CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN I. MỘT SỐ LÝ THUYẾT VỀ NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG CÁC NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG. Ở các nước phương Tây, người ta đã bàn và đưa ra khá nhiều các ý kiến về nhân tố con người trong phát triển kinh tế. Song nổi bật và ảnh hưởng sâu rộng hơn cả vẫn là hai “con người kinh tế” và “con người xã hội”.
Lý thuyết “con người kinh tế” Lý thuyết này là do Frednick WinsloW Taylor (1856 - 1915), một kỹ sư người Mỹ, để ra vào cuối thế ky XIX, đầu thế kỷ XX và được trường phái "quản lý khoa học” tuyên truyền, phổ biến. Đây là lý thuyết và trường phái lớn có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong khoa học quản lý con người ở phương Tây. Theo Taylor và các nhà lý luận theo chủ thuyết này, con người cũng như các thiết bi và các yếu tố kỹ thuật khác, chỉ là những yếu tố sản xuất. Tuy nhiên, khác với các quan niệm mác xít, lý thuyết này cho rằng con người chỉ là vật phụ thuộc của máy móc.
Hoạt động và sự tiến triển của con người là sự phát triển của máy móc qui định, máy móc ổn định nhiệt độ và cường độ hoạt động của con người. Sự phát triển của máy móc sẽ kéo theo hoặc buộc con người phải thích ứng để phát triển. Do vậy, theo Taylor và lý thuyết này thì làm thế nào để bố trí và khoa học là diéu cực kỳ quan trọng. Những người theo lý thuyết này cũng cho rằng con người phản ứng đặc biệt tích cực với các khuyến khích vật chất, những lợi ích kinh tế và tiển lương của họ chỉ phụ thuộc vào số lượng sản phẩm họ làm ra, Họ thường đánh giá rất thấp sự tự giác, tính chủ động và lòng nhiệt tình lao động của cộng nhân và cho rằng đối với đa số công nhân thì phải cưỡng bức lao động, thi hành chế độ quản lý lao động kiểu trại lính, phải kiểm tra giám sát thường xuyên, phải quản lý bằng luật lệ và sự trừng phạt, Do đó, một mặt họ để nghị sử dụng lợi dụng những lợi ích vật chất khác nhau để thúc đẩy công nhân hãng say làm việc, Mặt khác tăng cường hiệu lực của các biện pháp kiểm tra kiểm soắt để buộc công nhãn phải làm việc.
Đồng thời họ SVTH : Nguyễn Huy Thụ : Trang 6 Khóa luận tất nghiệp GVHD : Thầy Hoàng Xuân Dũng bố trí một cách khoa học và hợp lý các yếu tố của quá trình sản xuất để khai thác tối đa năng lực sản xuất, khả năng cống hiến của công nhãn và nang cao năng suất lao động. Taylor đã áp dụng các quan niệm trên ldn dau tiên vào việc nghiên cứu các kỹ thuật quản lý làm năng suất lao động ở công ty thép Midrale và sau đó là công ty thép Bethlehem. Ông thực hiện việc thí nghiệm nổi tiếng về bốc vác kim loại trên tàu. Ong chia công việc của người công nhân bốc vác thành những phan loại cơ bản : 1.
Nhặt thanh kim loại. 2 - mang thanh kim loại đó đi trên đất băng tới tấm vần kê lên tàu; 3 - đi trên tấm ván lên khoang tàu ; 4 - vất thanh kim loại xuống ; 5 - tay không quay trở lại. Qua quan sát bấm giờ, tính toán, ông kết luận rằng một người có thể bốc vác được gấp 4 lẫn mức họ dang làm. Ong chọn một người bốc vác khỏe, dạy cho anh ta các thao tác chuẩn và do vậy năng suất đã tăng từ định mức 12,5 tấn lên 47m,5 tấn; và tiền công cũng tang từ 1,15 đôla lên 1,85 đôla một ngày công, việc gan lién công với mức khoán sản phẩm như vậy đã làm dẫn đến kết quả là các công nhân từ chỗ phản đối đến chấp nhận mức khoán đồ Taylor còn đưa ra hệ thống giám sát nhiều chiéu quá trình sản xuất, được dp dụng tại công ty Bethlehem.
Nhiệm vụ quản lý sản xuất được chia thành 2 lĩnh vực chủ yếu : kế hoạch hóa và thực hiện. Riêng nhiệm vụ gidm sát thực hiện được phân chia 4 giám sát viên : “kíp trưởng” chuẩn bị thời gian đặt máy; “sếp tốc độ” giám sát tốc độ của máy, công cụ được sử dụng ; “thanh tra” chịu trách nhiệm vé công việc của công nhân ; “sếp sửa chữa" chịu trách nhiệm sửa chữa và bảo dưỡng thiết bị. Nói tóm lại, hệ thống Taylor là phân chia quá trình sản xuất ra từng công đoạn nhỏ, hình thành mức khoán cho từng công đoạn đó và tiễn công trả tùy theo mức khoán để kích thích công nhân vì tiền công cao hơn mà tích cực nhận khoán. Taylor đã “đánh trúng huyệt”, vì thời gian đó người công nhãn còn rất nghèo, nhu cầu cơ bản của họ là kinh tế, ăn, mặc, ở.
Họ khao khát có đủ ăn. dư dat, dù phải đổ nhiều mỗ hôi và tốn nhiều thời gian , sức lực để thực hiện được nhu cầu đó. Cùng thời với Taylor, Henry Ford là người thành công nhất lý thuyết “con người kinh tế “ của trường phái quản lý khoa học trong thực tiễn. Ông là người phát triển hệ thống sản xuất dây chuyển.
Xưởng “River Rouge” là tổ hợp sản xuất dây chuyển nổi tiếng nhất thế giới bay giờ, bao gồm từ việc bat đầu luyện quặng thép, SVTH : Nguyễn Huy Thọ Trang 7 Khóa luận tốt nghiệp SS GVHD: Thấy Hoàng Xuân Dũng - làm khung đến khẩu hoàn chỉnh một chiếc ô tô. Ngày 30/7/1923, đây chuyển sản xuất ô tô dài 24km của ông đã cho ra đời 7000 ô tô con, một năng suất kỷ lục thời đó. Tại đây các thao tác của mỗi công nhân déu phụ thuộc hoàn toàn vào máy móc, và được phân tích để tránh những thao tác thừa nhằm tăng sản xuất lao động. Lênin đã gọi phương pháp quản lý con người của Taylor và Ford là “khoa học vất kiệt mổ hỗi của công nhân”.
Tuy vậy Lênin cũng kêu gọi những người Cộng sản hãy học và vận dụng phương pháp này trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Nga. Vua hé Sácld Sáplin đã diễn tả rất hay hậu quả xã hội của phương pháp sản xuất này trong bộ phim "Thời hiện đại” của ông. Một công nhân dùng búa đập đỉnh trên dây chuyển, bất cứ chiếc đỉnh nào chạy qua mặt anh ta đều phải gõ bằng được. Công việc này được lập đi lập lại suốt ngày, suốt tháng, suốt năm, đã khiến cho người công nhân này mắc phải tật ngay cả hết giờ làm việc anh ta vẫn tìm cách gõ bằng được gì giống cái đỉnh đi qua mặt anh ta.
Thực ra, lý thuyết nay có nhiều điểm hay vì nó để cao việc sử dụng một cách hợp lý nhất các yếu tố con người, kỹ thuật, đất đai, tài nguyên. song hạn chế lớn nhất của nó là quá coi trọng các yếu tố máy móc, thiết bị và hạ thấp vai trò chủ động, sáng tạo, có tính quyết định của con người lao động có ý thức. Do vậy, quá thiên về việc khai thác con người ở khía cạnh sinh vật cơ bắp và kinh tế mà chưa thể khai thác được tất cả những nét đặc trưng của mỗi thành viên người lao động với tư cách họ là những con người. là chủ thể xãy dựng và cải tạo xã hội.
Thời kỳ trước chiến tranh thế giới thứ hai, chủ thuyết này không tìm được đất phat triển ở Nhật Ban, mặc dù nó có ảnh hưởng rất sâu rộng ở các nước phương Tây khác. Những năm sau chiến tranh trước nhu cẩu phát triển nhanh của đất nước, các nhà quản lý Nhật Bản da phan nào tìm đến các đòn bẩy động lực trong chủ quyển “con người kinh tế này”. Những khuyến khích vật chất khác nhau được người Nhật áp dụng gẩm có tăng tiền lương, tăng quy mô cho vay để xây dựng nhà ở và giảm phan trăm tiền phải đặt trước, mở rộng việc ban chịu một số hang tiêu dùng (Tivi, ô tô). Tuy nhiên, như người Nhật suy tính thì các phương pháp khuyến khích vật chất của thuyết “con người kinh tế “ có nhiều thiếu sốt : SVTH : Nguyễn Huy Tho Trang 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD : Thầy Hoàng Xuân Dũng - Chúng mang nhiều nguy cơ biến động cơ thành mục đích và từ đó tạo ra chỗ dựa cho sự phát triển của chủ nghĩa cá nhân, một thứ chủ nghĩa rất xa lạ với tính tập thể và cộng đẳng cao ở xã hội Nhật Ban.
- Chúng chưa đủ linh hoạt để thúc đẩy người lao động trong diéu kiện các nhu cầu co bản của họ đã được áp dụng một cách bảo hòa trên thị trường. - Chúng có khả năng tac động xấu đến quan niệm truyền thống của người Nhật về ý nghĩa của nhiệt tình lao động như tâm lý tập đoàn, tinh thần yêu nước, ý thức hiến dâng cho sự phát triển hơn nữa nền văn minh thế giới. Do vậy, tuy thừa nhận các kích thích vật chất có thể tạo điểu kiện nâng cao đáng kể năng suất lao động, nâng cao nhiệt tình làm việc của quân chúng công nhân, sang các nhà quản lý Nhật Bản, cho đến dau những năm 70, vẫn không cho đây là yếu tố quyết định trong triết lý về quản lý lao động của họ, mà chỉ là những biện pháp bổ sung góp phan thúc đẩy thêm sự gắn bó của công nhân với công ty, xi nghiệp và công việc ma thôi. Lý thuyết con người xã hội.
Được trường phái “quan hệ con người” ở Mỹ để xuất vào đầu thế kỷ XX nhằm thay thế cho thuyết Taylor. Những người theo chủ thuyết này không phủ nhận ý nghĩa quan trọng của những khuyến khích vật chất và những biện pháp như kiểm tra và de dọa trừng phạt. Nhưng họ để cao hơn những yếu tố tự giác và sang tạo của người lao động. Họ cho rằng thuyết “con người xã hội” chịu ảnh hưởng rất nhiều của các mối quan hệ giữa các cá nhân trong tập đoàn lao động và con người sẽ tự giác làm việc nếu công việc làm họ thích thú.
Những cá nhân bình thường nếu được đào tạo và làm việc trong một bối cảnh tốt thì không phải là họ "sợ trách nhiệm và chỉ muốn an thân” ma trái lại họ còn muốn được giao trách nhiệm. Được đóng góp vào sự nghiệp chung và được mọi người trong tập doan kính nể. Khác với "con người kinh tế” phản ứng trực tiếp và chủ yếu đối với các kích thích vật chất , “con người xã hội” chịu ảnh hưởng của mối quan hệ giữa các cá nhãn trong tập đoàn lao động. Do đó mà các yếu tổ cảm xúc.
tính hợp lý của hành vi mang ý nghĩa hàng đầu.