những năm gần đây (tính đến thời điểm hoàn thành khóa luận năm 2018).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng:

  • Khái niệm lễ hội và cấu trúc Lễ - Hội: Tác giả tiếp cận khái niệm theo quan điểm nghiên cứu văn hóa của M. Bakhtin (Nga), định nghĩa trong Từ điển tiếng Việt, các công trình của nhóm tác giả cuốn Hội hè Việt Nam và PGS. Phan Đăng Nhật (Lễ hội cổ truyền). Bản chất lễ hội được xác định là thể thống nhất gồm hai phần: phần "Lễ" mang tính quy phạm nghiêm ngặt, thể hiện tín ngưỡng và tâm linh; phần "Hội" là sinh hoạt dân dã, phóng khoáng gồm các trò chơi, trò diễn dân gian phản ánh đời sống cộng đồng.
  • Hệ thống phân loại lễ hội: Tổng hợp các quan điểm phân loại của Đinh Gia Khánh (1989 - phân chia theo nguồn gốc tôn giáo và không tôn giáo), Tôn Thất Bình (phân loại lễ hội Thừa Thiên Huế thành 4 nhóm) và phân loại của Hoàng Lương trong cuốn Lễ hội truyền thống của các dân tộc Việt Nam khu vực phía Bắc (chia thành 2 nhóm chính: lễ hội liên quan đến tín ngưỡng cầu mùa và lễ hội tưởng niệm danh nhân, anh hùng dân tộc).
  • Lý luận về du lịch lễ hội: Làm rõ khái niệm du lịch lễ hội là sự gặp gỡ giữa cung và cầu văn hóa; vận dụng Điều 79 Luật Du lịch Việt Nam về hoạt động hướng dẫn, xúc tiến du lịch; phân tích mối quan hệ tương hỗ hai chiều giữa bảo tồn di sản văn hóa và khai thác kinh tế du lịch.

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp tiếp cận hệ thống: Đánh giá lễ hội và hoạt động du lịch trong mối quan hệ tổng thể giữa tài nguyên văn hóa, dịch vụ lữ hành, cộng đồng bản địa và du khách.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu các hình thức tổ chức, trò chơi dân gian và mô hình khai thác giữa các loại hình lễ hội để rút ra đặc thù của lễ hội đền Trần.
  • Phương pháp thống kê: Khái quát và xử lý số liệu về lượng khách, cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn nhân lực phục vụ du lịch.
  • Phương pháp nghiên cứu, phân tích, tổng hợp tài liệu: Thu thập, trích xuất dữ liệu từ các văn bản quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Thái Bình đến năm 2020, tài liệu lịch sử địa phương và các ấn phẩm chuyên ngành.
  • Phương pháp điền dã: Khảo sát thực địa trực tiếp tại khu di tích đền Trần (Hưng Hà, Thái Bình), quan sát các hoạt động tế lễ, trò diễn dân gian, môi trường cảnh quan và công tác phục vụ du khách.

Nguồn dữ liệu:

  • Dữ liệu thứ cấp: Các công trình nghiên cứu của Phạm Trung Lương, Trần Ngọc Thêm, Trần Diễm Thúy, Trần Thanh Mai, Vũ Đức Thơm - Phạm Tất Lượng (Đền Trần và Thái Đường Lăng); báo cáo Chiến lược phát triển du lịch của Tổng cục Du lịch; cổng thông tin Tổng cục Du lịch.
  • Dữ liệu sơ cấp: Khảo sát thực tế tại lễ hội đền Trần và các làng nghề, điểm di tích liên kết tại huyện Hưng Hà.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về lễ hội và du lịch lễ hội

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm nền tảng về lễ hội cổ truyền và du lịch lễ hội:

  • Bản chất và cấu trúc lễ hội: Khẳng định lễ và hội có mối liên hệ mật thiết, hòa quyện ("trong Lễ có Hội, trong Hội có Lễ"). Không gian lễ hội bao gồm không gian thiêng tự nhiên (rừng cấm, nguồn nước) và không gian thiêng nhân tạo (đền, chùa, đình, miếu). Thời gian diễn ra chủ yếu vào mùa xuân và mùa thu – thời điểm nông nhàn và thời tiết thuận lợi.
  • Quy trình tổ chức lễ hội: Gồm 3 giai đoạn chuẩn bị (chuẩn bị sớm ngay sau mùa hội trước và chuẩn bị trực tiếp trước ngày mở hội), vào hội (tế lễ, rước nước, dâng hương, trò vui) và kết thúc hội (xuất tịch, giã đám, đóng cửa di tích).
  • Phân loại lễ hội: Trình bày chi tiết 5 loại hình theo mục đích truyền thống (nông nghiệp, phồn thực - giao duyên, văn nghệ, thi tài, lịch sử) và các cách phân loại học thuật khác.
  • Mối quan hệ hai chiều giữa lễ hội và du lịch: Du lịch tạo nguồn thu kinh tế, giải quyết việc làm (vận chuyển, bán hàng lưu niệm, ăn uống), thúc đẩy giao lưu văn hóa và quảng bá hình ảnh địa phương. Ngược lại, nếu quản lý thiếu đồng bộ, du lịch tạo sức ép lớn lên hạ tầng, gây ô nhiễm môi trường, phát sinh tiêu cực (chèo kéo, chen lấn) và làm biến dạng không gian thiêng.

Chương 2: Thực trạng khai thác lễ hội đền Trần, Thái Bình phục vụ phát triển du lịch

Chương 2 đi sâu vào khảo sát thực địa tại huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình:

  • Lịch sử và giá trị khu di tích đền Trần: Đền Trần Thái Bình tọa lạc tại vùng đất Tam Đường (xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà), nơi phát tích vương triều Trần với hệ thống tôn miếu và các gò mộ tổ tiên, vua Trần. Khu di tích chứa đựng giá trị to lớn về lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm, giá trị kiến trúc nghệ thuật và tâm linh.
  • Nội dung lễ hội đền Trần: Diễn ra vào trung tuần tháng Giêng âm lịch, bao gồm các nghi thức trang nghiêm như lễ dâng hương, rước nước (mộc dục), lễ tế tổ tông; cùng hệ thống trò diễn dân gian phong phú phản ánh gốc tích vùng sông nước như thi cỗ cá, thi chọi gà, thi thổi cơm.
  • Thực trạng các dịch vụ và cơ sở vật chất phục vụ du lịch: Dịch vụ du lịch tại lễ hội chủ yếu mang tính tự phát, dừng lại ở việc kinh doanh vận chuyển (cho thuê xe), dịch vụ ăn uống nhỏ lẻ, giữ xe, bán hàng mã và đồ lưu niệm. Cơ sở hạ tầng lưu trú tại khu vực còn nghèo nàn.
  • Hạn chế trong công tác quản lý và nhân lực: Đội ngũ thuyết minh viên, hướng dẫn viên tại điểm rất mỏng (chỉ có 2 người), chưa được đào tạo chuyên sâu và thiếu kỹ năng ngoại ngữ (tiếng Anh). Hiện tượng rác thải tràn lan sau hội, quá tải cục bộ, nạn chèo kéo khách, xô đẩy chen chúc vẫn diễn ra, làm suy giảm chất lượng trải nghiệm của du khách.

Chương 3: Giải pháp khai thác hiệu quả lễ hội đền Trần, Thái Bình để phát triển du lịch

Chương 3 xây dựng hệ thống giải pháp xuất phát từ định hướng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Thái Bình đến năm 2020:

  • Nhóm giải pháp quản lý, bảo tồn và hạ tầng: Quy hoạch không gian di tích, tu bổ tôn tạo cảnh quan, ban hành nội quy ứng xử văn minh và lắp đặt biển chỉ dẫn chi tiết (ngăn chặn giẫm cỏ, bẻ cành, thắp hương bừa bãi, đặt tiền giọt dầu sai quy định).
  • Nhóm giải pháp tuyên truyền, xúc tiến: Thành lập trung tâm thông tin du lịch; xuất bản ấn phẩm, tập gấp; duy trì thư viện sách lịch sử - văn hóa tại đền; sản xuất đĩa CD/VCD, video quảng bá; tham gia các hội chợ, hội thảo xúc tiến du lịch quốc gia.
  • Nhóm giải pháp đào tạo nguồn nhân lực: Mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ quản lý văn hóa; đào tạo hướng dẫn viên chuyên nghiệp và hướng dẫn viên địa phương; chú trọng đào tạo ngoại ngữ nhằm đón đầu lượng khách quốc tế.
  • Nhóm giải pháp phát triển sản phẩm du lịch và tour tuyến: Thiết kế các chương trình du lịch chuyên đề kết nối di tích đền Trần với các điểm đến vệ tinh, kết hợp du lịch làng quê (thưởng thức rượu nếp cái hoa vàng, canh cá rô Đồng Giới, gỏi nhệch) và làng nghề truyền thống.
  • Nhóm giải pháp định vị thương hiệu: Xây dựng bộ nhận diện, khẩu hiệu, liên kết với các danh nhân lịch sử gắn bó với mảnh đất Hưng Hà (Thái sư Trần Thủ Độ, Linh từ Quốc mẫu Trần Thị Dung, Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ, Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ).

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính và số liệu thực tế:

  • Khóa luận làm rõ bức tranh thực trạng khai thác lễ hội đền Trần: lượng khách tập trung chủ yếu vào mùa xuân (tháng Giêng), đối tượng phục vụ chủ yếu là khách nội địa hành hương tâm linh ngắn ngày (đi - về trong ngày), mức chi tiêu bình quân thấp.
  • Đánh giá cụ thể điểm nghẽn về nhân sự du lịch tại chỗ: Khu di tích đền Trần Hưng Hà chỉ có 02 hướng dẫn viên phụ trách thuyết minh, trình độ ngoại ngữ và kiến thức chuyên sâu chưa đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch quốc tế.
  • Hệ thống hóa các điểm du lịch liên kết trên địa bàn huyện Hưng Hà và tỉnh Thái Bình:
Nhóm điểm đến Điểm di tích / Làng nghề tiêu biểu Nội dung tài nguyên văn hóa - dịch vụ
Di tích lịch sử - tâm linh Đền Trần (Tam Đường, Tiến Đức) Lăng mộ, tôn miếu nhà Trần, tế lễ, thi cỗ cá, thổi cơm
Đền Tiên La (Đoan Hùng) Thờ Bát Nạn tướng quân Vũ Thị Thục thời Hai Bà Trưng
Lăng mộ Trần Thủ Độ, Linh từ Quốc mẫu Di tích danh nhân lịch sử triều Trần tại xã Liên Hiệp
Đền Đồng Bằng (Quỳnh Phụ) Quần thể tâm linh phối hợp tuyến
Làng nghề truyền thống Làng chiếu Hới (xã Tân Lễ) Nghề dệt chiếu từ thế kỷ X; đền Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ
Làng dệt Phương La / làng Mẹo (Thái Phương) Làng dệt vải, khăn truyền thống lâu đời
Làng dệt mành Tây Xuyên (xã Tân Lễ) Sản phẩm thủ công mỹ nghệ tre nứa
Làng bánh cáy Nguyên Xá (Đông Hưng) Sản phẩm ẩm thực đặc sản phục vụ quà lưu niệm
Du lịch sinh thái phụ trợ Biển Đồng Châu, Cồn Đen, làng vườn Bách Thuận Đa dạng hóa trải nghiệm nghỉ dưỡng, sinh thái

Đề xuất 03 chương trình du lịch (tour) cụ thể (thời lượng 2 ngày 1 đêm):

  1. Tour Thành phố Thái Bình - Hưng Hà - Thành phố Thái Bình:
    • Ngày 1: Đền Tiên La $\rightarrow$ Đền Trần (Tam Đường) $\rightarrow$ Làng nghề dệt chiếu Hới $\rightarrow$ Nghỉ đêm tại TP. Thái Bình.
    • Ngày 2: Nhà lưu niệm Bác Hồ $\rightarrow$ Từ đường Lê Quý Đôn $\rightarrow$ Làng dệt Phương La $\rightarrow$ Kết thúc tour.
  2. Tour Du lịch tâm linh - hành hương về quê lúa:
    • Ngày 1: Hà Nội $\rightarrow$ Làng chiếu Hới $\rightarrow$ Đền Trần $\rightarrow$ Đền Tiên La $\rightarrow$ Làng dệt Phương La $\rightarrow$ Nghỉ đêm tại Hưng Hà.
    • Ngày 2: Đền Đồng Bằng $\rightarrow$ Làng nghề bánh cáy Nguyên Xá $\rightarrow$ TP. Thái Bình $\rightarrow$ Hà Nội.
  3. Tour Từ Kinh Đô về thăm Thái Miếu:
    • Ngày 1: Hà Nội $\rightarrow$ Đền Trần Nam Định (phường Lộc Vượng) $\rightarrow$ TP. Thái Bình (ăn trưa, nghỉ ngơi).
    • Ngày 2: Đền Trần Thái Bình (Tiến Đức) $\rightarrow$ Lăng Thái sư Trần Thủ Độ và Linh từ Quốc mẫu Trần Thị Dung (Liên Hiệp) $\rightarrow$ Làng chiếu Hới $\rightarrow$ Hà Nội.

Đóng góp của khóa luận:

  • Đóng góp thực tiễn vào việc xây dựng các phương án định tuyến du lịch cụ thể, gắn kết di tích đền Trần với tài nguyên làng nghề và ẩm thực bản địa nhằm kéo dài thời gian lưu trú của khách.
  • Cung cấp cơ sở tham khảo cho Ban quản lý di tích và chính quyền địa phương trong công tác đào tạo nhân lực, kiểm soát trật tự và hạn chế các tác động tiêu cực trong mùa lễ hội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài:

  • Khóa luận tập trung nghiên cứu trong phạm vi không gian huyện Hưng Hà và tỉnh Thái Bình, các số liệu và nhận định phản ánh hiện trạng tại thời điểm năm 2018.
  • Nguồn dữ liệu về hành vi chi tiêu và sự hài lòng của du khách chủ yếu dựa trên quan sát thực địa và tài liệu thứ cấp, chưa triển khai các cuộc điều tra xã hội học bằng phiếu hỏi quy mô lớn đối với khách quốc tế.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng nghiên cứu mô hình liên kết phát triển du lịch vùng giữa đền Trần Thái Bình với đền Trần Nam Định, đền Trần - di tích Yên Tử (Quảng Ninh) và đền Kiếp Bạc (Hải Dương) tạo thành chuỗi sản phẩm du lịch vương triều Trần hoàn chỉnh.
  • Khảo sát chuyên sâu về mô hình du lịch cộng đồng (homestay) và trải nghiệm nghề thủ công tại các làng ven sông Hồng, sông Luộc thuộc huyện Hưng Hà.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên chuyên ngành Văn hóa Du lịch, Quản trị Dịch vụ Du lịch & Lữ hành, Việt Nam học; cán bộ quản lý văn hóa - di tích tại địa phương; các doanh nghiệp lữ hành xây dựng tuyến điểm du lịch đồng bằng sông Hồng.
  • Nội dung có giá trị tham khảo nổi bật:
    • Khung lý luận tổng hợp về phân loại lễ hội và mối quan hệ giữa du lịch với lễ hội truyền thống (Chương 1).
    • Khảo tả chi tiết các nét văn hóa đặc sắc của lễ hội đền Trần Thái Bình: thi cỗ cá, thi thổi cơm, thi chọi gà (Chương 2).
    • Lịch trình chi tiết 03 tuyến du lịch mẫu 2 ngày 1 đêm kết nối các điểm di tích và làng nghề huyện Hưng Hà (Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận phân loại lễ hội đền Trần Hưng Hà vào nhóm lễ hội nào theo cơ sở lý luận?
Theo cách phân loại truyền thống dựa trên mục đích và nguồn gốc, lễ hội đền Trần thuộc nhóm Lễ hội lịch sử (diễn tả, nhắc lại và biểu dương công đức của các vị anh hùng, thành hoàng và nhân vật có công dựng nước, giữ nước). Đồng thời, theo cách phân loại của Hoàng Lương, lễ hội thuộc nhóm Lễ hội liên quan đến việc tưởng niệm công lao các vị danh nhân văn hóa, anh hùng dân tộc.

2. Điểm khác biệt về tài nguyên của đền Trần Thái Bình so với các di tích nhà Trần khác là gì?
Đền Trần tại Hưng Hà, Thái Bình gắn liền với địa danh Tam Đường – nơi phát tích của triều đại nhà Trần, là nơi đặt tôn miếu và hệ thống lăng mộ của các vị vua khởi nghiệp cùng hoàng thân quốc thích triều Trần hơn 700 năm trước.

3. Thực trạng nhân lực thuyết minh tại khu di tích đền Trần được văn bản phản ánh như thế nào?
Khu di tích có lực lượng hướng dẫn viên tại điểm rất mỏng, chỉ gồm 02 người; trình độ chuyên sâu và năng lực ngoại ngữ (đặc biệt là tiếng Anh) còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu phục vụ các đoàn khách quốc tế.

4. Khóa luận đề xuất kết hợp lễ hội đền Trần với những làng nghề truyền thống nào tại địa phương?
Khóa luận đề xuất kết nối trực tiếp với 3 làng nghề tại huyện Hưng Hà: làng dệt chiếu Hới (xã Tân Lễ - gắn với Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ đỗ năm 1481), làng dệt vải, khăn Phương La / làng Mẹo (xã Thái Phương), làng dệt mành Tây Xuyên (xã Tân Lễ), cùng làng nghề làm bánh cáy Nguyên Xá (huyện Đông Hưng).

5. Vì sao tác giả đề xuất xây dựng tour kết nối đền Trần Nam Định và đền Trần Thái Bình?
Tác giả xây dựng tour "Từ Kinh Đô về thăm Thái Miếu" để kết nối không gian lịch sử hoàn chỉnh của vương triều Trần: từ trung tâm hành chính/hành cung Thiên Trường (Nam Định) về cội nguồn phát tích, lăng miếu tổ tiên tại Tam Đường (Thái Bình), giúp du khách có cái nhìn toàn diện về lịch sử triều đại.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Phạm Văn Duy đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về lễ hội và du lịch lễ hội, đồng thời phản ánh khách quan thực trạng khai thác du lịch tại Khu di tích đền Trần Hưng Hà, Thái Bình. Tác giả đã chỉ ra những điểm nghẽn về hạ tầng, tính mùa vụ, tình trạng quá tải và hạn chế về nhân lực phục vụ tại chỗ. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất các nhóm giải pháp khả thi, nổi bật là thiết kế 03 tuyến du lịch chuyên đề kết nối di tích với làng nghề và sản phẩm ẩm thực đặc trưng của quê hương Thái Bình.