CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ GTGT ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH A. Tổng quan tài liệu Các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu: Hoàn thiện công tác quản lý thuế GTGT đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Quảng Trị của tác giả Nguyễn Thị Phương Linh năm 2018. Tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp thu thập số liệu, phương pháp thống kê mô tả, so sánh, tổng hợp để đánh giá, phân tích số liệu và làm sáng tỏ các vấn đề liên quan đến nghiên cứu đề tài của mình. Kết quả nghiên cứu đạt được là : - Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về quản lý thuế GTGT đối với các DN NQD; nội dung quản lý thu thuế GTGT đối với các DN NQD; vai trò của các doanh nghiệp NQD; thực tiễn công tác quản lý thuế GTGT đối với các DN NQD trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, kinh nghiệm quản lý thu thuế của một số nước trên thế giới để làm cơ sở giải quyết những nội dung nghiên cứu của đề tài.
- Phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý thu thuế GTGT đối với các DN NQD trên địa bàn tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2014-2016. - Từ đó, nêu ra các thành tựu, hạn chế còn tồn tại, chỉ ra nguyên nhân, khó khăn và đề xuất một số biện pháp cụ thể mang tính địa phương căn cứ theo quy trình quản lý thuế và kiến nghị một số giải pháp nhằm tăng cường và hoàn thiện công tác quản lý thuế trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, chủ yếu là: Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng dẫn NNT trong quá trình thực hiện nghĩa vụ nộp thuế thông qua các kênh thông tin đa dạng, tăng cường công tác dịch vụ hỗ trợ cho NNT, xây dựng một chính sách thuế đơn giản, phù hợp, công khai để NNT dễ dàng thực hiện nghĩa vụ của mình. Bên cạnh đó, cơ quan thuế SVTH: Hồ Thị Kiều Nhi 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thị Hồng Quyên cũng cần phải tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, áp dụng công nghệ quản lý thuế hiện đại thông qua các chương trình tin học hoá, tự động hoá là những biện pháp mang tính cấp bách.
Cơ quan thuế cần nghiên cứu ban hành, điều chỉnh các quy định về quản lý thuế chưa phù hợp để áp dụng có hiệu quả hơn trong thực tế là những biện pháp mang tính lâu dài. Hoàn thiện công tác quản lý thuế GTGT đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Cục thuế tỉnh Thanh Hóa của tác giả Hoàng Văn Hải năm 2014. Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu đề tài gồm phương pháp thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp; phương pháp phân tổ để tổng hợp và hệ thống tài liệu; các số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS, Excel; phương pháp thống kê mô tả, kiểm định giá trị trung bình để phân tích, mô tả các đặc trưng về lượng của các chỉ tiêu trong đề tài nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu đạt được là: - Góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận về thuế GTGT và quản lý thuế GTGT đối với doanh nghiệp NQD.
- Phân tích thực trạng công tác quản lý thuế GTGT đối với các DNNQD tại Cục Thuế tỉnh Thanh Hóa. - Từ đó, luận văn đưa ra những thành tựu mà cán bộ, công nhân viên Cuc thuế tỉnh Thanh Hóa đã đạt được. Bên cạnh đó, chỉ ra những bất cập còn tồn tại và đề xuất các giải pháp như: Hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật thuế GTGT, quy định về hóa đơn, chính sách về khuyến khích người tiêu dùng lấy hóa đơn khi mua hàng; nâng cao chất lượng của mô hình quản lý thuế theo chức năng; tranh thủ sự ủng hộ của chính quyền các cấp; phối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng; công tác thi đua khen thưởng; công tác kiểm tra nội bộ của Cục Thuế Thanh Hóa… SVTH: Hồ Thị Kiều Nhi 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thị Hồng Quyên B.
Tổng quan lý thuyết 1.1 Tổng quan về thuế 1. Khái niệm Thuế ra đời từ khi nhà nước hình thành, nó gắn liền với sự tồn tại và phát triển của nhà nước. Từ đó đến nay, thuế đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài và khái niệm thuế cũng không ngừng được hoàn thiện. Mác: “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền của người dân để dùng vào việc chi tiêu của nhà nước.
Ăng-Ghen tuyển tập: tập 2, 1962) Lê Nin cho rằng: “Thuế là cái mà nhà nước thu của dân nhưng không bù lại” và “Thuế cấu thành nên nguồn thu của chính phủ, nó được lấy ra từ sản phẩm của đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư bản hay thu nhập của người chịu thuế.” (Lê Nin toàn tập: tập 15, 2005) Trong cuốn “Tài chính công” (Gaston Jeze, “Finances Puliques”, 1934), nhà kinh tế học Gaston Jeze đã đưa ra một khái niệm cổ điển nhất và cũng nổi tiếng nhất về thuế: “Thuế là một khoản đóng góp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp các khoản chi tiêu của nhà nước”. Trên góc độ kinh tế học, thuế được định nghĩa như sau: Thuế là biện pháp đặc biệt, theo đó, nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của nhà nước. Trên góc độ phân phối thu nhập, khái niệm thuế được hiểu: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của nhà nước (quỹ ngân sách nhà nước) để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. SVTH: Hồ Thị Kiều Nhi 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Phạm Thị Hồng Quyên Trên góc độ người nộp thuế thì thuế được định nghĩa: Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Theo thời gian, khái niệm về thuế đã được bổ sung, chỉnh sửa và hòan thiện như sau: “Thuế là một khoản đóng góp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chỉ tiêu của nhà nước trong việ thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của nhà nước”. Đặc điểm của thuế Đã có nhiều khái niệm khác nhau về thuế nhưng đều có chung những nhất quán về bản chất, đặc điểm của thuế. Bản chất của thuế được thể hiện bởi những đặc điểm sau: Thứ nhất, thuế là khoản thu mang tính bắt buộc.
Nhà kinh tế học Joseph E. Stiglitz cho rằng: “Thuế khác với đa số những khoản chuyển giao tiền từ người này sang người kia: Trong khi tất cả những khoản chuyển giao đó là tự nguyện thì thuế là bắt buộc”. Tính bắt buộc thể hiện ở chỗ, đối với người nộp thuế, đây là nghĩa vụ chuyển giao tài sản của họ cho nhà nước khi có đủ điều kiện mà không phải là quan hệ thanh toán dù trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng. Đối với các cơ quan thu thuế, khi thay mặt nhà nước thực hiện các hành vi nhất định cũng không được phép lựa chọn thực hiện hay không thực hiện hành vi thu thuế, có sự phân biệt đối xử đối với NNT.
Tính bắt buộc này liên quan mật thiết với một đặc điểm khác của thuế, đó là tính không hoàn trả trực tiếp. Đặc điểm này cho thấy không phải ai cũng tự nguyện nộp thuế khi giá trị mình bỏ ra không tương đương với giá trị nhận được. Do đó, để đảm bảo nguồn thu lâu dài và ổn định cho ngân sách nhà nước, tính bắt buộc của thuế là cần thiết. Thứ hai, thuế mang tính pháp lý.
SVTH: Hồ Thị Kiều Nhi 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thị Hồng Quyên Tính pháp lý được thể hiện thông qua các quy định cần thiết về phạm vi, hình thức, các thủ tục và quy trình pháp lý liên quan đến nghĩa vụ nộp thuế như đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, căn cứ tính thuế, phương pháp tính thuế, mức thuế phải nộp, thời hạn nộp thuế và các chế tài mang tính cưỡng chế khác. Việc áp đặt pháp luật nhà nước trong việc quản lý và thu thuế gián tiếp đảm bảo tính ổn định trong việc xác định nguồn thu tài chính của nhà nước và đảm bảo tính ổn định của thuế. Thứ ba, thuế là một khoản thu không hoàn trả trực tiếp nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước trong việc thực hiện các chức năng quản lý xã hội, chức năng kinh tế - xã hội của nhà nước.
Trước khi thu thuế, Nhà nước không hứa hẹn cung ứng trực tiếp một dịch vụ công nào cho người nộp thuế. Sau khi thu thuế, Nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế. Tuy nhiên một phần thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua các hàng hóa công cộng, bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế-xã hội, chi xây dựng cơ sở hạ tầng, và tòa án, viện kiểm soát, hệ thống quân đội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm cuộc sống cho mọi người; chi cho hệ thống giáo dục, nghiên cứu khoa học công nghệ, y tế, văn hóa, nghệ thuật,thể dục thể thao, chi cho hệ thống an sinh xã hội, chi hỗ trợ đảm bảo công bằng cho mọi người. Chức năng của thuế Lịch sử phát triển của thuế đã chứng minh rằng, thuể có 3 chức năng cơ bản, đó là: Thứ nhất, thuế bảo đảm nguồn thu cho NSNN nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước.
SVTH: Hồ Thị Kiều Nhi 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thị Hồng Quyên Mỗi một loại thuế mà Nhà nước ban hành đều nhằm vào mục đích là tạo nguồn thu cho NSNN. Trong nền kinh tế thị trường thì vai trò này của thuế càng nổi bật bởi thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN. Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, thuế là nguồn thu chủ yếu và quan trọng nhất.
Ở nước ta, nguồn thu từ thuế cũng thường chiếm khoảng trên 80% tổng các khoản thu của NSNN (theo Cổng thông tin điện tử Bộ tài chính).