CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát về rủi ro trong cho vay đối với ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm Trong ngân hàng thương mại, cấp tín dụng là một trong những nghiệp vụ quan trọng nhất của ngân hàng và sử dụng nhiều vốn nhất. Theo Luật các Tổ chức tín dụng (2017), “cấp tín dụng là việc ngân hàng thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Trên thực tế, hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng tương đối đa dạng, nhưng nghiệp vụ cho vay thường chiếm tỷ trọng cao nhất. Nghiệp vụ cho vay trên cơ sở sử dụng nhiều vốn và cũng đem lại phần lớn lợi nhuận cho ngân hàng, vì vậy nguy cơ xảy ra rủi ro trong cho vay là rất lớn với nhiều mức độ tổn thất và không theo quy luật chung.
Tuy nhiên rủi ro thường đi đôi với lợi ích nên các ngân hàng luôn phải đánh giá và kiểm soát rủi ro nhằm hạn chế tổn thất cho ngân hàng và đạt các mục tiêu mong muốn. Theo Phan Thị Thu Hà (2013), “cho vay là việc ngân hàng cấp tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định”. Vì vậy, rủi ro cho vay cũng thuộc rủi ro tín dụng. Trong khuôn khổ đề tài, rủi ro cho vay được định nghĩa là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng khi khách hàng không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ nợ theo hợp đồng cho vay.2 Nguyên nhân gây ra rủi ro trong cho vay Nguyên nhân gây ra rủi ro trong cho vay tương đối đa dạng và phức tạp, bao gồm 3 nhóm nguyên nhân: Nguyên nhân từ môi trường bên ngoài, nguyên nhân từ khách hàng và nguyên nhân từ ngân hàng.
a) Nguyên nhân từ phía Ngân hàng cho vay Qui trình cho vay chưa phù hợp, các bước trong qui trình chưa thực sự chặt chẽ sẽ tạo ra các kẽ hở, lỗ hổng để khách hàng có thể lách luật, thiếu trung thực là nguyên nhân gây ra rủi ro trong cho vay. Bên cạnh đó, trong những trường hợp nhất 5 định ngân hàng hạ thấp các điều kiện vay vốn cũng có thể là nguyên nhân phát sinh và làm trầm trọng thêm rủi ro trong cho vay. Khi qui trình cho vay chưa chặt chẽ, các điều kiện vay vốn bị hạ thấp sẽ dẫn đến việc thiếu thận trọng trong quá trình xét duyệt và cấp tín dụng, thiếu chặt chẽ, thiếu thận trọng, không tuân thủ qui trình kiểm soát hoặc kiểm soát mang tính hình thức, từ đó gây ra rủi ro trong cho vay Trình độ và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ làm công tác tín dụng có thể là nguyên nhân trực tiếp gây ra rủi ro trong cho vay. Do tính phức tạp trong quá trình thẩm định, đánh giá các dự án/ phương án vay vốn đòi hỏi cán bộ tín dụng phải có trình độ chuyên môn, am hiểu về khách hàng, về các hoạt động liên quan đến việc sử dụng vốn vay.
Trong trường hợp cán bộ tín dụng không đủ trình độ chuyên môn để đánh giá đúng khách hàng và tính khả thi của phương án vay vốn, dẫn đến quyết định cấp tín dụng cho khách hàng không đủ tin cậy về việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ hoặc khả năng tài chính của khách hàng không đủ để hoàn thành nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng rủi ro trong cho vay tất yếu sẽ phát sinh. Bên cạnh đó, cán bộ làm công tác tín dụng nếu không ý thức được trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp, không tuân thủ qui trình, nghiệp vụ nhằm mục đích gian lận, trục lợi sẽ là nguyên nhân dẫn đến việc cấp tín dụng cho khách hàng chưa đáp ứng điều kiện vay vốn, lơ là kiểm soát quá trình sử dụng vốn của khách hàng, hậu quả tất yếu là ngân hàng không thu hồi đủ nợ gốc và lãi, rủi ro trong cho vay tăng cao. b) Nguyên nhân từ phía khách hàng đi vay Khách hàng là đối tượng có nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ theo cam kết. Năng lực quản lý tài chính của khách hàng trong việc đi vay và sử dụng khoản vay có tác động rất lớn đến việc hoàn thành nghĩa vụ nợ khi đến hạn của hợp đồng cho vay vốn.
Khách hàng có năng lực yếu kém có thể dẫn tới trường hợp vốn vay sử dụng không hiệu quả, việc đầu tư không sinh lời kì vọng để trả nợ cho ngân hàng hoặc hoàn trả không đúng hạn. Ngoài ra, khách hàng có thể gặp vấn đề trong sản xuất kinh doanh, hoặc vấn đề sức khỏe làm tác động đến khả năng trả nợ. Nhiều trường hợp khách hàng đầu tư sinh lời nhưng cố tình không trả nợ cho các ngân hàng đúng hạn hoặc có ý không 6 muốn trả nợ, chậm chễ trả nợ với hy vọng chiếm dụng vốn hoặc sử dụng vốn lâu hơn. Hoặc trong một số trường hợp khách hàng có ý định lừa đảo: sử dụng các thông tin không trung thực khi lập hồ sơ vay vốn, sử dụng vốn sai mục đích, cố tình chiếm dụng vốn ngân hàng, không có thiện chí trả nợ.
Trong những trường hợp này, nếu ngân hàng không thẩm định chặt chẽ trước, trong và sau khi cho vay, không phát hiện kịp thời mà vẫn cấp tín dụng cho khách hàng thì hậu quả tất yếu là phát sinh rủi ro trong cho vay, không thể thu hồi nợ gốc và lãi. c) Các nguyên nhân khác Những nguyên nhân xuất phát từ tính khách quan như sự thay đổi bất lợi của môi trường pháp lý, môi trường kinh tế suy thoái, khủng hoảng, các thiên tai xảy ra hoặc môi trường chính trị xã hội có thể làm gia răng rủi ro của các khoản vay.3 Tác động của rủi ro trong cho vay a) Đối với các ngân hàng - Rủi ro làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh: Rủi ro cho vay xảy ra khiến các ngân hàng không thu hồi được lãi và gốc theo đúng thời hạn trong hợp đồng tín dụng, thậm chí có nguy cơ xảy ra mất vốn. Bên cạnh đó, rủi ro cao khiến các ngân hàng phải tăng cường trích lập các khoản mục dự phòng rủi ro từ đó làm cho doanh thu và lợi nhuận của ngân hàng thấp hơn, ảnh hưởng không tốt đến kết quả kinh doanh. - Rủi ro làm giảm uy tín: Chất lượng tín dụng của các ngân hàng không tốt thể hiện ở một số chỉ tiêu như có tỷ lệ nợ quá hạn hoặc các khoản nợ xấu cao và để xảy ra thất thoát vốn thì ngân hàng có nguy cơ mất uy tín với người gửi tiền.
Thông tin về mức độ rủi ro hoặc hoạt động cho vay không hiệu quả thường được NHNN kiểm soát rất chặt chẽ và được báo chí quan tâm vì ngân hàng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Khi mất uy tín trong dân chúng, ngân hàng khó khăn trong việc huy động vốn và giảm khả năng cạnh tranh với những ngân hàng khác. - Rủi ro làm ảnh hưởng khả năng thanh toán: Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng là nhận tiền gửi, cho vay và thanh toán. Nếu các khoản vay gặp rủi ro thì việc thu hồi gốc và lãi của ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong khi đó vẫn phải trả lãi và 7 thanh toán các khoản tiền gửi đúng hạn.
Trong trường hợp vốn huy động khó khăn hơn do mất uy tín, tâm lý lo sợ nên rút tiền của người dân ngày càng tăng lên khiến các ngân hàng gặp khó khăn trong khả năng thanh toán. - Rủi ro làm phá sản ngân hàng: Ngân hàng sẽ phải chịu tổn thất về tài chính và thiệt hại về uy tín, lòng tin khi có rủi ro xảy ra. Để xảy ra rủi ro và không kiểm soát được sẽ tạo nên phản ứng dây chuyền trong nền kinh tế, khiến người dân đổ xô đến rút tiền. Việc không xoay sở được khả năng thanh toán khi việc rút tiền đồng loạt khiến các ngân hàng dẫn đến phá sản.
b) Đối với người gửi tiền Khi các ngân hàng mất vốn và không thu được lãi từ các khoản cho vay thì người gửi tiền là những người có thể bị mất tiền. Nguồn vốn cho vay của ngân hàng chủ yếu đến từ nguồn tiền gửi của dân chúng. Vì vậy, khi xảy ra rủi ro cho vay, các ngân hàng sẽ đối mặt với việc rút tiền ồ ạt từ phía người dân, có thể nơi vào tình trạng mất thanh khoản và dẫn tới phá sản. Các khác hàng có khoản tiền gửi tại ngân hàng sẽ đối mặt với nguy cơ không thu hồi được vốn.
c) Đối với người đi vay Rủi ro xảy ra sẽ ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng. Điều đó đồng nghĩa với việc lượng tiền gửi thu hút sẽ ít đi và các ngân hàng phải tăng lãi suất cao hơn nhằm thu hút khách hàng để huy động vốn. Các khoản cho vay ra từ đó cũng bị áp dụng các ràng buộc chặt chẽ và mức lãi suất cao hơn để bù đắp cho việc huy động vốn với lãi suất cao. Người đi vay từ đó khó tiếp cận với nguồn vốn hoặc việc huy động vốn phải chịu chi phí cao hơn.
Đối với người đi vay để xảy ra rủi ro cho vay thì khách hàng có thể sẽ bị áp dụng những mức phạt lãi suất cao hơn trong hợp đồng, việc tìm kiếm các khoản vay sau đó cũng khó khăn hơn rất nhiều vì lịch sử tín dụng không tốt 1.4 Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro trong cho vay a) Tỷ lệ nợ quá hạn Nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn = * 100 Tổng dư nợ cho vay 8 Tỷ lệ nợ quá hạn cho ta biết trong một đồng dư nợ có bao nhiêu đồng là nợ quá hạn. Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và hoặc lãi đã quá hạn. Tỷ lệ nợ quá hạn cao chứng tỏ rủi ro trong cho vay cao. Ngân hàng cần có các biện pháp kiểm tra, giám sát các khoản vay của mình thật chặt chẽ nhằm hạn chế rủi ro trong cho vay.
Theo thông lệ quốc tế, tỷ lệ nợ quá hạn ≤ 5% là ở mức chấp nhận được.