Chương I: Cơ sở lý luận LL. Thuật ngũ: Thuật ngữ "người Hoa" (Ethnic Chinese) hay "người Hoa hải ngoại” (Over Seas Chinese) được sử dụng rộng rãi trong khoá luận này là chỉ những người có nguồn gốc Trung Quốc sống ổn định thường xuyên ở nước ngoài, không phân biệt quốc tịch và mức độ liên kết hòa nhập của họ đối với xã hội và dân cư người bản địa. “Người Hoa địa phương” (Local Chinese) là những người có nguồn gốc Trung Quốc sống thường xuyên ở nước ngoài, đã gia nhập quốc tịch nước sở tại. “Hoa kiểu” (Hua Ch'iao) là người Trung Quốc sống ở nước ngoài chưa nhập quốc tịch nước sở tại, còn là công dân của nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa.1: Hộ gia đình Khái niệm hộ “gia đình” bao gồm một hay một nhóm người ở chung, ăn chung những người này có hoặc không có quỹ thu, chỉ chung.
Có thể có hoặc không có quan hệ ruột thịt.2: Phân chia khu vực lao đông: - Có nhiều cách phân chia khu vực lao động như sau: + Căn cứ vào thời gian ra đời, người ta phân chia khu vực cổ truyền (nông nghiệp, thủ công nghiệp.) và khu vực hiện đại (công nghiệp, địch vụ.) + Dựa vào tính chất quan hệ sản xuất và khu vực nhà nước, khu vực tập thể và khu vực gia đình. + Trên cơ sở tính chất sản xuất:. Khu vực II (Công nghiệp và xây dung. Khu vực IH (Dịch vụ) - Ti lệ số lao động người Hoa ở từng khu vực phản ánh tình hình kinh tế- xã hội của một nước và thường xuyên thay đổi theo thời gian và không gian.
SVTH: Hoàng Văn Tuyên Trung 7 Khéa luận tết nghiệp GVHD: Hoàng Xuân Dũng L3 Cơ cấu: L3.1 Cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế là trạng thái phối hợp tỷ lệ phẩn trăm trong GDP các ngành kinh tế trong một vùng, một quốc gia (hoặc trên toàn thế giới) tạo thành một tổng thể kinh tế, trong đó hoạt động của toàn bộ nền kinh tế đòi hỏi các ngành phải có mối quan hệ gắn bó phụ thuộc lẫn nhau. Cơ cấu lao đông: Cơ cấu lao động là tình trạng phân bố và sắp xếp nguồn lao động của một vùng, một quốc gia (hoặc trên thế giới) vào các ngành kinh tế khác nhau, bảo đảm cho sự hoạt động của toàn bộ nền kinh tế. Cơ cấu kinh tế thay đổi làm cho cơ cấu lao động thay đổi theo cho phù hợp với sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên sự thay đổi cơ cấu kinh tế phải phụ thuộc vào cơ cấu lao động, nếu chuyển đổi không hợp lý sẽ làm xáo trộn cơ cấu lao động dẫn đến nhiều hậu quả như thất nghiệp, làm nghé trái, lãng phí lao dộng.
SVTH: Hoang Văn Tuyên Trang 8 Khéa luận tốt giiệp GVHD: Hoàng Xuân Dũng Khu vực Đông Nam Á, đất đai phì nhiêu, tài nguyên phong phú, đồng thời lại gần gũi vé mặt địa lý cũng như văn hóa nên từ xưa thu hút sự chú ý của người Trung Hoa. Sự giao lưu tiếp xúc của người Hán với dân cư bản địa các nước Đông Nam Á và sự định cư của họ ở các nước đó đã được chứng minh bằng nhiều cứ liệu khoa học qua các thời đại khác nhau. Theo các hiện vật khảo cổ học tìm thấy thì người Hán đã từng viếng thăm, buôn bán với các nước Đông Nam Á đã từ rất lâu nhưng sự định cư của họ tại khu vực này bắt đầu vào khoảng thế kỷ thứ XH trước công nguyên. Có rất nhiều nguyên nhân khiến cho người Trung Hoa phải từ bỏ quê cha đất tổ sang định cư sinh sống ờ các nước Đông Nam Á nhưng chúng ta có thể gộp lại những nguyên nhân chính sau đây: Thứ nhất: Nguyên nhân mang tính chất quan trọng đó là sự năng động và có hiệu quả của Hoa thương ở hải ngoại đã thu hút nhiều nhà buôn, người di cư tự đo sang khu vực Đông Nam Á để tìm cơ may.
Mặt khác, cư dân vùng duyên hải Đông Nam Trung Quốc (đặc biệt tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến) đã từ lâu có truyền thống buôn bán giao dịch với các nước Đông Nam Á nên họ khá hiểu vé môi trường và cung cách làm ăn của người bản địa. Ngoài ra chính sách thuế khoán ngặt nghèo, nhiều sự cấm đoán trong buôn bán do các chính thé câm quyển tại Trung Quốc nên nhiều nhà buôn trong nước muốn ra đi tìm nơi tốt hơn để hành nghề. Khi ra đi họ mang theo nguồn của cải vật chất, kinh nghiệm doanh nghiệp và cùng với đội quân làm thuê khuân các. Với nguồn dự trữ sẵn có đó, Hoa thương có thể dé dàng cạnh tranh với người bản địa và vì vậy họ có cơ hội làm giàu nhanh hơn.
SVTH: Hoàng Văn Tuyên Trang 9 Khéa luận tốt "giiệp GVHD: Hoàng Xuân Dũng Thứ hai: Nguyên nhân mang tính sinh thái như sự mất mùa, đói kém bệnh tật .v, với điểu kiện địa lý họ có thể di cư sang Đông Nam A bằng đường bộ hoặc cả đường biển. Mặt khác phong tục, tập quán, lối sống, tôn giáo và chủng tộc cư đân bản địa trong khu vực tương đối gần gũi với người Hoa nên họ có thể dé dang sinh cơ lập nghiệp ở quê hương mới này. Thứ ba: Những biến động chính trị như tranh giành quyển lực giữa các triểu đại, các cuộc khởi nghĩa nông dân, các cuộc chiến tranh xâm lược từ bên ngoài vào Trung Quốc đã đẩy một bộ phận dân cư tj nạn sang các nước Đông Nam Á. Ngoài ra các sứ giả quan lại, nhà tu hành phật giáo đi công cán ở các nước ngoài, sau những biến cố lịch sử trong nước, không trở về tổ quốc, xin cư trú tại hải ngoại.
Thứ tư: Chính sách bành trướng và đồng hóa bằng vũ lực như cuộc chiến tranh xâm lược do các triểu đại phong kiến Trung Quốc phát động chống các nước Đông Nam A trong nhiều thế kỷ qua cũng kéo theo sự nhập cư ổ ạt của người Hoa vào khu vực này. Các sĩ quan, binh lính, các tù chính trị được phái tới những nơi mà họ chiếm được để cai trị và “khai hóa văn minh” cho người bản địa. Thêm vào đó nhiều tù bình chiến tranh, do người bản địa bắt giữ (sau khi các cuộc xâm lăng của Trung Quốc thất bại) xin ở lại sinh cơ lập nghiệp tại các nước sở tại. Nhiều người trong số họ lấy vợ người bản địa và tạo ra một thế hệ Hoa lai.
Thứ năm: Chính sách thu hút và sử dụng thương nhân và thợ thủ công người Hoa của các chính thể cẩm quyển người ban địa trong việc mở rộng buôn bán và phát triển các nghề thủ công và thu các nguồn lợi tức từ những hoạt động thương nghiệp của họ cũng là tác nhân kích thích thêm nhiều người Hoa nhập cư vào các quốc gia Đông Nam Á. Thứ sáu: Từ nửa sau thế kỷ XIX trở đi yếu tố TBCN xâm nhập khá mạnh vào đời sống kinh tế — xã hội và chính trị của Trung Quốc và các nước Đông Nam Á đã tạo ra làn sóng nhập cư mới của người Hoa vào khu vực. Phần lớn trong số họ là những “cu li” được các chủ Tây tuyển mộ đến các thuộc địa làm việc theo khế ước hợp đồng. Sau khi mãn hạn phần lớn họ ở lại các nước Đông Nam Á.
Ngoài ra từ năm 1870 trở đi, khi cách mạng giao thông vận tải bùng nổ SVTH: Hoàng Văn Tuyên Trang 10 Xháu ludn tất tghiệp GVHD: Hoàng Xuân Dũng Ở bán đảo Đông Dương, trước hết là Việt Nam, là mãnh đất đầu tiên của khu vực Đông Nam Á tiếp nhận dòng người Hoa nhập cư. Đợt nhập đầu tiên tương đối 6 ạt của người Hoa vào Việt Nam gắn lién với cuộc xâm lăng của Tin Thủy Hoàng. Năm 214 nhà Tan đã huy động nửa triệu quân tràn xuống miền Bắc Việt Nam. Mục đích của họ là mở rộng lãnh thổ, gây áp lực vẻ chính trị và ảnh hưởng buôn bán xuống khu vực Đông Nam Á.
Quốc gia Angko (Campuchia hiện nay) từ thế kỷ VII (dưới thời nhà Đường 618 - 907) trở thành quan hệ chư hầu đối với Trung Quốc và hàng năm phải nộp cống cho triểu đại phương Bắc mối quan hệ trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho các thương gia và dân di cư tự do tràn tới quốc gia này. Theo các sử sách từ thế kỷ XI trở đi (thời kỳ đầu thịnh vượng của vương quốc Angko), ở đất nước này xuất hiện nhiều quần thể người Hoa nhập cư. Đại bộ phận trong số họ làm nghề buôn bán. Người Hoa đi cư xuống các nước Nam Dương và các quốc gia ven vịnh Thái Lan chủ yếu bằng đường biển, bởi vì phía Tây Nam Trung Quốc có núi non hiểm trở, họ không thé dé dàng đi sang Thái Lan, Lào, Campuchia và sau đó vượt biên sang các quốc gia thuộc quần đảo Malai — Indonesia.
Theo hiện vật khảo cổ tìm thấy được thì các thương nhân và các thám hiểm người Hoa đã từng có mặt ở các đảo Sumatra, Java và Borneo trước công nguyên thời nhà Hán. Sử sách Trung Quốc có ghi lại rằng từ thế kỷ V sau công nguyên trở đi, không chỉ có các thương gia và người di cư tự do lui tới các quần đảo Malaysia, Indonesia, Philipine mà còn có nhiều nhà tu hành sau khi sang Ấn Độ lấy kính bằng đường bộ, khi vé bằng đường biển qua eo Malaca ghé thăm và truyền giáo ở những nơi đó. Nhiều người trong số họ ở lại hành nghề tại các nước Nam Dương. Từ thế kỷ thứ VII trở đi, khi kỷ thuật đóng thuyển bè đi biển của người Trung Hoa được cải tiến thì có nhiều nhà buôn, chính khách ngoại giao, các tu hành và dân tị nan lui tới nhiễu hơn đến những mién xa xôi của Đông Nam A SVTH: Hoàng Văn Tuyên Trang 11 %Xkáa luận tốt tgihiệp GVHD: Hoàng Xuân Dũng như Miễn Nam Thái Lan, Tây Nam Campuchia, đến các đảo Sumatra, Java và Ceylon thuộc Indonesia.
Sử sách đã từng ghi lại rằng đầu thế kỷ X, ở bờ biển phía bắc đảo Java đã xuất hiện những quần thể dân cư người Hoa. Từ thế kỷ thứ XI trở đi, nhiều vùng rộng lớn của Đông Nam Á đã hình thành các quốc gia như: vương quốc Angko, Đại Việt, Chàm, Xingaxari - Matrapa khút và nhiều vương quốc nhỏ ở các đảo Kalimantan, Celevebes (của Indonesia) và một số đảo của Philipine. Những quốc gia nói trên có nền nông nghiệp thủ công nghiệp khá phát triển. Nhiều phố xá và hải cẳng ra đời, có nên văn hóa phát triển sớm hơn so với các vùng khác còn lại của Đông Nam A.
Các quốc gia này chăm lo xây dựng quân đội. Những yếu tố trên giúp các quốc gia đó đẩy lùi được các cuộc xâm lăng từ Trung Quốc.