Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, các quan hệ pháp luật dân sự, kinh tế, thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình ngày càng gia tăng về quy mô và tính chất phức tạp. Sự phát triển đa chiều này làm phát sinh nhiều tranh chấp về quyền và lợi ích hợp pháp giữa các chủ thể, từ đó tạo ra nhu cầu cấp thiết đối với các loại hình dịch vụ pháp lý và bổ trợ tư pháp như Luật sư, Công chứng, Giám định tư pháp, Trọng tài thương mại và Thừa phát lại.

Chế định Thừa phát lại được tái lập thông qua chủ trương xã hội hóa một số công việc thi hành án dân sự theo Nghị quyết số 24/2008/QH12 ngày 14/11/2008 của Quốc hội khóa XII. Quá trình triển khai trải qua các giai đoạn:

  • Giai đoạn thí điểm ban đầu (2010–2012): Tháng 5/2010, 05 văn phòng Thừa phát lại đầu tiên được thành lập tại Thành phố Hồ Chí Minh (Quận 1, Quận 5, Quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình), sau đó tăng lên 8 văn phòng vào năm 2012.
  • Giai đoạn mở rộng thí điểm (2012–2015): Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội và Quyết định số 1531/QĐ-BTP ngày 24/6/2013 của Bộ Tư pháp cho phép mở rộng phạm vi thí điểm đến 12 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Định, Đồng Nai, Bình Dương, Tiền Giang, An Giang, Vĩnh Long).
  • Giai đoạn thực hiện chính thức toàn quốc (từ 01/01/2016 đến nay): Được Quốc hội khóa XIII thông qua tại Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015. Đến thời điểm tác giả khảo sát dữ liệu (2023), cả nước đã có 186 văn phòng Thừa phát lại đi vào hoạt động.

Trong 04 chức năng của Thừa phát lại (tống đạt văn bản; lập vi bằng; xác minh điều kiện thi hành án; trực tiếp tổ chức thi hành án), hoạt động lập vi bằng là mảng công việc mang lại hiệu quả thực tiễn cao nhất và tạo nguồn thu chủ yếu cho các văn phòng. Riêng giai đoạn từ 01/01/2016 đến 31/7/2016, các văn phòng Thừa phát lại trên toàn quốc đã lập được 18.196 vi bằng, đạt doanh thu hơn 20,4 tỷ đồng. Tuy nhiên, hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động lập vi bằng vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập giữa lý luận, quy định thực định và thực tiễn tố tụng.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận:

  1. Phân tích các vấn đề lý luận và hệ thống hóa quy định pháp luật về hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại.
  2. Chỉ ra những vướng mắc, bất cập trong các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng hoạt động lập vi bằng tại Việt Nam.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại, hệ thống quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động này và thực tiễn thi hành.
  • Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung chuyên sâu vào chức năng lập vi bằng của Thừa phát lại tại Việt Nam theo khung khổ Nghị định số 08/2020/NĐ-CP và pháp luật tố tụng dân sự. Đề tài không đi sâu vào nghiệp vụ công chứng hay chứng thực nhưng có sử dụng phương pháp đối chiếu, so sánh để làm rõ bản chất pháp lý của vi bằng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung pháp lý và khái niệm nền tảng

Khóa luận xây dựng lập luận dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định và các thuật ngữ khoa học pháp lý:

  • Thừa phát lại: Căn cứ khoản 1 Điều 2 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, Thừa phát lại là người có đủ tiêu chuẩn được Nhà nước bổ nhiệm để thực hiện tống đạt, lập vi bằng, xác minh điều kiện thi hành án dân sự, tổ chức thi hành án dân sự.
  • Vi bằng: Căn cứ khoản 3 Điều 2 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, vi bằng là văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi có thật do Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến, lập theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật.
  • Văn bản pháp luật nền tảng: Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015), Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015), Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại, Luật Công chứng năm 2014, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch, và Công văn số 415/BTP-TCTHA ngày 28/01/2011 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số nội dung lập vi bằng.

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được thực hiện dựa trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng, kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:

  • Phương pháp phân tích: Sử dụng xuyên suốt từ Chương 1 đến Chương 3 để làm rõ các khái niệm lý luận, cấu trúc các quy phạm pháp luật thực định và phân tích các trường hợp áp dụng trên thực tế.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu:
    • So sánh hoạt động lập vi bằng với hoạt động công chứng (Luật Công chứng 2014) và chứng thực (Nghị định 23/2015/NĐ-CP).
    • So sánh lịch sử thể chế Thừa phát lại tại Việt Nam qua hai giai đoạn: trước 30/4/1975 và từ 30/4/1975 đến nay.
    • So sánh pháp luật quốc tế về chế định Thừa phát lại tại các quốc gia thuộc hệ thống Dân luật (Cộng hòa Pháp, Vương quốc Bỉ, Vương quốc Maroc) và hệ thống Thông luật (Anh - Mỹ).
  • Phương pháp tổng hợp: Tổng kết các đặc điểm lý luận, hệ thống hóa các vướng mắc thực tiễn và xây dựng hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật ở cuối mỗi chương.

Nguồn dữ liệu nghiên cứu

  • Dữ liệu sơ cấp: Các bản án dân sự thực tế (như Bản án số 137/2017/DS-ST của TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương; các vụ việc giải quyết tranh chấp hợp đồng đặt cọc, đòi nợ tại TP.HCM); các hồ sơ xử lý vi phạm hành chính (vụ việc tạm đình chỉ hoạt động Văn phòng Thừa phát lại quận Gò Vấp và huyện Hóc Môn năm 2018).
  • Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo tổng kết thi hành chế định Thừa phát lại của Bộ Tư pháp các năm 2014, 2016; danh mục văn phòng Thừa phát lại đăng tải trên Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp; các công trình nghiên cứu cấp Bộ, luận văn thạc sĩ và sách chuyên khảo của các tác giả Nguyễn Đức Chính, Vũ Hoài Nam, TS. Lê Thu Hà.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận chung về hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại

Chương 1 làm rõ các nội dung cơ bản về bản chất pháp lý, đặc điểm, ý nghĩa lịch sử và kinh nghiệm quốc tế:

  1. Bản chất và 04 đặc điểm cốt lõi của hoạt động lập vi bằng:

    • Là hoạt động bổ trợ tư pháp: Đóng vai trò tạo lập chứng cứ giúp Tòa án giải quyết vụ việc nhanh chóng, hỗ trợ luật sư thu thập tài liệu chứng minh, hỗ trợ công chứng viên ghi nhận toàn bộ quá trình giao kết và giúp các bên giải quyết bất đồng ngoài tố tụng.
    • Do Thừa phát lại trực tiếp thực hiện: Thừa phát lại phải đích thân có mặt tại hiện trường, trực tiếp chứng kiến toàn bộ hành vi, sự kiện và chịu trách nhiệm duy nhất về tính xác thực của vi bằng; không được ủy quyền hay giao khoán cho thư ký nghiệp vụ.
    • Được tiến hành theo trình tự, thủ tục luật định: Trải qua quy trình nghiêm ngặt gồm tiếp nhận yêu cầu, ký hợp đồng dịch vụ thỏa thuận, thực hiện lập vi bằng, bàn giao, đăng ký tại cơ quan quản lý và lưu trữ hồ sơ.
    • Vi bằng phải được đăng ký tại Sở Tư pháp: Đây là thủ tục bắt buộc trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày lập, nhằm xác lập thời điểm và hỗ trợ Nhà nước kiểm soát tính hợp thức của hoạt động lập chứng cứ.
  2. Ý nghĩa của hoạt động lập vi bằng:

    • Là công cụ pháp lý giúp cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong các giao dịch và tại Tòa án.
    • Là phương thức xác lập và lưu giữ chứng cứ khách quan, giải quyết tình trạng thiếu hụt nguồn chứng cứ trước khi bước vào quá trình tố tụng.
  3. Lịch sử hình thành và phát triển của chế định tại Việt Nam:

    • Giai đoạn trước 30/4/1975: Xuất hiện từ thời phong kiến dưới dạng công việc phát trát, sau đó được thể chế hóa thời Pháp thuộc dưới các tên gọi Chưởng tòa (miền Bắc), Mõ tòa (miền Trung), Thừa phát lại (miền Nam) theo mô hình Huissier của Pháp. Sau Cách mạng tháng Tám, Sắc lệnh ngày 10/10/1945 và Sắc lệnh số 130/SL ngày 19/7/1946 tiếp tục duy trì chế định này. Đến ngày 22/5/1950, Sắc lệnh số 85/SL về cải cách bộ máy tư pháp đã kết thúc chức danh Thừa phát lại ở miền Bắc. Tại miền Nam trước 1975, chế định được quy định rất chi tiết (Bộ luật Dân sự và thương sự tố tụng năm 1972 có 41 Điều đề cập đến Thừa phát lại, 22 Điều về vi bằng); vi bằng thời kỳ này có giá trị "công chứng thư", đương nhiên được Tòa án công nhận trừ khi bị chứng minh là giả mạo.
    • Giai đoạn từ 30/4/1975 đến nay: Chế định bị xóa bỏ trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung và chính thức được khôi phục thí điểm từ năm 2010, mở rộng năm 2013 và áp dụng toàn quốc từ năm 2016.
  4. Kinh nghiệm quốc tế:

    • Cộng hòa Pháp: Thừa phát lại có 3 nhóm chức năng (độc quyền, không độc quyền, phụ trợ). Từ tháng 12/2010, vi bằng có giá trị chứng cứ trừ khi bị bác bỏ bởi chứng cứ khác có sức thuyết phục hơn. Chi phí lập vi bằng do các bên tự do thỏa thuận.
    • Vương quốc Bỉ: Căn cứ Điều 519 Luật Tư pháp Bỉ, Thừa phát lại lập vi bằng ghi nhận các sự kiện thuần túy mang tính chất vật chất theo yêu cầu của Tòa án hoặc cá nhân, không đưa ra đánh giá pháp lý hay nhận định nguyên nhân - hậu quả.
    • Vương quốc Maroc: Đạo luật ngày 25/12/1980 quy định Thừa phát lại lập vi bằng theo yêu cầu của Tòa án hoặc tư nhân, có giá trị chứng cứ cho đến khi có tài liệu đối kháng thuyết phục hơn.
    • Nhóm nước Thông luật (Anh - Mỹ): Không giao chức năng lập vi bằng cho Thừa phát lại mà chỉ tập trung vào tống đạt, thi hành án và giữ trật tự tại phiên tòa.

Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại

Chương 2 phân tích cụ thể các điều khoản thực định của Nghị định số 08/2020/NĐ-CP và các văn bản liên quan:

  1. Thẩm quyền và tiêu chuẩn Thừa phát lại:

    • Tiêu chuẩn: Là công dân Việt Nam, phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, công tác ngành luật trên 05 năm (hoặc từng giữ các chức danh tư pháp như Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư, Chấp hành viên, Công chứng viên, Điều tra viên từ trung cấp trở lên), hoàn thành khóa tập huấn nghề và do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm.
    • Thẩm quyền vụ việc và lãnh thổ: Thừa phát lại được lập vi bằng ghi nhận các sự kiện, hành vi có thật theo yêu cầu trong phạm vi toàn quốc (Điều 36 Nghị định 08/2020/NĐ-CP). Các trường hợp phổ biến được hướng dẫn tại Công văn số 415/BTP-TCTHA (ghi nhận hiện trạng nhà liền kề trước khi xây dựng, hiện trạng tài sản trước ly hôn/thừa kế, giao nhận tiền/thông báo, cuộc họp Đại hội đồng cổ đông, hành vi vi phạm trên không gian mạng, vi tính...).
  2. Các trường hợp cấm lập vi bằng:

    • Lập vi bằng liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân và người thân thích (vợ, chồng, con đẻ, con nuôi, cha mẹ, ông bà, anh chị em ruột, cô dì chú bác cháu ruột...) theo khoản 4 Điều 4 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP.
    • Vi phạm quy định về bảo đảm an ninh, quốc phòng (Điều 37 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP).
    • Vi phạm đời tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình hoặc các trường hợp chuyển giao quyền sở hữu tài sản trái quy định pháp luật về công chứng, chứng thực.
  3. Trình tự, thủ tục lập, đăng ký và cấp bản sao vi bằng:

    • Trình tự thực hiện: Tiếp nhận yêu cầu -> Ký hợp đồng dịch vụ thỏa thuận lập vi bằng -> Tiến hành trực tiếp lập vi bằng (phân loại thành vi bằng đơn giản ký ngay tại chỗ và vi bằng phức tạp cần chụp ảnh, ghi âm, đo đạc, lập biên bản trước khi hoàn thiện văn bản) -> Đăng ký vi bằng.
    • Đăng ký tại Sở Tư pháp: Văn phòng Thừa phát lại nộp 01 bản chính đến Sở Tư pháp nơi đặt trụ sở trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày lập. Trong thời hạn 02 ngày làm việc nhận hồ sơ, Sở Tư pháp phải vào sổ đăng ký hoặc từ chối bằng văn bản nếu phát hiện sai phạm về thẩm quyền, phạm vi.
    • Số lượng và cấp bản sao: Vi bằng lập thành 03 bản chính (01 bản giao người yêu cầu, 01 bản gửi Sở Tư pháp, 01 bản lưu trữ 20 năm tại văn phòng). Chi phí cấp bản sao theo khoản 2 Điều 42 Nghị định 08 là 5.000 đồng/trang đối với 02 trang đầu, từ trang thứ 3 trở đi là 3.000 đồng/trang.
  4. Hiệu lực pháp lý của vi bằng và thực tiễn xét xử:

    • Căn cứ khoản 3 Điều 36 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP và khoản 9 Điều 94 BLTTDS 2015, vi bằng là nguồn chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ việc dân sự và là căn cứ thực hiện các giao dịch hợp pháp.
    • Tại Tòa án, vi bằng chỉ trở thành chứng cứ khi đáp ứng đủ 3 thuộc tính: tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp (Điều 93, 95 BLTTDS 2015).
    • Khóa luận viện dẫn các án lệ và bản án thực tế: Bản án số 137/2017/DS-ST ngày 25/9/2017 của TAND TP. Thủ Dầu Một (Bình Dương) sử dụng Vi bằng số 98/VB-TPL ghi nhận việc bên bán không đến văn phòng công chứng để phạt cọc; Vi bằng số 297/2016/VB-TPLQ.TĐ ngày 25/5/2016 ghi nhận việc thanh toán tiền nợ thuê và kiểm kê tài sản văn phòng tại Quận 4, TP.HCM.
  5. Tranh chấp liên quan đến hoạt động lập vi bằng:

    • Tranh chấp hợp đồng dịch vụ lập vi bằng: Giải quyết theo khoản 3 Điều 26 BLTTDS 2015.
    • Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: Do Thừa phát lại gây ra cho bên thứ ba trong quá trình tác nghiệp (khoản 6 Điều 26 BLTTDS 2015 và khoản 1 Điều 584 BLDS 2015).
    • Tranh chấp về giá trị pháp lý của vi bằng: Trường hợp bên thứ ba khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố vi bằng vô hiệu/không có giá trị pháp lý do vi phạm điều cấm (như xâm phạm bí mật đời tư) – dạng tranh chấp này hiện chưa được BLTTDS quy định cụ thể về thẩm quyền thụ lý.
  6. Phân biệt vi bằng với các hoạt động xác lập chứng cứ khác:

Tiêu chí so sánh Hoạt động lập vi bằng (Thừa phát lại) Hoạt động công chứng hợp đồng, giao dịch (Công chứng viên) Hoạt động chứng thực chữ ký, hợp đồng (UBND cấp xã/Phòng Tư pháp)
Chủ thể thực hiện Duy nhất Thừa phát lại (được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm). Công chứng viên (phải qua đào tạo, tập sự nghề công chứng). Chủ tịch/Phó Chủ tịch UBND cấp xã, Trưởng/Phó Phòng Tư pháp.
Đối tượng tác nghiệp Mọi hành vi, sự kiện thực tế có thật diễn ra trực tiếp trước mắt Thừa phát lại (trừ điều cấm). Hợp đồng, giao dịch dân sự, kinh tế bằng văn bản theo luật định hoặc tự nguyện. Hành vi ký tên, điểm chỉ vào văn bản, giấy tờ; các hợp đồng, giao dịch đơn giản.
Nội dung văn bản Mô tả trung thực diễn biến sự kiện, hành vi thực tế; không đánh giá tính hợp pháp. Chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của nội dung giao dịch và năng lực chủ thể. Xác nhận chữ ký là của người yêu cầu; xác nhận thời gian, địa điểm giao kết.
Giá trị pháp lý Là nguồn chứng cứ để Tòa án đánh giá; là căn cứ thực hiện giao dịch dân sự. Có giá trị chứng cứ không phải chứng minh và có giá trị thi hành đối với các bên. Có giá trị chứng cứ chứng minh về thời gian, địa điểm, chủ thể ký kết văn bản.
Tài liệu kèm theo Thường xuyên đính kèm hình ảnh, video, tập tin âm thanh, biên bản đo đạc. Không đính kèm dữ liệu nghe nhìn, chỉ đóng dấu giáp lai hồ sơ văn bản. Chỉ đóng dấu giáp lai vào văn bản được chứng thực.
Phí dịch vụ Thỏa thuận theo khung giá văn phòng niêm yết công khai. Thu theo biểu phí cố định do Bộ Tài chính quy định + thù lao thỏa thuận. Thu theo mức lệ phí cố định theo Thông tư số 226/2016/TT-BTC (từ 10.000 đồng).
Lưu trữ hồ sơ 20 năm tại Văn phòng Thừa phát lại và lưu tại Sở Tư pháp khi đăng ký. 20 năm tại tổ chức hành nghề công chứng và cơ sở dữ liệu công chứng. 02 năm đối với chữ ký thông thường; 20 năm đối với hợp đồng, giao dịch.

Chương 3: Thực tiễn thực hiện hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại tại một số tỉnh/thành phố và những bất cập, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hoạt động lập vi bằng

  1. Thực tiễn thực hiện và các tồn tại:

    • Hoạt động lập vi bằng phát triển nhanh chóng tại các đô thị lớn (TP.HCM, Hà Nội, Bình Dương, Hải Phòng), hỗ trợ đắc lực cho hoạt động xét xử và giao lưu dân sự.
    • Tồn tại sai phạm trong nghiệp vụ: Một số Thừa phát lại cố tình lập vi bằng "mua bán nhà đất bằng giấy tay", vi phạm điều cấm của pháp luật đất đai, dẫn đến việc cơ quan quản lý nhà nước phải áp dụng chế tài xử phạt và tạm đình chỉ hoạt động đối với Văn phòng Thừa phát lại quận Gò Vấp và Văn phòng Thừa phát lại huyện Hóc Môn vào năm 2018.
  2. Các vướng mắc, bất cập:

    • Về thể chế văn bản: Hoạt động Thừa phát lại là nghề bổ trợ tư pháp quan trọng nhưng văn bản điều chỉnh cao nhất mới dừng lại ở Nghị định của Chính phủ, chưa được nâng lên thành Luật.
    • Về giá trị chứng cứ: Quy định vi bằng vừa là "nguồn chứng cứ" vừa là "chứng cứ" gây lúng túng cho Thẩm phán khi đánh giá chứng cứ trong giai đoạn xét xử sơ thẩm.
    • Về thủ tục đăng ký tại Sở Tư pháp: Tồn tại xung đột quan điểm: Sở Tư pháp chỉ nên kiểm tra thủ tục hành chính hay phải thẩm định nội dung vi bằng. Thực tế Sở Tư pháp không trực tiếp chứng kiến sự kiện nên không thể chịu trách nhiệm về nội dung vi bằng.
    • Về quy định tố tụng giải quyết tranh chấp: BLTTDS 2015 chưa có điều khoản chuyên biệt quy định trình tự, thẩm quyền thụ lý đối với yêu cầu tuyên bố vi bằng vô hiệu.
  3. Hệ thống kiến nghị hoàn thiện:

    • Xây dựng và ban hành Luật Thừa phát lại nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc.
    • Sửa đổi, bổ sung BLTTDS để chuẩn hóa khái niệm vi bằng là một loại nguồn chứng cứ độc lập, quy định rõ thẩm quyền hủy bỏ vi bằng có vi phạm pháp luật.
    • Cải cách thủ tục đăng ký vi bằng tại Sở Tư pháp theo hướng chuyển dịch dần sang đăng ký trực tuyến, phân định rõ Sở Tư pháp chỉ kiểm tra hình thức và thời hạn, trách nhiệm nội dung thuộc về Thừa phát lại.
    • Thành lập Tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Thừa phát lại Việt Nam (Liên đoàn Thừa phát lại) nhằm tăng cường giám sát đạo đức nghề nghiệp và đào tạo nghiệp vụ chuyên sâu.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  • Hệ thống hóa toàn diện các số liệu chính thức về quá trình hình thành và phát triển của chế định Thừa phát lại tại Việt Nam: từ 05 văn phòng ban đầu (2010) lên 08 văn phòng (2012), mở rộng ra 12 tỉnh (2013), áp dụng toàn quốc (2016) và đạt quy mô 186 văn phòng (2023).
  • Ghi nhận kết quả thực tiễn: 18.196 vi bằng được lập trong 7 tháng đầu năm 2016 với doanh thu hơn 20,4 tỷ đồng, khẳng định vị trí chủ đạo của chức năng lập vi bằng trong tổng thể 04 chức năng của Thừa phát lại.
  • Xây dựng ma trận so sánh pháp lý chi tiết giữa hoạt động lập vi bằng, công chứng hợp đồng/giao dịch và chứng thực.

Đóng góp về mặt học thuật và lập pháp

  • Khẳng định bản chất vi bằng dưới góc độ tố tụng dân sự là một loại nguồn chứng cứ đặc thù mang tính bổ trợ tư pháp, phân tích rõ cơ chế chuyển hóa từ nội dung ghi nhận trong vi bằng thành chứng cứ hợp pháp trước Tòa án.
  • Phân loại rõ ràng 03 dạng tranh chấp pháp lý phát sinh từ hoạt động lập vi bằng, chỉ ra khoảng trống lập pháp trong BLTTDS năm 2015 đối với việc giải quyết yêu cầu hủy bỏ hoặc bác bỏ giá trị pháp lý của vi bằng.
  • Đề xuất các căn cứ khoa học phục vụ cho quá trình lập pháp, đặc biệt là định hướng chuyển đổi hình thức đăng ký vi bằng và xây dựng Luật Thừa phát lại trong tương lai.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu của khóa luận tập trung độc lập vào hoạt động lập vi bằng, không phân tích sâu 03 chức năng còn lại (tống đạt, xác minh điều kiện thi hành án và tổ chức thi hành án). Nguồn số liệu thực tiễn và các bản án sơ thẩm được trích xuất chủ yếu từ địa bàn các tỉnh phía Nam và Hà Nội, chưa phản ánh đồng đều tình hình tại toàn bộ 186 văn phòng trên cả nước.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Khảo sát toàn diện mối quan hệ tương hỗ giữa cả 04 chức năng của Thừa phát lại sau khi Nghị định số 08/2020/NĐ-CP được sửa đổi hoặc thay thế; nghiên cứu mô hình quản lý số hóa cơ sở dữ liệu vi bằng tập trung trên phạm vi toàn quốc và xây dựng quy tắc đạo đức nghề nghiệp Thừa phát lại.

Giá trị tham khảo

  • Đối với sinh viên và học viên luật: Tài liệu cung cấp hệ thống lý luận, văn bản pháp luật và các bảng so sánh mẫu chuẩn xác phục vụ học phần Luật Tố tụng Dân sự, Luật Dân sự và Kỹ năng hành nghề luật.
  • Đối với Thừa phát lại và Thư ký nghiệp vụ: Cung cấp tài liệu tham khảo về kỹ năng nhận diện phạm vi thẩm quyền lập vi bằng, các điều cấm cần tránh, kỹ thuật xử lý hồ sơ vi bằng phức tạp và quy trình đăng ký tại Sở Tư pháp.
  • Đối với Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Luật sư: Làm rõ căn cứ đánh giá tính hợp pháp, tính khách quan của vi bằng trong giai đoạn thu thập, kiểm tra và sử dụng chứng cứ giải quyết các vụ án dân sự, kinh doanh thương mại.

Câu hỏi thường gặp

1. Vi bằng do Thừa phát lại lập có giá trị pháp lý như thế nào trong vụ án dân sự?

Căn cứ khoản 3 Điều 36 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP và khoản 9 Điều 94 BLTTDS 2015, vi bằng là nguồn chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ việc. Khi được đưa vào quá trình tố tụng, nếu vi bằng được lập đúng trình tự, thủ tục luật định và đáp ứng đủ 3 thuộc tính (tính khách quan, tính liên quan, tính hợp pháp) theo Điều 93 và Điều 95 BLTTDS 2015 thì các tình tiết, sự kiện ghi nhận trong vi bằng sẽ trở thành chứng cứ làm căn cứ ra phán quyết.

2. Thừa phát lại có được ủy quyền cho Thư ký nghiệp vụ thực hiện việc lập vi bằng không?

Không. Căn cứ khoản 1 Điều 39 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, việc lập vi bằng phải do chính Thừa phát lại trực tiếp thực hiện. Thư ký nghiệp vụ chỉ được thực hiện các công việc trợ giúp kỹ thuật như chụp hình, quay phim, đo đạc, ghi chép hoặc soạn thảo văn bản dưới sự chứng kiến trực tiếp của Thừa phát lại. Thừa phát lại không được ký vào vi bằng đối với các sự kiện mà mình không trực tiếp có mặt chứng kiến.

3. Thời hạn đăng ký vi bằng tại Sở Tư pháp được quy định ra sao?

Căn cứ Điều 39 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP:

  • Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày lập vi bằng, văn phòng Thừa phát lại phải gửi 01 bản chính đến Sở Tư pháp nơi đặt trụ sở để đăng ký.
  • Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được vi bằng, Sở Tư pháp có trách nhiệm vào sổ đăng ký vi bằng hoặc từ chối bằng văn bản nếu phát hiện vi bằng lập sai thẩm quyền, phạm vi.

4. Chi phí cấp bản sao vi bằng được tính như thế nào?

Theo quy định tại khoản 2 Điều 42 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, mức phí cấp bản sao vi bằng do văn phòng Thừa phát lại đang lưu trữ bản chính thực hiện được ấn định:

  • 5.000 đồng/trang đối với 02 trang đầu tiên.
  • 3.000 đồng/trang tính từ trang thứ 03 trở đi.

5. Hoạt động lập vi bằng khác biệt căn bản nhất với hoạt động công chứng ở điểm nào?

Điểm khác biệt căn bản nhất là về nội dung và giá trị: Công chứng viên chứng nhận tính hợp pháp và xác thực của nội dung hợp đồng, giao dịch (có giá trị thi hành), trong khi Thừa phát lại chỉ ghi nhận trung thực các sự kiện, hành vi thực tế có thật diễn ra trước mắt mà không xác nhận hay đánh giá tính hợp pháp của giao dịch đó (chỉ có giá trị làm nguồn chứng cứ).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thu Uyên đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, tiến trình lịch sử và quy định pháp luật thực định về hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích chuyên sâu Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, đối chiếu pháp luật quốc tế và các bản án thực tiễn, công trình đã chỉ rõ những bất cập về giá trị chứng cứ, thẩm quyền đăng ký và cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan đến vi bằng. Các giải pháp được đề xuất trong khóa luận mang tính khả thi cao, đóng góp cơ sở khoa học thiết thực cho quá trình hoàn thiện thể chế bổ trợ tư pháp và định hướng xây dựng Luật Thừa phát lại trong tương lai.