CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Hệ thống thoát nước Hệ thống thoát nước nói chung bao gồm cả hệ sông, kênh, rạch, hệ thống thoát nước đường phố, các công trình thủy lợi do con người tác động vào thiên nhiên tạo nên dòng chảy theoý muốn của mình để phục vụ cuộc sống. Ngập Là hiện tượng nước theo hệ thống thoát nước tràn lên mặt đường do hệ thống thoát nước không tải kịp lượng nước quá lớn bên trong. Các nguyên nhân gây ngập trong đô thị - Nguyên nhân khách quan: là nguyên nhân liên quan đến các diéu kiện tự nhiên như địa hình, khí hậu, thủy văn.
- Nguyên nhân chủ quan: là nguyên nhân liên quan đến các điều kiện xã hội như sự gia tăng dân số nhanh và sự hoạt động kém hiệu quả của hệ thống thoát nước đô thị. Phân loại ngập - Ngập do mưa. - Ngập do triều cường. - Ngập do tổng hợp các nguyên nhân.
Tuy nhiên, qua tìm hiểu chúng tôi nhận thấy ngập ở TP.HCM chủ yếu là do triểu cường kết hợp với các yếu tố khác. Thủy triểu Thủy triéu là một dang chuyển động của nước đại dương. Hing ngày toàn bộ mặt nước biển dâng lên hay hạ xuống một lần hoặc hai lần. Chu kì nâng lên hay ha SVTH : Nguyễn Thị Hòa Trang 9 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD : TS.
Dinh Thị Quynh Như xuống kéo dài 12h25' (nếu 2 lắn/ngày) hoặc 24h50' (nếu | lắn/ngày) phù hợp với chu kì chuyển động cuả Mặt Trăng chung quanh Trái Đất được một vòng. Nguyên nhân gây ra thủy triểu: Nguyên nhân gây ra thủy triểu rất phức tạp. Để đơn giản, ta giả thiết Trái Đất hình cấu nhấn có bao phủ một lớp nước. Lực hấp dẫn của Mặt Trăng tác dụng lên Trái Đất tại tâm của Trái Đất O và gây nên gia tốc hướng về phía Mặt Trăng 2=G— trongđóm ? r là khối lượng của Mặt Trăng và r là khoảng cách từ tâm Mặt Trăng đến tâm Trái Đất.
Rõ ràng đối với lớp nước ở vùng A (ở gần Mặt Trăng hơn) có gia tốc hút lớn hơn và ở vùng B có gia tốc bé hơn. m m EA=G ; #n = (r— R} (r+R} Trong đó R là bán kính của Trái Đất. SVTH : Nguyễn Thị Hòa Trang 10 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Dinh Thị Quỳnh Như Hiệu số gia tốc giữa vùng A và tâm O là : I l Aga = BA = 8o“ Gm (————— -—.t 2Gm R <<r nên Aga= ga - 8o Z————— được gọi là gia tốc thủy triểu.
Véctơ gia tốc này có hướng từ Trái Đất đến Mặt Trăng (hình) nên nước ở đây (vùng A) được nâng lên. Nếu tính gia tốc thủy triểu ở vùng B thì ta sẽ có: 2Gm Ag85s *- ~ 8o= nghĩa là véctơ gia tốc này có hướng ra xa Mặt Trăng, kết quả là nước ở vùng B cũng được nâng lên.Ắẳằ=—— Ầ —— _ SVTH : Nguyễn Thị Hòa Trang 11 Khóa Luận Tốt N GVHD : TS. Dinh nh Như ‘©: | C T Như vậy do lực hấp dẫn của Mặt Trăng mà lớp nước bao quanh Trái Đất có đạng elipxoit (hình). T Vì Mặt Trăng chuyển động quanh Trái Đất mỗi ngày khoảng 13” mà Trái Đất quay mỗi ngày một vòng nên thực ra mặt đất đã trượt dưới lớp nước, kết quả là mỗi nơi trên Mặt Đất đã lin lượt có nước lên và nước xuống (thủy triểu).
Di nhiên là Mặt Trời cũng gây ra thủy triều nhưng vì Mat Trời ở quá xa Trái Đất (so với Mặt Trăng) nên gia tốc thủy triểu do Mặt Trời gây ra nhỏ hơn gia tốc của Mặt Trăng trên hai lần. Phối hợp giữa gia tốc thủy triểu của Mat Trang và Mat Trời ta dễ dàng biết được thủy triểu lên xuống mạnh nhất vào các ngày không trăng và trăng tròn, yếu nhất vào các ngày huyền. Ngoài con nước lớn ròng hàng ngày, mỗi tháng còn có một lấn thủy triểu lên cao nhất (triều cường) và một lin thủy triểu xuống thấp nhất (tiểu kiệt) do Trái Đất còn ảnh hưởng sức hút của Mặt Trời nhưng yếu hơn Mặt Trăng vì ở xa. ———————-————— SVTH : Nguyễn Thị Hòa Trang 12 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD : TS.
Dinh Thị Quỳnh Như Triều cường xảy ra khi Mặt Trời, Trái Đất, Mật Trang đứng thẳng hàng. Điều này điễn ra vào ngày sóc là ngày không trăng hoặc ngày vọng là ngày trăng tròn. Triểu kiệt xảy ra khi Trái Đất nằm vuông góc với Mặt Trời, Mặt Trăng. Điều này diễn ra vào các ngày huyền, trăng nửa vành.
Một số thuật ngữ liên quan đến thủy triểu. Chế độ nhật triểu đều: Các địa phương có chế độ nhật triểu là trong một ngày có một lần nước lên và một lần nước xuống và với ngày nhật triểu chiếm tới 95% hàng tháng. + Chế độ nhật triểu không đều: Tại các địa phương này trong ngày có một lan triểu lên và một lan triểu xuống nhưng cũng có ngày có hai lần triểu lên và hai lan triểu xuống nhưng tính chung cả tháng số ngày nhật triểu vẫn chiếm da số từ 50-70%. Chế độ bán nhật triéu đều: trong một ngày có hai lần triểu lên và hai lần triểu xuống.
«Ổ Chế độ bán nhật triểu không đều: trong một ngày có hai lan triểu lên và hai lần triểu xuống. Cũng có ngày có | lần triểu lên và một lẫn triểu xuống nhưng số ngày có hai lần triểu lên và hai lần triểu xuống trong một ngày vẫn chiếm đa số. 2 Nước lớn: vị tri cao nhất của mực nước biển trong một chu kì dao động triểu (có nơi gọi là đỉnh triều). « Nước ròng: vị trí thấp nhất của mực nước biển trong một chu kì dao động wiéu (có nơi gọi là chân triều).
Nếu trong ngày có hai lần nước lớn hai lần nước ròng (toàn bộ khu vực TP.HCM và một số vùng phụ cận) thì phân biệt nước lớn cao (NLC), nước lớn thấp (NLT) và nước ròng cao (NRC) và nước ròng thấp (NRT). SVTH : Nguyễn Thị Hòa Trang 13 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Dinh Thị Quynh Như * _ Thời gian triểu dâng : là khoảng thời gian từ lúc nước ròng đến lúc nước lớn kế tiếp. Thời gian triểu rút: là khoảng thời gian từ lúc nước rút đến nước ròng kế tiếp.
Kỳ nước cường và ky nước kém : cứ trong khoảng nửa tháng có 3-5 ngày triểu lên xuống mạnh (lên rất cao, xuống rất thấp) gọi là kỳ nước cường, sau đó triểu giảm dần kéo dài từ 5-6 ngày, tiếp đó là 3-5 ngày triểu lên xuống rất yếu gọi là kỳ nước kém. SVTH : Nguyễn Thị Hòa Trang 14 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD : TS. Dinh Thị Quỳnh Như CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN VỀ TP. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ: TP.HCM nằm trong vùng miễn Đông Nam Bộ (MĐNB), ở vị trí vừa là nơi tiếp giáp với đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), vừa là cửa ngõ từ biển vào đất liên để từ đó tỏa đi khắp nước.HCM có diện tích tự nhiên 2 090 kmỶ, phía Bắc giáp các tỉnh Đồng Nai và Bình Dương, phía Tây giáp các tỉnh Tây Ninh va Long An, phía Đông giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và biển Đông, phía Nam giáp Long An.
Toàn bộ thành phố có hình dạng như một cây nấm, chân là huyện Cần Giờ và đỉnh là huyện Củ Chi, với chiéu rộng trung bình 15km (nơi rộng nhất 5Okm-từ Thủ Đức qua Bình Chánh, và nơi hẹp nhất 6,5 km-ngang mũi Nhà Bè), chiểu dài theo đường chim bay từ Cẩn Giờ đến Củ Chi là 100 km, từ 10°22’ đến 11°31'vi độ Bắc, từ 106°22° đến 10701" kinh độ Đông. ĐẶC ĐIỂM HÀNH CHÍNH Trước đây TP.HCM có 12 quận nội thành gồm các quan I, 3, 4, 5, 6, 8, 10, 11, Gò Vấp, Phú nhuận, Bình Thạnh, Tân Bình với 182 phường và 6 huyện ngoại thành: Củ Chi, Hóc Môn, Thủ Đức, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ với 100 xã và thị trấn. Đến tháng 4/1997, TP.HCM thành lập năm quận mới tách ra từ các huyện ngoại thành là các quận 2,9,7,12 và Thủ Đức với 66 phường. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN: 2.
Địa chất — Địa hình: Địa hình TP.HCM phan lớn là bằng phẳng, thấp, có một ít dạng đổi gd ở phía Bắc và Đông Bắc, với độ cao giảm dan theo hướng Đông Nam. SVTH : Nguyễn Thị Hòa Trang 15 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD : TS. Dinh Thị Quỳnh Như Địa chất TP.HCM khá phức tạp, trên các vùng đất cao gò đổi là các thành tạo phù sa cổ, tại các vùng bằng phẳng thấp là các thành tạo phù sa trẻ, còn ở các vùng thấp và ven biển là các thành tạo phù sa sông và biển hiện đại. Trong phạm vi thành phố có những hiện tượng địa hình - địa chất công trình đáng chú ý như: rửa trôi bể mặt, mương xói diễn ra ở vùng có địa hình cao và dốc (Thủ Đức, Củ Chi, Hóc Môn), hiện tượng lún ướt ở nơi có ting xám (Thủ Đức, Củ Chí, Hóc Môn, Tân Bình, quận 3, Quận 10), lầy hoá ở những nơi trũng thấp thường xuyên ngập úng (Nhà Bè, Thủ Đức, Bình Chánh), xói lở bờ sông và bờ biển (một phân kênh rạch Nhà Bè).
Thổ nhưỡng: Tiểm năng đất đai trên địa bàn thành phố có nhiéu hạn chế về diện tích và phẩm chất, ngoại trừ phẩn nội thành, phần ngoại thành có thể chia thành các nhóm chính sau: Nhóm đất phèn trung bình và phèn nhiều: chiếm 21,5% trên tổng số diện tích, phân bố ở các vùng trũng thấp, tiêu thoát nuớc kém ở Nam Bình Chánh, Nhà Bè, ven sông Déng Nai, Sài Gòn và Bắc Cần Giờ. Đối với loại đất trung bình hiện nay phát triển cây lúa, còn loại phèn nhiều hay phèn mặn tùy theo mức độ cải tạo đang phát triển các loại cây mía, thơm, lic. Nhóm đất phù sa: không hoặc ít bị nhiễm phèn chiếm 12,6% phân bố chủ yếu ở vùng giữa của Nam Bình Chánh và một số nơi ở Củ Chi, Hóc Môn. Đây là nhóm đất thuận lợi cho việc phát triển cây lúa, trong đó có loại phù sa ngọt chiếm khoảng 2,5% (5.222ha) cho năng suất lúa rất cao.
Nhóm đất xám phát triển trên phù sa cổ : chiếm khoảng 19.3% phân bố chủ yếu ở vùng đất cao, gò đổi ở Củ Chi, Hóc Môn, Thủ Đức và Bắc Bình Chánh. Nhóm đất này thích hợp cho việc phát triển cây công nghiệp ngắn ngày và rau đậu. Nhóm đất mặn: chiếm 12.2% phân bố ở Cần Giờ, chủ yếu dùng cho việc trồng rừng, đặc biệt là cây đước. SVTH : Nguyễn Thị Hòa Trang 16 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD : TS.
Dinh Thị Quỳnh Như Ngoài ra còn các nhóm đất khác đất khác như đất đỏ vàng chiếm 15% phân bố trên vùng đổi gò ở Củ Chỉ Và Thủ Đức dùng cho việc xây dựng cơ bản: nhóm đất cồn cát, đất cát biển chiếm 3,2% và các loại đất khác, sông suối chiếm 23,7%.