Khóa luận tốt nghiệp đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả điều trị chửa ngoài tử cung bằng methotrexate đơn liều tại bệnh viện phụ sản hà nội năm 2021

Khóa luận phân tích đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hiệu quả điều trị chửa ngoài tử cung bằng methotrexate tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Y đa khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

80
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về chửa ngoài tử cung và methotrexate đơn liều

Chửa ngoài tử cung (CNTC) là tình trạng thai làm tổ ngoài buồng tử cung, thường gặp ở vòi tử cung. Tình trạng này có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Năm 2021, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân CNTC điều trị bằng methotrexate (MTX) đơn liều. Nghiên cứu này nhằm cung cấp thông tin quan trọng về hiệu quả và an toàn của phương pháp điều trị này.

1.1. Định nghĩa và nguyên nhân chửa ngoài tử cung

Chửa ngoài tử cung là tình trạng thai làm tổ ở vị trí không phải buồng tử cung, chủ yếu là vòi tử cung. Nguyên nhân gây ra CNTC có thể bao gồm viêm nhiễm, phẫu thuật trước đó, hoặc bất thường về giải phẫu vòi tử cung.

1.2. Tình hình chửa ngoài tử cung tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội

Tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, tỷ lệ bệnh nhân CNTC điều trị nội khoa còn thấp. Nghiên cứu năm 2021 đã chỉ ra rằng việc áp dụng MTX đơn liều có thể cải thiện tỷ lệ điều trị thành công và giảm thiểu biến chứng.

II. Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân chửa ngoài tử cung

Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân CNTC rất đa dạng. Các triệu chứng thường gặp bao gồm chậm kinh, ra máu âm đạo không giống máu kinh, và đau bụng. Việc nhận diện sớm các triệu chứng này là rất quan trọng để có thể can thiệp kịp thời.

2.1. Triệu chứng cơ năng và thực thể

Triệu chứng cơ năng thường gặp là đau bụng và ra máu âm đạo. Đau bụng có thể xuất hiện ở nhiều mức độ khác nhau, trong khi ra máu âm đạo thường không giống như kinh nguyệt.

2.2. Các yếu tố nguy cơ liên quan đến chửa ngoài tử cung

Các yếu tố nguy cơ gây CNTC bao gồm tiền sử chửa ngoài tử cung, phẫu thuật vòi tử cung, và viêm nhiễm đường sinh dục. Những yếu tố này cần được xem xét kỹ lưỡng trong quá trình chẩn đoán.

III. Phương pháp điều trị chửa ngoài tử cung bằng methotrexate

Điều trị CNTC có thể được thực hiện bằng phương pháp nội khoa hoặc ngoại khoa. Methotrexate (MTX) là một trong những phương pháp điều trị nội khoa phổ biến, giúp giảm thiểu biến chứng và bảo tồn khả năng sinh sản.

3.1. Cơ chế tác động của methotrexate

Methotrexate hoạt động bằng cách ức chế sự phát triển của tế bào, đặc biệt là tế bào phôi. Điều này giúp ngăn chặn sự phát triển của khối chửa ngoài tử cung và giảm thiểu nguy cơ vỡ.

3.2. Chỉ định và chống chỉ định điều trị bằng methotrexate

Chỉ định điều trị bằng MTX bao gồm bệnh nhân có huyết động ổn định và khối thai ngoài tử cung chưa vỡ. Tuy nhiên, cần thận trọng với những bệnh nhân có dấu hiệu chảy máu cấp hoặc tình trạng sức khỏe không ổn định.

IV. Kết quả điều trị chửa ngoài tử cung bằng methotrexate

Nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội cho thấy tỷ lệ thành công của điều trị CNTC bằng MTX đơn liều đạt khoảng 86%. Kết quả này cho thấy MTX là một phương pháp hiệu quả và an toàn trong điều trị CNTC.

4.1. Tỷ lệ thành công và các yếu tố ảnh hưởng

Tỷ lệ thành công của điều trị bằng MTX phụ thuộc vào nhiều yếu tố như kích thước khối chửa, nồng độ βhCG, và triệu chứng lâm sàng. Những bệnh nhân có triệu chứng nhẹ thường có tỷ lệ thành công cao hơn.

4.2. Tác dụng không mong muốn của methotrexate

Mặc dù MTX có nhiều ưu điểm, nhưng cũng có thể gây ra một số tác dụng không mong muốn như buồn nôn, mệt mỏi, và đau bụng. Việc theo dõi chặt chẽ sau điều trị là cần thiết để phát hiện sớm các biến chứng.

V. Kết luận và triển vọng trong điều trị chửa ngoài tử cung

Điều trị chửa ngoài tử cung bằng methotrexate đơn liều tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội đã cho thấy nhiều kết quả khả quan. Nghiên cứu này mở ra hướng đi mới trong việc điều trị CNTC, giúp bảo tồn khả năng sinh sản cho bệnh nhân.

5.1. Tương lai của điều trị chửa ngoài tử cung

Với sự phát triển của y học, các phương pháp điều trị CNTC sẽ ngày càng được cải thiện. Nghiên cứu thêm về MTX và các liệu pháp mới sẽ giúp nâng cao hiệu quả điều trị.

5.2. Khuyến nghị cho các bác sĩ và bệnh nhân

Các bác sĩ cần nâng cao nhận thức về CNTC và các phương pháp điều trị hiện có. Bệnh nhân cũng nên được tư vấn đầy đủ về các lựa chọn điều trị để có quyết định đúng đắn.

16/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả điều trị chửa ngoài tử cung bằng methotrexate đơn liều tại bệnh viện phụ sản hà nội năm 2021

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Chửa ngoài tử cung (CNTC) là trƣờng hợp trứng đƣợc thụ tinh, làm tổ và phát triển ngoài buồng tử cung [20], đây là một bệnh lý cấp cứu thƣờng gặp trong sản khoa, chiếm khoảng 1 - 2% tổng số trƣờng hợp mang thai và hiện nay tỷ lệ này ngày càng gia tăng [8]. Sự gia tăng tần suất bệnh đƣợc nhiều tác giả cho rằng có liên quan đến nhiều yếu tố nhƣ tiền sử nạo, hút thai, sử dụng các biện pháp tránh thai (dụng cụ tử cung, thuốc tránh thai), viêm nhiễm tiểu khung, phẫu thuật tiểu khung, các phƣơng pháp hỗ trợ sinh sản đều góp phần vào việc làm tăng tần suất CNTC. CNTC nếu không đƣợc chẩn đoán và xử trí kịp thời có thể để lại những hậu quả ảnh hƣởng trực tiếp đến sức khoẻ, cũng nhƣ tính mạng của bệnh nhân. Khối chửa ngoài tử cung có thể vỡ bất cứ lúc nào gây chảy máu ồ ạt trong ổ bụng nếu không cấp cứu kịp thời bệnh nhân có thể tử vong.

Hiện nay có hai phƣơng pháp điều trị CNTC chủ yếu là: điều trị ngoại khoa và điều trị nội khoa bằng methotrexate (MTX)… Với nhiều ƣu điểm của điều trị nội khoa nhƣ tránh đƣợc tai biến do gây mê và phẫu thuật, bảo tồn đƣợc vòi tử cung, đồng thời ít ảnh hƣởng về mặt thẩm mỹ,… phƣơng pháp điều trị CNTC bằng MTX ngày càng đƣợc chú ý hơn. Ngƣời đầu tiên tiến hành điều trị CNTC bằng MTX là Tanaka T. thực hiện năm 1982 đạt tỷ lệ thành công là 83% [42,50]. Từ sau nghiên cứu này đã có thêm nhiều nghiên cứu liên quan đến tác dụng của điều trị CNTC bằng MTX nhƣ: Stovall T.

Ở Việt Nam, năm 2000, Tạ Thị Thanh Thuỷ đã tiến hành điều trị 110 trƣờng hợp CNTC chƣa vỡ bằng MTX tại Bệnh viện Phụ sản Hùng Vƣơng đạt tỷ lệ thành công 90,9% [27]. Năm 2006, Vũ Thanh Vân nghiên cứu trên 105 bệnh nhân điều trị MTX tại BVPSTW tỷ lệ thành công 91,4% [35]. Năm 2011, Nguyễn Thị Bích Thuỷ tiến hành nghiên cứu so sánh điều trị MTX đơn liều và đa liều cho 172 bệnh nhân, mỗi nhóm 86 bệnh nhân, tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, tỷ lệ thành công của nhóm đơn liều đạt 86% và nhóm đa liều đạt 90,7% [26]. 1 Mặc dù trên thế giới và tại Việt Nam đã có những nghiên cứu về điều trị CNTC bằng Methotrexate, tuy nhiên tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội tỷ lệ ngƣời bệnh CNTC điều trị nội khoa còn thấp, đồng thời trong những năm gần đây tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội chƣa có nghiên cứu nào về điều trị CNTC bằng Methotrexate đơn liều.

Với mong muốn tìm hiểu đầy đủ về các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị CNTC bằng MTX chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “ Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị chửa ngoài tử cung bằng Methotrexate đơn liều tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021” với các mục tiêu sau: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của những trường hợp chửa ngoài tử cung điều trị bằng Methotrexate đơn liều tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021. Nhận xét kết quả điều trị chửa ngoài tử cung bằng Methotrexate đơn liều tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.

CHỬA NGOÀI TỬ CUNG 1. Định nghĩa chửa ngoài tử cung Chửa ngoài tử cung là trƣờng hợp thai làm tổ ngoài buồng tử cung: vòi tử cung (VTC), buồng trứng, ổ bụng, ống cổ tử cung [29]… 1. Giải phẫu và sinh lý vòi tử cung * Giải phẫu và mô học vòi tử cung + Vòi tử cung là ống dẫn noãn đến 1/3 VTC để thụ tinh và tiếp tục dẫn trứng đến làm tổ ở buồng tử cung (TC), một đầu mở vào ổ bụng, một đầu thông với buồng TC, dài khoảng 10 - 12 cm. + Vòi tử cung đƣợc chia làm 4 đoạn: - Đoạn kẽ: nằm trong thành tử cung, dài khoảng 1 cm, khẩu kính rất hẹp, dƣới 1 mm.

- Đoạn eo: chạy ra ngoài, dài 2 - 4 cm, tiếp nối với đoạn kẽ, khẩu kính 1 mm. - Đoạn bóng: dài 5 - 7 cm chạy dọc bờ trƣớc của buồng trứng nối giữa đoạn eo và đoạn loa, lòng ống có những nếp gấp của lớp niêm mạc. - Đoạn loa: là đoạn tận cùng của VTC dài khoảng 2 cm, tỏa hình phễu có từ 10 - 12 tua, mỗi tua dài 1- 1,5 cm, dài nhất là tua Richard dính vào dây chằng vòi - buồng trứng, các tua có nhiệm vụ hứng noãn [4]. * Sinh lý vòi tử cung Sự hoạt động của VTC chịu tác động của estrogen và progesterone.

Estrogen làm tăng co bóp VTC, còn progesterone làm tăng bài tiết dịch và làm giảm hoạt động VTC. Dƣới tác động của hai nội tiết tố này, VTC nhu động nhịp nhàng đẩy trứng về phía buồng TC. Quá trình thụ tinh thƣờng xảy ra 1/3 ngoài VTC. Sau khi noãn đƣợc thụ tinh sẽ di chuyển ở trong lòng VTC từ 48 - 72 giờ.

Trên đƣờng di chuyển này 3 trứng phân bào thành phôi dâu có 16 tế bào. Những cản trở trong quá trình di chuyển này có thể làm trứng ngừng lại, dẫn đến CNTC [31]. Phân đoạn VTC [44] 1. Nguyên nhân chửa ngoài tử cung * Do cấu tạo bất thường của vòi tử cung - Do cấu trúc giải phẫu không hoàn chỉnh, bản thân VTC kém phát triển.

- Tổn thƣơng do viêm nhiễm: là nguyên nhân thƣờng gặp nhất biểu hiện: viêm VTC dạng nang nƣớc, ứ dịch VTC, ổ viêm ở đoạn eo VTC. - Các khối u ở VTC: những khối u hoặc khối lạc nội mạc tử cung đã chèn ép hoặc phát triển vào lòng VTC, gây hẹp lòng VTC [4,21]. * Rối loạn cân bằng nội tiết Làm thay đổi sự co bóp của vòi tử cung hoặc giảm sự chuyển động của lông tế bào sẽ ảnh hƣởng đến sự vận chuyển của phôi gây nên CNTC [18]. * Sự bất thường của phôi 4 Do bản thân phôi phát triển quá nhanh trong quá trình phân bào hoặc có nhiều thai nên kích thƣớc khối thai lớn nhanh và to hơn lòng vòi tử cung nên bị giữ lại trong vòi tử cung.

* Một số yếu tố khác - Trong hỗ trợ sinh sản: IVF, bơm giao tử hoặc hợp tử vào vòi tử cung. - Khối u xơ tử cung, u nang buồng trứng. Các yếu tố nguy cơ gây chửa ngoài tử cung Bảng 1. Các yếu tố nguy cơ gây CNTC (theo William Obstetrics) [40] Các yếu tố nguy cơ CNTC Tỷ lệ (%) Tiền sử chửa ngoài tử cung 3 - 13 Phẫu thuật thông vòi tử cung 4 Vô sinh do vòi tử cung 9 Đặt dụng cụ tử cung 1 - 4,2 Bất thƣờng giải phẫu vòi tử cung 3,8 - 21 Tiền sử điều trị vô sinh 2,5 - 3 Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 2-8 Viêm nhiễm đƣờng sinh dục 2-4 Nhiễm Chlamydia 2 Viêm vòi tử cung 1,5 - 6,2 Nghiện thuốc lá 1,7 - 4 Tiền sử sảy thai 0,6 - 3 Sinh hoạt tình dục bừa bãi 1,6 - 3,5 Tiền sử mổ đẻ cũ 1 - 2,1 1.

Giải phẫu bệnh * Vị trí khối chửa theo giải phẫu: 5 CNTC ở VTC chiếm 95% các trƣờng hợp, còn các vị trí khác chiếm ít hơn khoảng 5% trƣờng hợp [7,29]. - Chửa ở vòi tử cung: Chiếm khoảng 95% + Chửa ở đoạn bóng chiếm khoảng 70%. + Chửa ở đoạn eo chiếm khoảng 12%. + Chửa ở đoạn loa chiếm khoảng 11%.

+ Chửa ở đoạn kẽ chiếm khoảng 2 - 3%. - Chửa ở buồng trứng chiếm khoảng 3%. - Chửa ở ống cổ tử cung: < 1%. - Chửa trong ổ bụng: 1%.

- Ngoài ra một số tác giả ghi nhận trƣờng hợp làm tổ ở dây chằng rộng, phối hợp thai trong và ngoài TC (1/30 000 thai), chứa các tạng gan lách [7,29]. Vị trí CNTC [40] * Sự tiến triển của chửa ngoài tử cung - Khi trứng làm tổ ở VTC, gai rau không gặp ngoại sản mạc, không tạo thành hồ huyết, không đƣợc cấp máu đầy đủ, do đó có hai biến chứng có thể xảy ra: 6 + Vỡ VTC: do gai rau ăn sâu vào lớp cơ làm thủng VTC hoặc do VTC căng to làm vỡ vòi, đồng thời các mạch máu cũng bị vỡ gây chảy máu trong ổ bụng. Mức độ chảy máu có thể khác nhau: - Chảy ồ ạt, gây tràn ngập máu trong ổ bụng. - Chảy từ từ từng ít một, đọng ở vùng thấp trong ổ bụng và đƣợc khu trú lại tạo ra túi máu khu trú.

+ Sảy thai: vì thai làm tổ lạc chỗ nên rau dễ bị bong ra gây sảy, chảy máu trong ổ bụng và chảy máu âm đạo nhƣ sảy thai tự nhiên khi thai nằm trong buồng TC. - Nếu máu chảy đƣợc khu trú trong VTC thì gọi là ứ máu VTC. Bọc thai còn nhỏ sẽ chết và tiêu đi. - Nếu bọc thai bong dần, máu chảy ít một, đọng lại túi cùng Douglas hoặc ở cạnh TC và đƣợc cơ quan lân cận nhƣ ruột, mạc treo, mạc nối đến khu trú lại sẽ tạo thành khối máu tụ, thƣờng gọi là huyết tụ thành nang.

+ Nếu bọc thai sẩy, chảy máu ồ ạt, sẽ gây ngập máu ổ bụng. - Trong trƣờng hợp trứng làm tổ tại buồng trứng, thƣờng bị vỡ hay sảy gây chảy máu, một số ít trƣờng hợp thai tự chết tiêu dần đi. - Chửa trong ổ bụng rất hiếm gặp. Thai bị chết giữa chừng, có khi thai sống đến đủ tháng [29].

Lâm sàng - Chậm kinh: khoảng 1/3 số bệnh nhân không có hay không rõ dấu hiệu chậm kinh [29]. - Ra máu âm đạo không giống máu kinh, thƣờng hay rong huyết kéo dài. Theo Vƣơng Tiến Hòa, 92% bệnh nhân CNTC có chẩn đoán sớm có ra máu âm đạo (độ nhạy 76,6% và giá trị chẩn đoán dƣơng tính là 92%) [13]. - Đau bụng là triệu chứng hay gặp trong CNTC với mức độ đau khác nhau [29].

Đau bụng có độ nhạy 90,2% nhƣng giá trị chẩn đoán dƣơng tính thấp 65%. Trong CNTC sớm thƣờng không có dấu hiệu đau bụng dữ dội, đau 7 lan lên vai hoặc thúc xuống hậu môn làm bệnh nhân muốn đi ngoài. Khám phần phụ có khối nề ấn đau rất có giá trị chẩn đoán (độ nhạy 86,5% và giá trị chẩn đoán dƣơng tính 90%) [13]. - Dấu hiệu toàn thân: nếu CNTC vỡ sẽ xuất hiện choáng mất máu, điển hình nhất là thể lụt máu ổ bụng.

Đôi khi ngƣời bệnh có thể bị ngất, một dấu hiệu hiếm gặp nhƣng có giá trị. Ngất vì quá đau do VTC bị nứt vỡ, vì bị mất máu [21]. - Cùng đồ đầy đau, chọc dò có máu không đông lẫn máu cục, thƣờng gặp ở những trƣờng hợp CNTC vỡ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu này cung cấp cái nhìn tổng quan về các phương pháp điều trị và nghiên cứu liên quan đến các vấn đề y tế quan trọng. Một trong những điểm nổi bật là việc điều trị nội khoa chửa ngoài tử cung, một tình trạng nghiêm trọng cần được can thiệp kịp thời. Đặc biệt, tài liệu nhấn mạnh những lợi ích của việc áp dụng các phương pháp hiện đại trong điều trị, giúp cải thiện sức khỏe và chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Ngoài ra, tài liệu cũng đề cập đến nghiên cứu về kết quả can thiệp bít thông liên thất qua ống thông, cho thấy sự tiến bộ trong kỹ thuật y khoa và khả năng phục hồi của bệnh nhân. Để hiểu rõ hơn về các phương pháp này, bạn có thể tham khảo tài liệu Điều trị nội khoa chửa ngoài tử cung tại bệnh viện trung ương thái nguyên.

Bên cạnh đó, nghiên cứu về tương tác thuốc trong điều trị ngoại trú cũng rất quan trọng, giúp các bác sĩ tối ưu hóa đơn thuốc và nâng cao hiệu quả điều trị. Để tìm hiểu thêm, hãy xem tài liệu Nghiên cứu tương tác thuốc có ý nghĩa lâm sàng trong đơn thuốc điều trị ngoại trú tại trung tâm y tế thành phố vị thanh năm 2019 2020.

Những tài liệu này không chỉ cung cấp thông tin hữu ích mà còn mở ra cơ hội cho bạn khám phá sâu hơn về các chủ đề y tế quan trọng, từ đó nâng cao kiến thức và hiểu biết của mình.