CHƯƠNG 1: NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE GIAO DỊCH DÂN SỰ CÓ DIEU KIEN 1.1 Khái niệm và đặc diem của giao dich dân sự 1.1 Khái niệm giao địch đầu sir Dưới góc độ xã hội học, giao dich la môi quan hệ giữa người với người, cũng là môi quan hệ phổ biên va lâu đời nhất trong xã hội loài người. Theo cách hiểu chung, giao địch là sự trao đổi giữa hai hay nhiều đối tác với nhau nhằm thoả mãn mục dich của các bên. Trong cuộc sóng hiên đại, giao dich được xem là công cụ hữu luệu bảo đảm cho các quan hệ dân sự được thực hiện trong hành lang pháp lí an toàn nhằm thúc đây giao lưu dan sự ngày càng phát triển Các giao dich ngày càng đa dang phức tạp hon do có sự tham gia của nhiêu chủ thể thuộc các thành phân kinh tế khác nhau, trong va ngoài nước, và sự đan xen nhiêu loại hình sở hữu khác nhau, các quyên dân sư của cá nhân, pháp nhan và các chủ thê khác được mở rộng hơn trước. Chính vi thé, vai trò của giao dịch nói chung và GDDS nói riêng cảng được thé hiện lớn hơn và giữ một vi trí quan trong trong hệ thông pháp luật quốc gia Hiên nay trong khoa hoc pháp lý còn có nhiéu cách hiéu khách nhau về GDDS: Quan điểm của các nhà khoa học Nhật Bản cho rằng “GDDS là hành vi hop pháp nhằm làm phát sinh thay đối, chấm đứt quyển và nghiia vụ dan sự”! Các nhà khoa hoc Nhật Bản không nêu ra loạt giao dich cu thé nao mà bao gồm tất cả những hành vị tự nguyện của các chủ thé khi them gia vào các quan hệ dân sự nhằm thu được một kết quả nhật định và các hènh vi này không trái pháp luật.
Trong khi đó, khái niém GDDS được các nhà khoa học ViétNam đề cập trong nhiều tàiliệu với góc độ khác nhau như. “GDDS là hành vi được thực hiện nhằm tìm được kết qua nhất đình và pháp luật tao điều kiện cho kết quả trở thành hién thực° hay “giao dich là một sự kiện pháp lý. bao gồm hành vi pháp ly: đơn phương hoặc đa phương làm phát sinh hậu que pháp Ip"?. Có quan điểm khác nhân mạnh đền tính pháp lý của giao dịch như.
”GDDS là hành vi pháp lý hop * Xaca Vacaxam, Tori Aritdtmai (1995), “Birth luận khoa học Số luật Dân sự Nhật Beox” Ned. Chink trị quốc ga,Hì Nộirl4t „ ? Hoàng Th? Liên- Nguyễn Đức Giao (2001), Binh buận khoa học Bồ luật đâm su Việt nau, Tap 1,NXB Chín: trị Quoc ga tr226 14 pháp biêu hiên ý chí của một hoặc nhiều người nhằm làm phát sinh thay đối hoặc chấm dit quyền nghĩa vụ dân sự Š Nhìn chung, các nhà khoa học có đưa ra khá: nhiệm về GDDS dưới góc đô nào di nữa thì đều khang dink GDDS bao gôm hợp dong dân sư và hành vi pháp lý đơn phương, Theo đó, hợp đông dân sự là sự thoả thuậný chí của hai hay nhiéu bên về việc xác lập, thay đổi, châm đút quyên, nghĩa vụ dân sự Hậu quả pháp lý của hợp đông được phát sinh ngay sau khi các bên giao kết hop đồng, trừ trường hop các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy đính khác. Thông thường hợp đồng có hai bên tham gia trong do thể hiện sự thông nhất y chi của các chủ thé trong một quan hệ cu thé (mua bán, thuê. ) nhung cũng tên tại hợp đông có nhiéu bên tham gia (hợp đồng hợp tac’).
Trong hợp đồng, ý chi của một bên doi hỏi sự đáp lại của các bên con lại, tạo thành. sự thông nhật y chi của tật cã các bên, từ đó hình thành nên hop đông Khác với giao dich là hành vi pháp ly đơn phương, ngoài hợp đông với vai tro là hợp đông chính, hợp dong gốc, các bên có thé thoả thuận kỷ kết hop đông phụ, phụ lục hợp đồng, mdi quan hệ giữa các văn bản thoả thuận này dựa trên sự thoa thuận các bên theo quy đính pháp luật. Hanh vi pháp lý đơn phương là giao dịch trong đó thé hiên ý chí của một bên nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc cham đút quyên, nghĩa vu dân sự của mình hoặc của bên kia. Vi dụ trong việc lập di chúc thì các nhân để lại tài sản cho người thừa kế được chỉ đính theo ý chi của minh.
Tuy nhiên người thừa ké theo chỉ định có thể tham. gia hoặc không tham gia giao dich, phụ thuộc vào yêu tô chủ quan, khách quan. Thông thường hành vi pháp ly đơn phương được xác lập theo ý chi của một bên chủ thể duy nhật (lập di chúc, từ chối hưởng thừa ké) nhưng cũng có thé có nhiều chủ thé củng tham gia vào mt bên của giao dich (nhiêu cá nhân, tổ chức cùng tuyên bó hứa thưởng). Nhưng không phải moi hành vi pháp ly của một chủ thé đều la GDDS.
Hanh wi pháp ly của chủ thé không nhằm lam phát sinh quyền, nghia vụ của chủ thé khác thi hành vi pháp lý này ` Nguyễn Vin Cường (2005), Giao dich din sơ vỏ hiệu và viắc gid quyết hậu quả pháp Wy của giao dich din sơ ‘v6 hiều, Trường Daihoc Luật Hà Nội,tr 9-10 * Điều 504 BLD Snăm 2015 15 không phải là GDDS. Ví du chủ sở hữu từ bö quyền sở hữu đối với tai sin của mình *, người thừa kê từ chéi nhận di sin’. Từ những phân tích nêu trên, có thé ci dén một khái niệm khoa học về GDDS như sau: “Giao dich đân su là sự thé hiện J chí một cách tự nguyên của các chit thé trong khuôn khổ pháp luật để làm phát sinh thay đổi hoặc chẩm đứt các quyền ngiữa vụ dân sự: qua dé gép phan cho giao lun dan sự phát triển phit hợp với sự phát triển của kinh tế - xã hội” 1. Đặc diém cna giao địch đâm sự Nhìn chung GDDS đủ là hợp đông hay hành vi pháp lý đơn phương thì đều có đặc điểm chung như sau: Thứ nhất, GDDS luôn thé hiện ý- chi thực sự của các chủ thé tham gia giao dich Dù thể hiện đưới hình thức là hợp đông hay hành vi pháp lý đơn phương thì GDDS luôn là hành vi có ý thức của chủ thê tham gia nhằm dat được những mục đích, mong muôn nhất định, phải có sự thông nhật giữa ý chí và bảy tỏ ý chi.
Ý chí là nguyện vọng, mong muốn chủ quan bên trong của con người mà nội dung của nó được xác định bởi các nhu câu về sẵn xuất, tiêu ding của bản thân họ. Trong trường hợp GDDS là hợp đông thi đó là sự thé hiên và thống nhật y chí của các bên chủ thể, còn đối với trường hợp GDDS là hành vi pháp ly đơn phương thì do là sự thê hiệný chi của một bên chủ thé. Y chí phải được thể hiện ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định dé các chủ thé khác có thể biết được ý chí của chủ thể muốn tham gia vào một GDDS. Vì vay, nếu GDDS không có sự thê hiện ý chí của chủ thê tham gia, hoặc có sự thê luận ý chí của chủ thé tham gia nhưng do bị nhằm lấn, bi chủ thé khác cướng ép, de doa, lừa đổi thi GDDS đó vô hiệu.
Bên cạnh đó, sự thé hiện ý chí phải dién ra theo một hình thức nhật đính, phù hợp với quy dinh của pháp luật mới làm phát sinh hậu quả pháp ly. Thứ hai, chit thé trong GDDSphải tham gia một cách tự nguyện Ý Điều 239 BLDS năm 2015 * Điêu 620 BLD Snăm 2015 16 Một chủ thê mong muốn đạt được mục đích nhật định thi chủ thé đó tư nguyện tham. gia một GDDS nhật định dé đạt được điều đó. Ý chí là nguyên vọng mong muôn chủ quan bên trong của chủ thé thé hiện ra bên ngoài đưới một hình thức nhật dink, phải được kiểm soát bởi lý trí của chủ thé.
Tự nguyện” bao gém các yêu tổ câu thành là tự do ý chi và bay tô ý chi. Vi vậy khi nguyên vọng, mong muốn chủ quan bên trong được thé hiénra bên ngoài ding như ÿ chí đích thực thì khi do chủ thể co sutunguyén. Tunguyén là một nguyên tắc quan trọng thiết lập nên GDDS, phan ánh tinh thông nhật ý chi của các bên khi tham gia giao dịch “Sư tự nguyên của một bên (hành wi pháp lí đơn phương) hoặc sự tự nguyện của các bên trong một quan hệ dân sự (hợp đồng) là nguyên tắc được quy đính tại Điều 3 BLDS 2015: Tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận Vi pham sựtự nguyện của chủ thé là vi pham pháp luật. Vi vậy, GDDS thiêu sự tự nguyên không lam phát sinh hậu quả phép lí BLDS quy đính môt số trường hợp GDDS xác lập không có sự tự nguyên sẽ bị vô liệu.
Đó là các trường hợp vô hiệu do gia tạo, do nhằm lấn; do bi lừa đối, bi de doa, cưỡng ép; do xác lập tại thời điểm ma không nhận thức và làm chủ được hành vi của minh Thứ ba, mục dich và nội dưng của GDDS không vi phạm điều cắm của luật. không trải dao đức xã hồi Trong GDDS, các chủ thể khi tham gia vào giao dich đều nham một mục đích nhật đính và mong muốn mục đích đỏ trở thành sự thật GDDS phat sinh hiệu lực khi mục dich và nội dung của GDDS được chứng minh hoặc được thừa nhận là không vi phan điều cam của luật, không trái đạo đức xã hộ, từ đó quyền và nglữa vụ của các bên mới có thể thực hiện được trên thực tê. Như vậy néu điều cam của pháp luật là những quy định cụ thé trong một văn bản luật xác định những hành vi nhật định không cho phép chủ thé thực hiên, thi tính trái dao đức xã hội là những, chuẩn mực ung xử của cộng đông được thừa nhận và tôn trọng nên việc xác định một GDDS có mục đích và nôi dung có trái với dao đức xã hội hay không cân phải cân nhắc hét sức kỹ lưỡng. GDDS phải nhằm phát sinh một hậu qua pháp lý ’ Điểmc Khoản 1 Điều 117 BLDSnim 2015 17 Hậu quả pháp lý là kết quả của việc thực hiên GDDS và các bên đạt được mục dich ban dau khi xác lập GDDS.