Chương I NHUNG DIEU KIỆN LICH SU-KINH TE CUA NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM TRONG CAC THE Ki XI-XVHI I.Diéu kiện dia lý- lich sử: Việt Nam là một quốc gia ở Đông Nam A lục địa , thuộc bờ cực đông của bán đảo Đông Dương, với lãnh thô hẹp ngang và đường bờ biển chạy dai, vừa ở vị trí của hai nền văn minh lớn Án Độ- Trung Hoa lại là nơi tiếp giáp của hai vùng lãnh thổ Đông Bắc Á vả Đông Nam Á. Vì vậy ngay từ những thế kỉ đầu công nguyên, khi ở miền nam châu Á đã có sự giao dịch buôn bán giữa Trung Hoa với các nước miền Nam và An Độ thì đất Giao Chi đã là trạm dừng chân của thuyền bẻ qua lại trên con đường hàng hải thương mại ây. Nhà địa lý học đời Đường là Gia Đam đã từng nhắc đến con đường thông thương buôn bán giữa Trung Quốc và các nước phương Nam. Theo Gia Dam thi con đường thông thương buôn bán quan trọng nhất là đường biển, từ Quảng Châu qua Vịnh Bắc Bộ, quá Cù Lao Cham và các hải cảng của nước Hoàn Vương (thuộc miễn Nam Trung Bộ của nước ta ngày nay) và từ đó qua eo biển Mã Lai dé sang Nam Dương và An Độ.
Do vị trí quan trọng của nước ta trên đường hàng hải giữa Trung Quốc và các nước phương Nam nên nước ta ngay từ đầu thé kỉ I đã là một địa điểm giao thông va thương mại quốc tế. Như vậy là hoạt động ngoại thương ở nước ta ra đời từ rit sớm từ những thé ki đầu công nguyên nhưng tại sao ngoại thương Việt Nam ra đời sớm như vậy nhưng nền ngoại thương Việt Nam thực sự chưa bao giờ đóng vai trò trọng yếu trong nền kinh tế dân tộc? Và tại sao người Việt đã sớm có truyền thuyết về nguồn gốc tẻ tiên mang đậm yếu tố Nước, về cái nhìn cỗ xưa với biên, về truyền thống quai dé lan biển, ý thức bảo vệ chủ quyén trên biển va tài thao lược của thủy quân. Nhưng nhìn chung, cu dân Việt vẫn dừng lại trước biển, sống ven biên nhưng vẫn xây lưng lại với biển, song chết vẫn có làm nông trong hiệu quả kính tế không cao? Và mặc dù với hơn 3000km bờ biển vậy mà người Việt vẫn có ít truyền thống khai thác biến ngoài việc đánh bắt nhuyễn thể và các ven bờ. Việt Nam không có nền kinh tế thương mại và hàng hải phát triển, không có nền văn hóa hải dương, khai phóng, hội nhập như cư dân các nước khu vực Địa Trung Hải hay một vài quốc gia khác trên thế giới.
Mỗi quan hệ kinh tế văn hóa giữa Đại Việt với các nước Đông Nam Á, châu Á, ngoại trừ Trung Quốc, không lấy gì làm sâu sắc và thường xuyên. Sự hiểu biết của người Việt về địa lý. lịch sử, kinh tế các nước trên thế giới cũng rất hạn hẹp cho đù đó là quốc gia lân bang, lán giéng ? Và tại sao nền kinh tế hàng hóa ở Việt Nam đã xuất hiện rất sớm từ khoảng thể ki XII đưới triều Ly và nó cũng đã từng trai qua những thời ky khá phát triển ở các thế ki XIV, XV và các thế ki XVII, XVIII, Vậy vì sao mà trải qua 7 thế ki , phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vẫn không ra đời trong lòng chế độ phong kiến Việt Nam? Chúng ta hãy bắt dau từ việc tìm hiểu về những diéu kiện lịch sử của ngoại thương Việt Nam: SVTH: Đào Thị Phương Huyền 9 ÂẢuận văn tốt nghiện / - Kinh tế ngoại thương Viet Nam trong các thé ki XI.Thời kì đựng nước (Hùng Vương- An Duong Vương): Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục: Những hoạt động trao đổi hàng hóa dau tiên giữa nước ta với Trung Quốc có từ trước công nguyên (thời Dudng(2357- 2258TCN): Sách Cương mục tiền tiền biên của Lý Kim Tường chép ring: “Năm Mậu Thân thứ năm đời Đường Nghiêu, Việt thị thường sang chau, dâng con rùa thần. Lời chua- Rùa thân: Theo thông chí của Trịnh Tiêu, về đời Đào Đường, phương Nam có Việt thường thị qua nai lần sứ dich sang chau, đẳng con rùa thần; có lẽ nó được đến nghìn năm, mình có hơn ba thước, trên có chữ văn khoa dau ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở vẻ sau.
Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là Quy lịch (Lịch Rùa)". Sử kí Trung Quốc chép: Năm Tân Mão thứ sáu (1110 TCN) đời Thành Vương nha Chu, phía Nam bộ Giao Chi có Việt Thats thị qua ba lần sứ dich, sang dâng chim trĩ trắng, Chu Công nói:” Đức Trạch chưa thắm khắp đến phương xa, người quân tử không nhận để lễ ra mat; chính lệnh chưa ban ra tới người quân tử chưa bắt người ta thuần phục”. Theo lời người thông dịch, sứ giả muốn nói: “Ong già trong nước chúng tôi có nói: Trời mưa không dim gió dữ va biển không nổi sóng đã ba năm nay, ý chừng Trung Quốc, có thánh nhân chang? Vì thế chúng tôi sang chau”. Chu Côn dem dâng lễ vật lên nhà tôn miéu.
Sứ giả không thuộc đường về, Chu Công cho 5 cỗ xe biển déu làm theo lối chi Nam. Sứ giả theo xe ấy theo ven biển về nước Phù Nam, Lâm Áp, vừa một năm mới về đến nước”. Dinh Ty, năm thứ 24(184TCN)( Han Cao Hậu nam thứ tư) Nha nước cắm nước Nam Việt mua 46 sắt ở cửa quan. Vua nói: “ Khi Cao Đề lên ngôi, ta cùng thông sử chung đô dùng.
Nay Cao Hậu nghe lời dẻm pha, phân biệt đồ dùng Hán Việt. Việc này tat là mưu kê của Trường Sa Vương muôn đựa y đức của nhà Hán mưu lây nước ta làm vua cả, tự lam công cho mình. Mùa xuân, Triệu Vương Đà tự xưng là hoàng đế, đem quân đánh Trường Sa. Bấy giờ Lữ Hâu nhà Hán không cho bán đồ sắt ở cửa quan ải Nam Việt.
Triệu Vương nghe tin nói: Hồi Cao Dé làm vua, ta vẫn cho sứ giả thông hảo hai nước cùng trao đổi đô vật. Bay giờ Lữ Hậu nghe tin bây tôi giém pha, chia rẻ Hán với Việt làm ngăn cách việc trao đổi đề vat. 2 Như vậy, ngay từ trước công nguyên người Việt cổ đã chủ động tiên hành các hoạt động giao hảo với các dan tộc xung quanh và xa như Trung Quốc, và từ đó những hoạt động ngoại thương đầu tiên cũng hình thành. Khoảng năm 210 TCN, khi Tần 'Thủy Hoàng chết, đế chế Tần suy yếu, lợi dụng cơ hội đó Nhâm Ngao và Triệu Đà chiếm Nam Hải, xây dựng một vương quốc riêng chống lại nhà Tần thì đã có hoạt động buôn bán thương mại giữa Việt Nam va Trung Hoa.
* Quốc sử quán triêu Nguyễn, Khám Định Vidt sử thông giám cương mục(tập 1), Nxb Giáo dục nâm 1998, trang 77 ? Theo Kham Định Việt sử thông giảm cương mục (tập 1),Sdd, trang 77 - 78 * Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử kí toàn thư (tập 1), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1967, trang 73 (Bản dich của Cao Huy Giu} “Theo Kham Định Việt sử thông giảm cương mục (tập 1), Sđớ, trang 92 SVTH: Đảo Thị Phương Huyền 10 Âuận văn tốt nghiệp - Kinh tế ngoại thương Việt Nam trong các thé kí XI-XVIHI 2. Ngoại thương Việt Nam dưới thời Bắc thuộc: a. Với Trung Quốc: Theo Phan Lạc Tuyên, trên thực tế Việt Nam là nơi gặp gỡ của nhiều dân tộc và nhiêu nền văn minh (như một số đông nhà nghiên cứu phương Tây đã nhận định). Cũng có ý kiến khác đánh giá Việt Nam là ngã tư đường của giao lưu quốc tế với Đông Nam A và châu A.
Từ lâu roi, trước công nguyên, Việt Nam từng lả vùng dat đừng chân hay lả trạm trung chuyên cho các thương nhân ở vùng biên Địa Trung Hải, Trung Cận Đông, An Độ tới, hoặc họ có thương điểm ở đây hoặc họ dừng chân nghỉ ngơi, mua thêm hàng hóa đi tiếp tơi Trung Quốc và Nhật Bản. Được nhắc đến nhiều vào lúc đó là Luy Lâu là nơi đóng thủ phủ của Thái thú Trung Quốc (năm 203 đổi là Giao Châu), ở vào vị trí huyện Thuận Thành, tinh Ha Bắc (Bắc Bộ ngày nay). Vào những thé ki đầu công nguyên do vị trí địa lý thuận lợi cho việc giao lưu băng đường bộ. đường sông và đường biên và là trung tâm hành chính và kinh tế nên nơi đây những nhà buôn từ An Độ, Trung A hay xa hơn nữa đã tới buôn bán.
Đồng thời tại đây họ tìm đầu mối để đi Trung Quốc hay những những thương nhân Trung Quốc liên hệ để đi tới vùng Đông Nam A, Án Độ, Trung Quốc, Trung Đông và Địa Trung Hai, Do đây những tăng lữ Phật giáo cũng chọn Luy Lâu làm nơi dừng chân truyền dao”. Ngoài Luy Lâu, còn có Long Biên (thuộc Hà Bac), Tư Phô, Lach Trường( thuộc Thanh Hóa) là những trung tâm chính trị, kiếm buôn bán thời kì này. Dé đạt được mục dich vận chuyển thuế khóa, vật cống, chính quyền đô hộ lo sửa đắp đường sá liên lạc giữa các miền cũng như giữa nước ta với Trung Quốc. Cửu Chân, Nhật Nam và Giao Chỉ từ thời Hán đã liên lạc thông thương với nhau.
Cudi thé ki I, con đường doc sông Thương sang Trung Quốc được xây đắp. Những con đường này được lợi dụng làm đường buôn bán giữa các quận và giữa nước ta với Trung Quốc. Giao Chi là nơi có nền nông nghiệp và thương nghiệp phát triển nên là trung tâm trao đỗi của dân buôn ở Cửu Chân và Hợp Phố. Gạo Cửu Chân được đưa sang Hợp Phé để đổi lấy ngọc trai.
Hương liệu quí của Cửu Chân, Nhật Nam cũng được đưa ra Giao Chi dé chuyén ra nước ngoài. ° Các con đường buôn bán chính trong và ngoài nước đều do người Hoa nắm giữ. Chính quyền đô hộ nắm độc quyển việc mua bán muối và sắt. Các đồng tiền cổ Trung Quốc cũng được lưu hành như đồng tiền bán lạng thời Tần, thời Cao Hậu.
vàng và bạc cũng được ding làm tiền.” Tuy vậy, dưới thời Bắc thuộc nền kinh tế Việt Nam vừa được thúc day, vừa bị kìm hãm (do tiếp xúc với một nền văn minh cao hơn nhưng lại bị bóc lột nặng nề). Với những san vật quý được ưa chuộng ở nhiều nước nền Việt Nam trở thành nơi ghé chân của các thương thuyền Trung Quốc đi phương xa và dan trở thành một thị trường với hai mục đích: Một là, để các lái buôn Trung Quốc đến bán hàng và mua hàng đi xa; Hai là, để các lái buôn Trung Quốc bán hàng của họ, mua của ta về nước họ hay buôn bán làm giàu tại chỗ.