mở đầu cho chuỗi phản ứng (Lodish và ctv, 2012). Giai đoạn bắt cặp: tiếp tục hạ nhiệt độ xuống khoảng 50 - 60 °C các liên kết hydro được tái cấu trúc, các cặp môi tương ứng (chiều 5’ - 3”) được gắn vào trình tự DNA mạch khuôn ở đầu 3’. Tuy thuộc vao nhiệt độ bắt cặp của các cặp mỗi mà thiết kế chu trình nhiệt cho phù dé khuếch đại được sản phẩm đặc hiệu và tránh các trường hợp bắt cặp chéo tạo sản phâm phụ (Lodish và ctv, 2012). Giai đoạn kéo đài: tiến hành gia nhiệt lên 72 °C, Taq polymerase liên kết với các DNA sợi đơn, các nucleotide tiến hành bat cặp với mạch khuôn theo nguyên tắc bé sung.
Quá trình được lặp đi lặp lại với chu trình nhiệt không đối thường là 20 - 35 chu kỳ tùy thuộc kích thước DNA mục tiêu với số bản sao tăng lên theo cấp số nhân sau mỗi chu kỳ (Lodish và ctv, 2012). Kỹ thuật điện di Sản phẩm được tạo thành là các đoạn gen chứa trình tự DNA mục tiêu ban đầu, được khuếch đại chính xác ở kích thước mong muốn. Việc phát hiện và phân tích các sản pham PCR được thực hiện nhanh chóng thông qua quá trình điện di các sản phẩm PCR va quan sát trên gel agarose (hoặc poly acrylamide) dưới tia cực tim (Kadri, 2020). Phương pháp phổ biến dé hiển thi band DNA đã phân tích bang điện di gel là u gel trong dung dịch chứa thuốc nhuộm ethidium bromide phát huỳnh quang.
Phân tử dạng phang này gắn với DNA bang cách cài vào giữa các cặp bazơ, làm tăng nồng độ ethidium bromide trong DNA cũng như tăng độ phát huỳnh quang nội tai của nó. Do vậy khi chiếu tia cực tím, các vùng gel chứa DNA sẽ phát huỳnh quang sáng hơn nhiều so với các vùng không chứa DNA (Lodish và ctv, 2012). Minus Solution Minus _ 1 => Apply voltage to the electrode Plus Plus Hình 2. Cơ chế phân tách các phân tử DNA theo kích thước trong điện di (Matsusada Precision: https://www.
Các phan tử DNA mang điện tích âm lớn nên chuyền động về cực dương khi tiến hành điện di gel, phần vật chất gel làm ngăn cản sự khuếch tán ngẫu nhiên nên những phân tử DNA có cùng chiều dài (kích thước) sẽ cùng đi chuyển, tạo thành một band với độ rộng của band bằng độ rộng của các giếng chứa hỗn hợp DNA và chất phát huỳnh quang khi tiến hành chạy điện di. Có nhiều phương pháp điện di gel được ứng dụng, tùy thuộc vào kích thước sản phẩm điện di mong muốn mà lựa chọn phương pháp phù hợp, các phân tử DNA nhỏ khoảng 10 đến 2000 nucleotide được điện di trên gel polyacrylamide, các phân tử DNA lớn hơn từ khoảng 200 nucleotide đến trên 20 kb được điện di trên gel agarose (Lodish và ctv, 2012). Các band của sản phẩm phân tách được quan sát dưới tia cực tím sử dụng chụp ảnh phóng xạ tự ghi (nếu các đoạn được đánh dấu phóng xạ) hoặc nhuộm bằng chất phát 5 huỳnh quang gan DNA (ví dụ là ethidium bromide). Về cơ chế thực hiện phản ứng, EtBr gắn với DNA bằng cách cài vào giữa các cặp bazơ làm tăng nồng độ ethidium trong DNA đồng thời lam tăng độ phát huỳnh quang nội tại của nó.
Vì vậy, các vùng gel có chứa DNA sẽ phát huỳnh quang sáng hơn (tùy thuộc lượng DNA có trong sản phẩm) so với các vùng gel không chứa DNA khi chúng ta chiếu tia cực tím (Lodish và ctv, 2012). Sơ lược về kỹ thuật mPCR (Multiplex Polymerase Chain Reaction) 2. Sơ lược về kỹ thuật mPCR Multiplex PCR, một kỹ thuật được xây dung, cải tiến dựa trên cơ chế của PCR nhằm giúp tiết kiệm được thời gian cũng như hóa chất phản ứng, tổng hợp đồng thời nhiều sản phẩm mục tiêu với các kích thước phân tách khác nhau từ các cặp mồi trong cùng một phản ứng PCR (Markoulatos và ctv, 2002; Nguyễn Thành Luân và ctv, 2019). Bên cạnh việc kiểm tra đồng thời nhiều yêu tố gây bệnh khác nhau, thì phản ứng mPCR có thê kiểm tra nhiều trình tự gen độc lực khác nhau cho cùng một yếu tố gây bệnh ở các chủng vi khuẩn phô biến như: E.
Các ứng dụng của kỹ thuật mPCR có thể ké đến như: phân tích đột biến và đa hình (mutation and polymorphism analysis), phân tích định lượng (quantitative analysis), và phát hiện RNA (RNA detection) (Elnifro và ctv, 2000). Nguyên tắc thực hiện phan ứng mPCR Tương tự như kỹ thuật PCR, ở giai đoạn biến tính DNA sợi đôi được gia nhiệt đến 95 °C và tiến hành tháo xoắn thành DNA mạch đơn. Ở giai đoạn bắt cặp, thay vì chỉ sử dụng một cặp môi thì ở phản ứng mPCR, có thể sử dụng đồng thời nhiều cặp môi tổng hợp cùng lúc các sản phâm PCR mục tiêu có kích thước khác nhau. Tuy nhiên, vì sử dụng đồng thời nhiều cặp môi khác nhau sẽ xảy ra các trường hợp các cặp mồi tự bắt với nhau, tao ra nhiều sản phẩm phụ do cặp môi khuếch đại không đặc hiệu hoặc khả năng bắt cặp chéo, kết thúc quá trình tổng hợp DNA mục tiêu quá sớm, các sản phẩm trong mPCR cho kích thước gần nhau khó quan sát, cặp mỗi này ức chế hoạt động của các cặp môi khác,.
việc kiểm tra các thông số và độ đặc hiệu của các cặp môi trong phản ứng mPCR là cần thiết dé giảm thiểu các trường hop nói trên. Sử dụng các cặp môi có nhiệt độ bắt cặp tương tự nhau, kiểm tra trên các phần mềm Blast của NCBI, Thermo Fisher Scientific (cac trinh ty môi tối có chiều dài từ 18 - 30 bp, %GC từ 35 - 60 %), sự hiện diện của trình tự môi đó không tương đồng trên các bộ gen của các mẫu vi khuẩn khác (Elnifro va ctv, 2000). Sản phẩm mPCR được tạo thành gồm nhiều sản phẩm khác nhau tương ứng với số lượng cặp môi được sử dụng và các đoạn gen đó được khuếch đại chính xác ở kích thước mong muốn. Cách quan sát kết quả tương tự như phản ứng PCR.
Sơ lược về ngành nuôi chim yến và các vấn đề liên quan Trong nhiều năm trở lại đây, ngành nuôi chim yến đã và đang trở thành ngành nghé được quan tâm đầu tư va dem lại lợi nhuận, giá trị kinh tế cao, nhiều nhà nuôi chim yến được xây dựng và đi vào hoạt động, tính đến tháng 12/2018 ghi nhận gần 9000 nhà nuôi chim yến trải dài ở ba miền Bắc, Trung, Nam. Việc phát triển ngành nuôi chim yến sẽ kéo theo những van đề liên quan như việc đảm bảo nguồn thức ăn, chi phí xây dựng và bảo trì nhà nuôi chim yến cũng như việc dam bao chất lượng tổ yến được cung cấp cho người tiêu dùng (Đỗ Văn Hoan, 2018; Nguyễn Lân Hùng Son, 2019). Theo như chúng ta đã biết, tô yến là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao và tốt cho sức khỏe người sử dụng. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tô yến như nguồn thức ăn, môi trường làm tô, các bệnh thường gặp do tập tính sinh thái.
Vì vậy, việc phát hiện, phòng ngừa và điều trị là cần thiết (Hồ Thị Loan, 2018). Sơ lược về vi khuẩn E. coli và phân loại các subtypes gây bệnh 2. Sơ lược về vi khuẩn E.
coli Vi khuẩn là những vi sinh vậy nhỏ bé có kích thước hiển vi (1 - 3 uum), cầu tao bởi tế bao nhân sơ, là những vi sinh vật cổ xưa nhất xuất hiện khoảng 3,5 tỷ năm trước đây. Chúng sống ở khắp nơi trên Trái Đất như: đất, nước, không khí và cơ quan ruột ở động vật (như vi khuẩn E.), thực hiện hoạt động dinh dưỡng dưới nhiều hình thức như: hóa tự dưỡng, quang dưỡng, hóa dị dưỡng, quang dị dưỡng hoặc có thê sống trong mối quan hệ ký sinh với cơ thé vật chủ (Vũ Văn Vu, 2015). coli là vi khuẩn gram âm, hiếu khí hoặc ky khí, có dang hình que, phần lớn cau trúc có đuôi dé dé bám dính trên bề mặt vật chủ, thuộc chi Escherichia, thường duoc tìm thấy trong hệ cơ quan đường ruột ở người và động vật nói chung. coli sống ký sinh trong đường ruột ở người và các loài động vật khác, phần lớn không gây hại cho cơ thé vật chủ mà còn giúp tông hợp các chất như: glucose, lactose, chỉ số ít có mang các nhóm mang gen độc lực gây bệnh như ETEC, DAEC, EAEC, EPEC, EHEC,.
là nguyên 7 nhân gây bệnh tiêu chảy các cap ở người và các loài động vật nói chung (Campieri và ctv, 2001; Koochakzadeh va ctv, 2015). Flagellum — Nucleoid (DNA) Ribosomes Cytoplasm Plasma Membrane Capsule Fimbriae (a) Acc.V Spot TM Det WD Exp /————j 2um 30. Hình anh vi khuẩn Z. coli được quan sat.
(a) Cấu tric vi khuẩn E. coli (Dreamtimes: https://www.com); (5) Vi khuan E. coli duoc quan sat dưới độ phóng đại 10961X thuộc chung O157:H7 (Public Heath Image Library (PHIL): https://phil. coli con được xem như một vi sinh vật chi thi cho sự nhiễm phân ở các loài động vật, thông qua phân các nhóm subtypes mang gen độc lực gây bệnh được thải ra môi trường bên ngoài, tùy điều kiện mà chúng có thé tổn tại và phát triển nếu trong thời gian này, các cơ thê động vật khác tiêp xúc với phân có chứa các vi khuân đang phân chia thì nguy cơ cao sẽ lây lan vả hình thành bệnh trên cơ thể vật chủ mới (USGS science for a changing world: https://www.
Phan loại các subtypes E. coli mang gen độc lực gây bệnh Dựa vào kha năng xâm nhập và khả năng sản sinh độc tố mà E. coli được phân thành sáu subtypes: Enteropathogenic EF. co/i (EPEC), Shiga toxin - producing E.
coli (EIEC), Diffusely adherent Z. Bên cạnh đó, người ta da phát hiện thêm một loại E. co/i mới là Adherent invasive E. Typel pili, AIEC — Long polar fimbria ETEC CAECAM6 £7 Muc If# pic EIEC/ Shigella BO Actin Xe @ O lo) (5) © i 6 `.
Actin tail —— Lateral spread I ge © oS Trans- cytosis Granuloma OD Phagosome formation § Enterocyte J\ Goblet cell JN M cell J. ~~ *LEE-positive STEC ° ° ° ` Oo Invasion ° ° \ Macrophage Intraphagosome replication and survival Hinh 2. Co ché hoat động cua các subtypes của E. Co ché gây bệnh của các subtypes cua È.
coli gây bệnh nói chung và ba loại subtypes được dùng trong nghiên cứu này là ETEC, DAEC và EAEC được trình bày ở Hình 2. Về cơ bản, các subtypes này phải bám lên các tế bào ruột của cơ thể vật chủ thì mới có thé gây bệnh. ETEC hay còn gọi là E. coli sinh độc tố ruột sử dụng các yếu tổ xâm lan (CFs) nhằm gắn vào tế bào ruột của cơ thé vật chủ.
DAEC hay còn gọi là E.