Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật học với đề tài "Xoá án tích theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015" do tác giả Khổng Thành Duy thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (chuyên ngành Luật Hình sự, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Mai Thị Thanh Nhung). Nghiên cứu tập trung giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn thi hành chế định xóa án tích trong bối cảnh hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam vừa được sửa đổi, bổ sung toàn diện.

Về bối cảnh thực tiễn và lý do chọn đề tài, tác giả chỉ rõ xóa án tích là một chế định nhân đạo thể hiện nguyên tắc dân chủ xã hội chủ nghĩa và tôn trọng quyền con người theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 và khoản 5 Điều 3 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015. Mục đích cốt lõi của chế định là xóa bỏ mặc cảm tội lỗi của người từng bị kết án, xóa bỏ định kiến xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để họ tái hòa nhập cộng đồng và khuyến khích họ không thực hiện hành vi phạm tội mới. Mặc dù BLHS năm 2015 đã sửa đổi cơ bản các quy định theo hướng có lợi cho người bị kết án, song thực tiễn áp dụng chế định này vẫn còn nhiều nội dung thiếu thống nhất, chưa mang tính hệ thống và chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa BLHS, Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS), Luật Thi hành án hình sự, Luật Thi hành án dân sự và Luật Lý lịch tư pháp.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  • Đề xuất các giải pháp bảo đảm xóa án tích đúng đắn và nâng cao hiệu quả áp dụng chế định này trên cơ sở phân tích lý luận về án tích và tổng kết thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS.

Để thực hiện mục đích trên, tác giả triển khai 4 nhóm nhiệm vụ nghiên cứu chính:

  1. Phân tích khái niệm, bản chất, đặc điểm, điều kiện, phân loại và ý nghĩa của án tích và xóa án tích trong khoa học luật hình sự.
  2. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về xóa án tích từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS năm 2015.
  3. Phân tích cụ thể các quy định của BLHS năm 2015 về xóa án tích (bao gồm đương nhiên xóa án tích, xóa án tích theo quyết định của Tòa án, xóa án tích trong trường hợp đặc biệt, xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi và cách tính thời hạn xóa án tích).
  4. Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng chế định xóa án tích trên địa bàn một số tỉnh (Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Thái Bình) giai đoạn 2015–2019; từ đó chỉ ra những hạn chế, bất cập, nguyên nhân và đề xuất giải pháp khắc phục.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm các quan điểm khoa học pháp lý, quy định của pháp luật Việt Nam về xóa án tích, các vụ án, trường hợp thực tế cùng các báo cáo tổng kết, chuyên đề của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Vĩnh Phúc và một số địa phương. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn dưới góc độ luật hình sự và tố tụng hình sự, với nguồn dữ liệu thực tiễn được khảo sát, cập nhật từ hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan tư pháp trên địa bàn một số tỉnh trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến năm 2019.

Cơ sở lý luận, pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý luận và khung pháp lý, khóa luận xây dựng nền tảng dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật và tài liệu khoa học chuyên ngành:

  • Hệ thống văn bản pháp luật: Hiến pháp năm 2013; Sắc lệnh số 21/SL ngày 14/02/1946; Thông tư số 2308/NCLP ngày 01/12/1961 của TANDTC; Công văn số 1082/NCLP ngày 05/07/1963 của TANDTC; BLHS năm 1985; BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); BLTTHS năm 2015; Luật Lý lịch tư pháp năm 2009; Luật Nuôi con nuôi năm 2010 và Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.
  • Nguồn tài liệu khoa học: Các công trình nghiên cứu tiêu biểu của PGS. TSKH. Lê Cảm, TS. Trần Đình Nhã, Đinh Văn Quế, cùng các luận văn thạc sĩ và khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật Hình sự tại Đại học Quốc gia Hà Nội và Trường Đại học Luật Hà Nội (như công trình của Nguyễn Thị Minh Phương năm 2001, Nguyễn Thị Lan năm 2003, Nguyễn Xuân Nghiệp năm 2006, Trịnh Quốc Toản năm 2015).

Phương pháp luận của khóa luận dựa trên phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng về nhà nước, pháp luật, quyền con người và chính sách xử lý tội phạm.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được kết hợp sử dụng gồm:

  • Phương pháp hệ thống hóa: Phân loại, xâu chuỗi các quy phạm pháp luật qua các thời kỳ lịch sử.
  • Phương pháp lịch sử và lôgíc: Đánh giá sự chuyển dịch của các quy định pháp luật hình sự từ năm 1945 đến nay.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Làm rõ nội hàm khái niệm án tích, tiền án và các điều kiện xóa án tích.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu sự khác biệt giữa BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015.
  • Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia và thống kê thực tiễn: Thu thập, tổng hợp số liệu thụ lý, giải quyết việc cấp giấy chứng nhận và quyết định xóa án tích từ TAND hai cấp, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) hai cấp và Sở Tư pháp tại các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Thái Bình.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung về xoá án tích

Chương này tập trung giải quyết các vấn đề lý luận nền tảng và tiến trình lịch sử lập pháp của chế định xóa án tích tại Việt Nam:

  • Khái niệm và bản chất: Tác giả tổng hợp các quan điểm khoa học và đưa ra khái niệm: "Án tích là vết tích đã từng bị kết án của người phạm tội, xuất hiện khi người đó đã chấp hành xong hình phạt và được xóa khi đáp ứng đủ các điều kiện Bộ luật hình sự quy định hoặc tồn tại một khi người đã bị kết án đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa đáp ứng được những điều kiện được quy định trong Bộ luật hình sự". Bản chất của xóa án tích là việc chấm dứt hậu quả pháp lý bất lợi, công nhận người đó coi như chưa từng bị kết án.
  • Phân biệt án tích và tiền án: Tác giả chỉ rõ "tiền án" không phải là một thuật ngữ pháp lý trong BLHS mà chỉ là khái niệm thông dụng trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Tác giả khẳng định khi án tích đã được xóa thì phải coi người đó như chưa từng can án và tuyệt đối không được nêu lại các lần kết án đã được xóa trong phần lý lịch nhân thân của các văn bản tố tụng (bản kết luận điều tra, cáo trạng, bản án).
  • 5 đặc điểm của án tích:
    1. Án tích là sự kiện pháp lý hình sự chỉ phát sinh khi người phạm tội bị kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật và phải chịu hình phạt (người được miễn hình phạt hoặc chỉ bị áp dụng biện pháp tư pháp không làm phát sinh án tích).
    2. Người mang án tích phải gánh chịu những bất lợi pháp lý (bị hạn chế một số quyền như nhận nuôi con nuôi theo Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010; án tích là căn cứ định tội, định khung tăng nặng hoặc xác định tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm).
    3. Án tích tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định, không mang tính chất nhân thân vĩnh viễn.
    4. Thời gian mang án tích là thời gian thử thách ý thức tự cải tạo của người chấp hành xong hình phạt.
    5. Án tích là tiêu chí mang tính giáo dục, hướng thiện chứ không nhằm mục đích trừng phạt hay trả thù người bị kết án.
  • Lịch sử lập pháp trước BLHS 2015:
    • Giai đoạn 1945–1985: Quy định rải rác trong Sắc lệnh số 21/SL năm 1946 (Điều 10 quy định án treo 5 năm không phạm tội mới thì bản án hủy bỏ, coi như không có); Thông tư số 2308/NCLP năm 1961 và Công văn số 1082/NCLP năm 1963 của TANDTC.
    • Giai đoạn BLHS năm 1985: Lần đầu tiên pháp điển hóa có hệ thống tại Điều 52 đến Điều 56 dưới tên gọi "Xóa án", dùng thuật ngữ "can án" và phân chia 4 trường hợp (đương nhiên xóa án, xóa án do Tòa án quyết định, xóa án trong trường hợp đặc biệt, xóa án đối với người chưa thành niên).
    • Giai đoạn BLHS năm 1999: Quy định thành chương riêng (Chương IX, Điều 63 đến Điều 67 và Điều 77), chính thức đổi tên thành "Xóa án tích" và thay thuật ngữ "can án" bằng "kết án".

Chương 2: Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về xoá án tích

Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm thực định về xóa án tích trong BLHS năm 2015 (gồm 7 điều luật liên quan: Điều 69–73 tại Chương X, Điều 89 tại Chương XI và Điều 107 tại Chương XII):

  • Đương nhiên xóa án tích (Điều 70): Áp dụng cho mọi tội phạm, trừ các tội xâm phạm an ninh quốc gia (Chương XIII) và các tội phá hoại hòa bình, chống loài người, tội phạm chiến tranh (Chương XXVI). Thời hạn thử thách được rút ngắn đáng kể so với BLHS 1999:
    • 01 năm đối với phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù cho hưởng án treo.
    • 02 năm đối với phạt tù đến 05 năm (BLHS 1999 là 03 năm).
    • 03 năm đối với phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm (BLHS 1999 là 05 năm).
    • 05 năm đối với phạt tù trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình được giảm án (BLHS 1999 là 07 năm).
    • Thẩm quyền cấp giấy xác nhận không có án tích được chuyển giao cho Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp (Sở Tư pháp/Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia) thông qua Phiếu lý lịch tư pháp.
  • Xóa án tích theo quyết định của Tòa án (Điều 71): Áp dụng bắt buộc đối với người phạm các tội thuộc Chương XIII và Chương XXVI. Thời hạn thử thách lần lượt là 03 năm, 05 năm và 07 năm (giảm so với mức 03, 07 và 10 năm của BLHS 1999). Tòa án căn cứ vào tính chất tội phạm, nhân thân, thái độ chấp hành pháp luật và thái độ lao động. Thủ tục tiến hành theo Điều 369 BLTTHS 2015 (VKS có 05 ngày phát biểu ý kiến). Nếu bị bác đơn lần đầu, phải chờ 01 năm mới được nộp lại; nếu bị bác đơn lần hai trở đi, phải chờ 02 năm.
  • Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt (Điều 72): Tòa án quyết định xóa án tích khi người bị kết án có tiến bộ rõ rệt, đã lập công (theo điểm b mục 5 Nghị quyết 01/2000/NQ-HĐTP), được cơ quan, tổ chức nơi công tác hoặc chính quyền địa phương nơi cư trú đề nghị, và đã chấp hành ít nhất 1/3 thời hạn thử thách theo luật định.
  • Xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi (Điều 107): Quy định không bị coi là có án tích đối với: người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi; người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng do vô ý; người bị áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng. Đương nhiên xóa án tích với thời hạn 03 năm đối với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
  • Cách tính thời hạn (Điều 73) và bất cập pháp lý: Thời hạn xóa án tích tính từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời hiệu thi hành bản án. Tác giả phân tích điểm bất hợp lý tại khoản 3 Điều 73: người phạm nhiều tội gồm cả tội thuộc trường hợp đương nhiên xóa án tích (Điều 70) và tội thuộc trường hợp Tòa án quyết định (Điều 71) lại bị áp dụng toàn bộ thời hạn theo Điều 71 (thời hạn dài hơn), gây bất lợi cho người phạm tội. Tác giả kiến nghị thời hạn nên tính theo Điều 70 để đảm bảo nguyên tắc có lợi. Ngoài ra, tác giả chỉ ra sự bất cập tại Điều 53 BLHS (tái phạm, tái phạm nguy hiểm) và đề xuất sửa đổi cụm từ "đã bị kết án" thành "đã bị kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật".

Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về xoá án tích và một số giải pháp hoàn thiện

Chương 3 tổng kết số liệu áp dụng pháp luật tại các địa phương và kiến nghị giải pháp:

Tỉnh Năm Số Giấy chứng nhận xóa án tích cấp Số Quyết định xóa án tích cấp
Vĩnh Phúc 2015 71 (Tăng dần qua các năm)
2016 101 (Tăng dần qua các năm)
2017 110 (Tăng dần qua các năm)
2018 107 (Tăng dần qua các năm)
Phú Thọ 2017 73 19
2018 88 23
2019 95 26

Bảng tổng hợp số liệu cấp giấy chứng nhận và quyết định xóa án tích tại TAND và VKSND hai cấp tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ (2015–2019)

Năm Vĩnh Phúc Phú Thọ Thái Bình
2017 18 25 16
2018 24 17 21
2019 09 23 23

Bảng thống kê các trường hợp đương nhiên xóa án tích tại Sở Tư pháp 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Thái Bình (2017–2019)

  • Đánh giá thực trạng: Trong giai đoạn 2015–2019, các cơ quan chức năng tại 3 tỉnh đã cấp giấy chứng nhận xóa án tích cho 1.596 trường hợp (gồm 249 trường hợp đương nhiên xóa án tích và 1.347 trường hợp theo quyết định của Tòa án và trường hợp đặc biệt). Tác giả nhận định con số này là quá thấp so với quy mô hàng nghìn bị cáo bị xét xử mỗi năm tại mỗi địa phương.
  • Nguyên nhân vướng mắc:
    • Người chấp hành xong bản án chưa hiểu rõ quyền lợi và quy định pháp luật nên không chủ động làm thủ tục yêu cầu.
    • Cơ chế phối hợp xác minh thông tin giữa Sở Tư pháp, Tòa án, Viện kiểm sát, Công an và UBND cấp xã còn chậm chễ, phức tạp.
    • Tồn tại sự lúng túng, không đồng thuận trong cách hiểu về thời điểm phát sinh án tích, căn cứ xác định tái phạm và cách tính thời hạn khi phạm nhiều tội.
  • Các nhóm giải pháp hoàn thiện:
    1. Hoàn thiện quy định pháp luật: Sửa đổi quy định tại khoản 3 Điều 73 BLHS năm 2015 theo hướng áp dụng thời hạn theo Điều 70 đối với trường hợp phạm nhiều tội có cả tội thuộc Điều 70 và Điều 71; bổ sung cụm từ "bằng bản án có hiệu lực pháp luật" vào Điều 53 BLHS; hoàn thiện hướng dẫn thi hành đồng bộ giữa BLHS, BLTTHS và Luật Lý lịch tư pháp.
    2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật: Tăng cường phổ biến chính sách xóa án tích cho phạm nhân trước khi chấp hành xong án phạt tù và tại cộng đồng dân cư.
    3. Nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước: Rút ngắn quy trình xác minh điều kiện xóa án tích giữa UBND cấp xã và Sở Tư pháp; hiện đại hóa cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp để tự động cập nhật tình trạng án tích.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả thực chứng: Khóa luận đã thu thập và xử lý dữ liệu thực tế tại 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Thái Bình giai đoạn 2015–2019, chỉ ra tổng số 1.596 trường hợp được giải quyết xóa án tích, trong đó xác định rõ cơ cấu gồm 249 trường hợp đương nhiên xóa án tích và 1.347 trường hợp xóa án tích qua Tòa án.
  • Đề xuất hoàn thiện lập pháp: Tác giả phát hiện và lập luận thuyết phục về 2 điểm bất cập cụ thể trong BLHS năm 2015:
    • Bất cập tại khoản 3 Điều 73: Đề xuất áp dụng thời hạn xóa án tích ngắn hơn theo Điều 70 thay vì Điều 71 cho người phạm nhiều tội hỗn hợp.
    • Bất cập tại Điều 53: Đề xuất chuẩn hóa khái niệm tái phạm phải gắn liền với "bản án đã có hiệu lực pháp luật" để phù hợp với Điều 31 Hiến pháp năm 2013.
  • Đóng góp học thuật: Công trình làm rõ sự khác biệt bản chất giữa "án tích" và "tiền án", xác lập nguyên tắc không nhắc lại các bản án đã được xóa trong phần nhân thân của hồ sơ tố tụng hình sự, đồng thời tổng kết tiến trình lập pháp về chế định này suốt từ năm 1945 đến nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Số liệu thực tiễn của khóa luận chỉ giới hạn khảo sát tại 3 tỉnh thuộc khu vực phía Bắc (Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Thái Bình) trong giai đoạn 2015–2019, chưa bao quát được dữ liệu của toàn quốc. Thời điểm nghiên cứu diễn ra khi BLHS năm 2015 mới đi vào áp dụng nên một số quy định mới chưa có đủ án lệ và báo cáo tổng kết dài hạn.
  • Hướng mở tiếp theo: Cần mở rộng phạm vi khảo sát số liệu tại các đô thị lớn và các vùng miền khác; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế chia sẻ, kết nối dữ liệu số liên ngành giữa cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, dữ liệu thi hành án và cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích đối với:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự: Cung cấp tài liệu tổng quan về lịch sử lập pháp từ năm 1945, so sánh chi tiết các mốc thời gian xóa án tích giữa BLHS 1985, BLHS 1999 và BLHS 2015.
  • Cán bộ thực tiễn tại Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra và Sở Tư pháp: Hữu ích trong việc tra cứu trình tự, thủ tục xác minh điều kiện xóa án tích (Điều 369 BLTTHS 2015), phân biệt chính xác tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm và lập hồ sơ lý lịch tư pháp.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo tác giả, thuật ngữ "tiền án" có đồng nhất với "án tích" trong luật hình sự không?
Không. Án tích là khái niệm pháp lý hình sự chính thức quy định trong BLHS, phản ánh hậu quả pháp lý phát sinh từ bản án kết tội có hiệu lực pháp luật. Tiền án không phải là khái niệm pháp lý mà chỉ là cách gọi thực tiễn để chỉ người đang có án tích chưa được xóa. Khi một người đã được xóa án tích thì coi như chưa từng bị kết án và không được ghi là có tiền án trong các văn bản tố tụng.

2. BLHS năm 2015 đã rút ngắn thời hạn đương nhiên xóa án tích đối với hình phạt tù như thế nào so với BLHS năm 1999?
Thời hạn đương nhiên xóa án tích đối với hình phạt tù được rút ngắn cụ thể: tù đến 05 năm giảm từ 03 năm xuống còn 02 năm; tù trên 05 năm đến 15 năm giảm từ 05 năm xuống còn 03 năm; tù trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình được giảm án giảm từ 07 năm xuống còn 05 năm.

3. Nếu bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích, người bị kết án phải chờ bao lâu mới được nộp đơn lại?
Theo quy định tại khoản 4 Điều 71 BLHS năm 2015, nếu bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu thì người bị kết án phải chờ sau 01 năm kể từ ngày bị bác đơn mới được xin lại; nếu bị bác đơn từ lần thứ hai trở đi thì phải sau 02 năm kể từ ngày bị bác đơn gần nhất mới được xin xóa án tích.

4. Người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc trường hợp nào thì được coi là không có án tích theo Điều 107 BLHS năm 2015?
Người dưới 18 tuổi được coi là không có án tích khi: người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm bất kỳ tội gì; người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng do vô ý; và người bị áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng.

5. Cơ quan nào có thẩm quyền cấp giấy tờ xác nhận đương nhiên xóa án tích theo quy định của BLHS năm 2015?
Theo khoản 4 Điều 70 BLHS năm 2015, Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp (Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố) có trách nhiệm cập nhật thông tin và cấp Phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích cho công dân có đủ điều kiện.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Khổng Thành Duy đã làm rõ các vấn đề lý luận cốt lõi và lịch sử lập pháp về chế định xóa án tích trong luật hình sự Việt Nam. Công trình phân tích chi tiết những điểm mới tiến bộ của BLHS năm 2015, đồng thời chỉ ra các điểm bất cập trong quy định về cách tính thời hạn và xác định tình tiết tái phạm. Dựa trên số liệu khảo sát thực tế tại các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Thái Bình giai đoạn 2015–2019, khóa luận đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu lực thi hành và bảo đảm tính nhân đạo của pháp luật hình sự.