Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thương mại nội ngành hàng nông sản Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng các yếu tố tác động đến thương mại nội ngành hàng nông sản giữa Việt Nam và APEC Chương 4: Giải pháp thúc đẩy thương mại nội ngành hàng nông sản giữa Việt Nam và APEC 13 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THƢƠNG MẠI NỘI NGÀNH HÀNG NÔNG SẢN 1. Lý luận về thương mại nội ngành 1. Khái niệm, cách đo lường và phân loại thương mại nội ngành a) Khái niệm Khái niệm về thương mại quốc tế Thương mại là hoạt động trao đổi của cải, hàng hóa, dịch vụ, kiến thức, tiền tệ v.v giữa hai hay nhiều đối tác và có thể nhận lại một giá trị nào đó (bằng tiền thông qua giá cả) hay bằng hàng hóa, dịch vụ khác như trong hình thức thương mại hàng đổi hàng. Trong quá trình này, người bán là người cung cấp của cải, hàng hóa, dịch vụ.
cho người mua, đổi lại người mua sẽ phải trả cho người bán một giá trị tương đương nào đó. Thương mại được hiểu là mua bán, kinh doanh hàng hóa. Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác [16]. Khái niệm thương mại được hiểu theo cả nghĩa hẹp nghĩa rộng.
Theo nghĩa hẹp, thương mại là quá trình mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường, là lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hóa, dịch vụ trên thị trường. Nếu hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ có một bên là nước ngoài thì gọi là thương mại quốc tế [9]. Theo nghĩa rộng, thương mại là toàn bộ các hoạt động kinh doanh trên thị trường, nhằm mục tiêu sinh lợi của các chủ thể kinh doanh. Thương mại quốc tế là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các chủ thể kinh tế có quốc tịch khác nhau (trong đó đối tượng trao đổi thường là vượt ra ngoài phạm vi địa lý của một quốc gia) thông qua hoạt động mua bán, lấy tiền tệ làm môi giới.
Hoạt động thương mại quốc tế ra đời sớm nhất trong các quan hệ kinh tế quốc tế và ngày nay nó giữ vị trí trung tâm trong các quan hệ kinh tế quốc tế [6]. Ngày nay khi nền kinh tế thế giới phát triển, ngoài sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ còn có sự trao đổi về vốn, nhân lực… Khái niệm về thương mại quốc tế đã được mở rộng hơn, bao gồm xuất nhập khẩu hàng hóa hữu hình, vô hình. Trong luận án này chỉ đề cập đến hoạt động thương mại quốc tế về xuất nhập khẩu hàng hóa hữu hình là các mặt hàng nông sản. 14 Hoạt động xuất khẩu là một hình thức cơ bản của thương mại quốc tế.
Trước đây khái niệm xuất khẩu chỉ đơn giản là việc bán hàng hóa, dịch vụ ra khỏi biên giới một quốc gia. Tuy nhiên ngày nay trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, khải niệm này được mở rộng ra, bao gồm cả việc bán hàng hóa, dịch vụ cho người nước ngoài ngay tại quốc gia đó. Như vậy, xuất khẩu là việc bán hàng hóa và dịch vụ của người cư trú cho người phi cư trú không tính đến địa điểm, có thể ở cùng một nước và cũng có thể ở các nước khác nhau. Hoạt động nhập khẩu là việc mua hàng hóa và dịch vụ của người cư trú cho người phi cư trú không tính đến địa điểm, có thể ở cùng một nước và cũng có thể ở các nước khác nhau [20].
Khái niệm về thương mại nội ngành Linder (1961) [68] nghiên cứu về thương mại hàng hóa giữa các nước có sự tương đồng với nhau đã phát hiện ra mối quan hệ: Các nước có cùng thu nhập bình quân đầu người tham gia vào sự trao đổi những hàng hóa “tương tự”. Thực tiễn cho thấy một phần đáng kể trong thương mại quốc tế thể hiện sự gia tăng các hoạt động thương mại các hàng hóa “tương tự” về phân loại hàng hóa giữa các quốc gia “tương tự” về điều kiện các yếu tố sản xuất, sau đó gọi là thương mại nội ngành (IIT). Từ đó đến nay, IIT gia tăng mạnh mẽ ở hầu hết các nước, bắt đầu từ các nước công nghiệp phát triển, nước có thu nhập cao rồi đến các nước có thu nhập thấp hơn. Theo Grubel và Lloyd (1975) [50], Krugman (1981) [61] chỉ ra IIT là việc mua và bán đồng thời các hàng hóa giống nhau hoặc tương tự nhau.
Nó có thể xảy ra trong cùng một ngành và có thể ở cùng một giai đoạn sản xuất hoặc có thể ở các giai đoạn sản xuất khác nhau. Theo Phan Anh Tú và các đồng nghiệp (2014) cho rằng IIT là việc đồng thời xuất khẩu và nhập khẩu những loại hàng hóa thuộc cùng một ngành hay là nhóm hàng theo phân loại tiêu chuẩn hàng hóa [27]. Tóm lại, IIT được định nghĩa là hoạt động của thương mại quốc tế, là việc đồng thời xuất khẩu và nhập khẩu các sản phẩm trong cùng một ngành hàng dựa trên phân cấp hàng hóa theo tiêu chuẩn phân loại hàng hóa quốc tế. b, Cách đo lường thương mại nội ngành Theo nghiên cứu của Grubel và Lloyd (1975) [50] giới thiệu cách đo lượng khối lượng IIT của ngành hàng i được xác định như sau: IITi X i + M i X i M i (1.1) 15 Trong đó: IITi là giá trị thương mại nội ngành của ngành hàng i Xi, Mi là kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu của ngành hàng i Một ngành có thể được hiểu là một nhóm các sản phẩm có những đặc điểm giống nhau, có thể được chọn ở một mức tổng hợp từ Danh mục phân loại hàng hóa nhất định tùy theo mục tiêu nghiên cứu và cơ sở dữ liệu có được.
Để so sánh mức độ IIT giữa các ngành hoặc giữa các quốc gia với nhau, chỉ số IIT được đưa ra sử dụng để thay thế giá trị khối lượng IIT. Trong công thức (1.2), chỉ số IIT được Balassa (1966) [35] đưa ra đầu tiên, tuy nhiên chỉ xem xét trong một mặt hàng hay ngành hàng và chỉ ra có sự chồng chéo trong thương mại: Xi Mi (1.2) Bi Xi Mi Trong đó: Bi là sự chồng chéo thương mại về một mặt hàng hoặc ngành hàng i Xi là kim ngạch xuất khẩu của một mặt hàng hoặc ngành hàng i Mi là kim ngạch nhập khẩu của một mặt hàng hoặc ngành hàng i Sau đó chỉ số được sử dụng phổ biến nhất để đo lường IIT là chỉ số Grubel và Lloyd (1975) (GL) [50]. Chỉ số này được coi là phương pháp đánh giá thích hợp về cơ cấu thương mại tại một thời kì. Chỉ số này được tính toán theo công thức sau: Xi Mi IITi 1 (1.3) (Xi Mi ) Trong đó: IIT là thương mại nội ngành của ngành hàng i Xi là kim ngạch xuất khẩu của ngành hàng i Mi là kim ngạch nhập khẩu của ngành hàng i Công thức (1.3) chỉ ra mức độ IIT trong tổng giá trị thương mại của một ngành hàng, chỉ số IIT nằm trong khoảng từ 0 đến 1.
Khi kim ngạch xuất khẩu bằng kim ngạch nhập khẩu, chỉ số này có giá trị bằng 1, toàn bộ giá trị thương mại là thương mại nội ngành, khi kim ngạch xuất khẩu hoặc nhập khẩu bằng 0, chỉ số này có giá trị bằng 0 thì IIT bằng 0 hay chỉ có thương mại một chiều. Nhược điểm lớn nhất trong việc sử 16 dụng chỉ số này là có thể đưa ra nhiều kết quả tính toán về mức độ IIT của một ngành nào đó, do việc xác định cách phân chia nhóm hàng hay ngành hàng. Khi việc xác định một ngành hàng càng rộng thì mức độ IIT của quốc gia đó càng lớn. Ngược lại một ngành nào đó được xác định càng hẹp thì mức độ IIT càng thấp.
Chỉ số IIT có thể tính cho nhiều ngành của một nước theo phương pháp bình quân gia quyền có trọng số (wi) là phần giá trị của ngành đó trong tổng giá trị thương mại. Sau đó Grubel và Lloyd (1975)[50] đưa ra chỉ số IIT điều chỉnh để đo lường mức độ IIT theo phương pháp bình quân gia quyền theo công thức (1.4) như sau: n X ijk M ijk IIT jk wijk 1 (1.4) ( X M ) ijk i 1 ijk Trong đó: IITjk là chỉ số về IIT giữa quốc gia j và quốc gia k Xijk là kim ngạch xuất khẩu ngành hàng i từ quốc gia j sang quốc gia k Mijk là kim ngạch nhập khẩu ngành hàng i từ quốc gia j sang quốc gia k n là số ngành hàng mà hai quốc gia trao đổi thương mại wijk là tỷ trọng XNK của ngành hàng i trong tổng kim ngạch XNK X M wijk n ijk ijk (1.5) (X M ) i 1 ijk ijk Chỉ số IIT có thể được tính trên cơ sở quan hệ song phương giữa hai quốc gia hoặc giữa một quốc gia với một nhóm các quốc gia khác trên thế giới. Phần lớn các nghiên cứu về IIT đều tính toán trên quan hệ song phương với kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu của quốc gia nghiên cứu và đối tác thương mại [27]. c) Phân loại thương mại nội ngành Sự xuất hiện của IIT là do sự khác biệt sản phẩm (Krugman 1979, Lancaster 1980).
Sự khác biệt sản phẩm xảy ra trong một tình huống mà các sản phẩm khác nhau hoặc gần giống nhau trong cùng một ngành hàng, có thể thay thế trong tiêu dùng hoặc sản xuất. Nếu cơ cấu cầu giữa hai quốc gia càng giống nhau thì khả năng IIT giữa hai quốc gia đó càng mạnh (Linder, 1961). Trong nhu cầu giống nhau giữa quốc gia và đa dạng sở thích giữa người tiêu dùng, sự khác biệt sản phẩm tạo ra IIT giữa các quốc gia. Sản phẩm khác biệt có thể phân biệt trong hai hình thức: sự khác biệt theo chiều 17 ngang (về thuộc tính khác nhau), sự khác biệt theo chiều dọc (về chất lượng khác nhau).
Để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng, các nhà sản xuất, nhà cung ứng phải cung cấp nhiều loại sản phẩm với mẫu mã, kích cỡ, công dụng,… khác nhau, nhưng do điều kiện và khả năng của mỗi quốc gia khác nhau nên họ chỉ có thể sản xuất hiệu quả một vài sản phẩm đặc trưng và để đáp ứng sở thích của các khách hàng buộc họ phải nhập khẩu từ nước ngoài, vì thế khác biệt hóa sản phẩm đã tạo nên IIT.