Chương 1. Những vấn đề lý luận về miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng Chương 2. Pháp luật Việt Nam về miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng - Quy định và thực tiễn pháp luật Chương 3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG 1. Khái niệm hợp đồng và vi phạm hợp đồng 1. Khái niệm hợp đồng Trước khi phân tích về miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, cần làm rõ các khái niệm có liên quan. Hợp đồng (contract) là một công cụ pháp lý phổ biến và quan trọng trong đời sống giao lưu dân sự - kinh tế, giúp con người có thể thực hiện các giao dịch, trao đổi hàng hóa, mua bán tài sản, thuê mướn dịch vụ, v.v… nhằm thỏa mãn các nhu cầu sinh hoạt và kinh doanh.
Có thể nói: Hợp đồng là một trong những khái niệm pháp lý được hình thành gần như đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Trong khoa học pháp lý, hợp đồng là vấn đề trung tâm của pháp luật dân sự. Hợp đồng là nguồn gốc quan trọng của nghĩa vụ, và nghĩa vụ - hợp đồng lại là một chế định (hay một tiểu phân ngành luật) giữ vị trí trung tâm của hệ thống luật tư. Trong pháp luật thực định, phần hợp đồng luôn là nội dung quan trọng của bất cứ Bộ luật Dân sự (BLDS) nào (từ BLDS Pháp năm 1804, cho đến BLDS đầu tiên của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 2020).
Có nhiều cách định nghĩa, cũng như có nhiều quan điểm khác nhau về định nghĩa hợp đồng: Dưới góc độ học thuật, Từ điển pháp luật Deluxe Black’s Law Dictionary nổi tiếng của Hoa Kỳ định nghĩa: “Hợp đồng là một sự thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều người mà tạo lập nên một nghĩa vụ làm hoặc không làm một việc cụ thể”[44]. Còn tại Việt Nam, Từ điển Luật học (Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp) định nghĩa: 7 “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền, nghĩa vụ”[43] Dưới góc độ pháp luật thực định, điều 1101 BLDS Pháp năm 1804 định nghĩa: “Hợp đồng là sự thỏa thuận, theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một việc nào đó”. Cách định nghĩa kể trên đã du nhập vào Việt Nam đầu thế kỉ XX, cùng với quá trình thực dân hóa của Pháp. Điều 644 BLDS Bắc Kỳ năm 1931, và điều 680 BLDS Trung Kỳ năm 1936 cũng có quy định tương tự về khế ước (hợp đồng).
Quan điểm dân luật Pháp là mẫu mực của dòng họ pháp luật châu Âu lục địa (civil law), đã ảnh hưởng đáng kể đến pháp luật Việt Nam hiện đại, và trong chế định hợp đồng cũng không ngoại lệ. Điều 420, khoản 1, BLDS Nga năm 1994 (BLDS đầu tiên thời kì hậu Xô viết) định nghĩa: “Hợp đồng được thừa nhận như một sự thỏa thuận được giao kết bởi hai hoặc nhiều người về việc phát sinh, thay đổi, hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự”. Quan điểm từ xứ sở bạch dương được tiếp thu bởi các luật gia Việt Nam (trong một thời gian khá dài chỉ được đào tạo về pháp luật Xô viết tại Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu), và thể hiện đậm nét dấu ấn trong điều 394 BLDS (Việt Nam) năm 1995: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Cách định nghĩa này (mặc dù sao chép gần như nguyên vẹn BLDS Nga) vẫn được xem là bước tiến lớn so với Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989, khi đã coi hợp đồng như cơ sở cho giao dịch dân sự và trao đổi thương mại trong đời sống dân sinh mang màu sắc kinh tế thị trường, thay vì nhìn nhận hợp đồng như 8 một công cụ để thực hiện các mục tiêu kinh tế kế hoạch hóa của Nhà nước trong một nền kinh tế chỉ huy tập trung theo hướng quan liêu, bao cấp [2].
Cách định nghĩa trên tiếp tục được giữ nguyên trong điều 388 BLDS 2005. Đến BLDS (hiện hành) năm 2015, nhà làm luật cũng không có nhiều thay đổi: Điều 385 BLDS 2015 gần như tiếp thu nguyên vẹn định nghĩa về hợp đồng của hai BLDS trước đó, chỉ bỏ đi từ “dân sự”, theo đó: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Thay đổi nhỏ này nhằm khẳng định rằng: Khái niệm “hợp đồng” (hay trước đây là “hợp đồng dân sự”) trong BLDS bao hàm tất cả các loại hợp đồng được điều chỉnh bởi luật tư (mặc dù chỉ riêng thuật ngữ “hợp đồng” cũng đã đủ nói lên điều đó, chứ không cần đến “hợp đồng dân sự”) [16, Tr 11] Nói cách khác, chỉ cần là hợp đồng được điều chỉnh bởi luật tư, ví dụ như hợp đồng lao động, hợp đồng thương mại, hợp đồng xây dựng, v.v… thì đều được coi là một hợp đồng dân sự, chịu sự điều chỉnh của cả BLDS và luật chuyên ngành. Đây là vấn đề rất quan trọng, bởi ở Việt Nam, các quy định về hợp đồng, vi phạm hợp đồng, và miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng nằm cả ở BLDS và một số đạo luật chuyên ngành về thương mại.
Hợp đồng được hình thành dựa trên nền tảng của tự do ý chí, tự do hợp đồng. Các bên được tự do thoả thuận các nội dung điều khoản trong hợp đồng mà không trái với quy định của pháp luật. Hợp đồng là sự thoả thuận, thống nhất ý chí giữa các bên liên quan, tuy nhiên không phải tất cả mọi thoả thuận đều được coi là hợp đồng. Thống nhất ý chí ở đây được thể hiện qua quá trình một bên đưa ra đề nghị giao kết, nội dung,… bên còn lại sẽ chấp nhận giao kết hoặc nội dung đó.
Hai bên chỉ được coi là thống nhất ý chí khi một bên đưa ra yêu cầu, đề nghị về một nội 9 dung nhất định và bên còn lại chấp nhận nội dung đó mà không đưa ra điều khoản mới. Điều khoản mới của bên còn lại lúc này sẽ trở thành một yêu cầu mới hoàn toàn so với yêu cầu ban đầu. Chỉ có thống nhất ý chí có tính chắc chắn, hướng tới việc phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự mới là hợp đồng. Thỏa thuận khác (hôn nhân, yêu đương etc) không phải là hợp đồng.
Chính vì vậy, hợp đồng được xác lập là hành vi pháp lý song phương. Khái niệm vi phạm hợp đồng Hợp đồng được xem như một “luật chơi chung” giữa các bên tham gia giao kết. Đương nhiên sẽ có những trường hợp “luật chơi chung” này bị phá vỡ, vì những lí do chủ quan và khách quan khác nhau. Đó là những hình dung sơ khai nhất về vi phạm hợp đồng.
Vì vậy, nhà làm luật cần dự liệu các quy định pháp lý cho tình huống này, dưới hình thức những trách nhiệm pháp lý được áp đặt cho bên phá vỡ “luật chơi chung”. Những trách nhiệm pháp lý này vừa có ý nghĩa “trừng phạt”, chế tài hành vi “phá luật”, buộc các bên phải thực hiện đúng hợp đồng, mặt khác cũng có ý nghĩa cung cấp sự đền bù thỏa đáng cho bên bị xâm phạm đến quyền lợi do hành vi không đúng theo hợp đồng của bên kia. Một vấn đề có tính triết học về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, đó là các chế tài do vi phạm hợp đồng có được mang tính “trừng phạt” bên vi phạm hay không? Những người ủng hộ cho rằng: Việc “trừng phạt” bằng chế tài mang ý nghĩa răn đe, buộc các bên tham gia giao kết hợp đồng phải thực hiện đúng hợp đồng, tránh tình trạng bội ước. Tuy nhiên cần lưu ý rằng, chức năng của chế tài trong luật tư là khắc phục hậu quá (theo quan điểm công lý phục hồi - restorative justice) chứ không phải là trừng phạt (theo quan điểm công lý trừng phạt – retributive justice).
Chế tài trừng 10 phạt chỉ áp dụng cho luật hình sự, tính nghiêm khắc của trừng phạt thể hiện ở việc người phạm tội dù muốn hay không đều phải gánh chịu trách nhiệm đối với Nhà nước chứ không phải chỉ mỗi cá nhân hay tổ chức có quyền và lợi ích bị hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại. Chính vì chỉ có chức năng khắc phục/phục hồi nên phạm vi của chế tài dân sự nói chung tối đa cũng chỉ là khắc phục lại tình trạng ban đầu giống như hành vi vi phạm chưa từng xảy ra. Và mức độ thiệt hại lớn nhất có thể đòi là thiệt hại thực tế hoặc kỳ vọng hợp lý. Chính vì thế mà chế tài phạt vi phạm cho phép phạt “vô tội vạ” hiện nay có nhiều điểm không phù hợp và tồn tại nhiều hạn chế.
Tại Việt Nam, khoản 1, điều 351 BLDS 2015 định nghĩa: “Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ”. Đây là định nghĩa có tính chất phổ quát, áp dụng cho cả vi phạm hợp đồng (một dạng vi phạm nghĩa vụ chủ yếu). Từ điển Luật học (Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp) định nghĩa: “Vi phạm hợp đồng là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng những nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng” [43, tr.851] Như vậy, về bản chất, vi phạm hợp đồng (breach of contract) chính là một dạng vi phạm nghĩa vụ (vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng). Nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng là những nghĩa vụ đã (i) được ghi nhận trong các điều khoản của hợp đồng, hoặc (ii) được pháp luật điều chỉnh hợp đồng đó qui định.
Không thể coi là có hành vi vi phạm hợp đồng nếu bên thực hiện hành vi không có nghĩa vụ thực hiện hành vi đó. Ví dụ, trong hợp đồng mua bán hàng hóa, nếu bên bán hàng giao hàng trước thời hạn quy định, thì bên mua hàng có quyền 11 không nhận hàng, và điều này không bị coi là một vi phạm hợp đồng, bởi lẽ: bên mua hàng không có nghĩa vụ nhận hàng trước thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng. Trên thế giới, vi phạm hợp đồng được hiểu tương đối thống nhất nhưng ở mỗi quốc gia việc áp dụng các chế tài đối với vi phạm hợp đồng được thực hiện tương đối khác nhau. Tại hệ thống thông luật (common law), tiêu biểu là Anh và Hoa Kỳ, vi phạm nghĩa vụ hợp đồng là sự vi phạm các cam kết đã thoả thuận trong hợp đồng.