Đặt vấn đề Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.) là một loài cây thuộc họ Nhân sâm (Araliaceae), còn gọi là sam Việt Nam, sâm Khu Năm (sâm K5), sâm trúc, củ ngai rom con hay cây thuốc giấu, là loại sâm quý được tìm thấy tại miền Trung Trung Bộ Việt Nam, được đoàn điều tra duoc liệu Ban Dân Y khu 5 do được sĩ Đào Kim Long và Nguyễn Châu Giang hướng dẫn phát hiện vào năm 1973 tại vùng Ngọc Lay, huyện Đăk Tô, tinh Kon Tum (Nguyễn Thượng Dong và ctv, 2007). Sâm Ngọc Linh là loài sâm thứ 20 được tìm thấy trên thế giới. Theo kết quả nghiên cứu từ năm 1978 của Bộ Y tế Việt Nam, phan thân rễ của cây sâm Ngọc Linh chứa 26 hợp chat saponin có cấu trúc hóa học đã biết và 26 hợp chất saponin có cau trúc mới không có trong các loại sâm khác. Như vậy, sâm Ngọc Linh là loài sâm quý không chỉ của Việt Nam mà còn của thế giới.
Tuy nhiên, việc khai thác quá mức khiến sâm Ngọc Linh được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam. Vì vậy cần phải có việc tái điều tra, khoanh vùng bảo vệ và thu hái hợp lý trong tự nhiên, nhân giống và trồng cây thuốc quý này ở quy mô lớn (Dương Tấn Nhựt và Hoàng Công Chiến, 2012). Ngày nay, nuôi cấy mô tế bao thực vật đã được ứng dụng nhiều trong nhân nhanh giống cây trồng và kỹ thuật hiện đại này cũng đã được nghiên cứu áp dụng vào việc nhân nhanh giống sâm Ngọc Linh nhằm thay thế cho kỹ thuật nhân giống truyền thống, vừa rút ngắn thời gian vừa mang lại hiệu quả kinh tế. Do đó, đề tài “Khao sát ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng va hàm lượng đường lên kha năng nhân chỗồi sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.) in vitro” được thực hiện nhằm chuẩn bị nguồn mẫu cây sâm Ngọc Linh in vitro sạch bệnh, đồng đều dé phục vụ cho nuôi trồng ngoài tự nhiên.
Mục tiêu của đề tài Đề tài được thực hiện nhằm xác định nồng độ của chất điều hòa sinh trưởng BA và hàm lượng đường tốt nhất lên khả năng nhân chéi sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.) in vitro trên các môi trường khác nhau. Nội dung thực hiện Nội dung 1: Khao sát ảnh hưởng của BA và hàm lượng đường lên mẫu chéi sâm Ngọc Linh in vitro trên môi trường rắn. Nội dung 2: Khao sát ảnh hưởng của BA và hàm lượng đường lên mẫu chéi sâm Ngọc Linh in vitro trên môi trường lỏng tĩnh. Nội dung 3: Khao sát ảnh hưởng của BA và hàm lượng đường lên mẫu chéi sâm Ngọc Linh in vitro trên môi trường lỏng lắc.
TONG QUAN TÀI LIEU 2. Giới thiệu về cây sim Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv. Phân loại khoa học Giới : Plantae Ngành: Magnoliophyta Lớp : Magnoliopsida Bộ : Apiales Họ : Araliaceae Chi : Panax Loài : Panax vietnamensis Ha et Grushv. Tên khác: Sâm Việt Nam, sâm K5, cây thuốc giấu Tên nước ngoài: Vietnames ginseng Hình 2.
Cây sâm Ngọc Linh. Đặc diém phan bo Sâm Ngọc Linh được tìm thấy ở trên núi Ngọc Linh thuộc hai huyện Đăk Tô, Dak Lây tỉnh Kon Tum và huyện Trà My tỉnh Quảng Nam. Cây sâm bắt đầu xuất hiện ở độ cao từ 1200 m trở lên, đạt mật độ cao nhất ở khoảng từ 1700 — 2000 m dưới tán rừng già. Sâm mọc tập trung dưới chân núi Ngọc Linh, một ngọn núi cao 2578 m với lớp đất vàng đỏ trên đá granit day trên 50 cm, có độ mun cao, tơi xốp và rừng nguyên sinh còn rộng nên được gọi là sâm Ngọc Linh.
Cho đến nay người ta vẫn còn phát hiện thêm vùng sâm hoang dại ở đỉnh Ngọc Lum Heo thuộc xã Phước Lộc, huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam. Từ năm 2000 trở lại đây, Viện Dược liệu tiễn hành tái điều tra về điều kiện khí hậu, thé nhưỡng và đặc điểm sinh thái cây ở vùng trồng sâm đưới tán rừng tự nhiên đã cho thấy, hiện nay chỉ có thể tìm thấy sâm Ngọc Lĩnh còn sót ở độ cao 1900 — 2200 m, song cũng rất hiếm. Cây thường mọc đơn lẻ hoặc thành đám nhỏ với nhiều cá thé có tuổi khác nhau trên đất nhiều mùn hoặc ở các hốc đá có mùn. Cây trồng dưới tán rừng tự nhiên ở độ cao 1800 — 1900 m trong hai tỉnh Quảng Nam và Kon Tum có độ tán che của rừng là 70 đến 90% mới phù hợp với độ sinh trưởng và phát triển tốt (Nguyễn Thượng Dong và ctv, 2007).
Đặc điểm hình thái Theo Nguyễn Thượng Dong va ctv (2007), thì sâm Ngọc Linh là cây thân thao, sống lâu năm, cao 40 — 60 cm, đôi khi trên 1 m. Thân rễ nạc, đường kính 1 — 3,5 cm, chiều dai tùy theo số năm sinh trưởng, màu vàng nhạt hay màu vàng đất, có nhiều đốt, mang những vết seo đo thân lui hàng năm dé lại, mỗi vết tương đương với một năm tuổi. Thân rễ mang nhiều rễ con và những vết nhăn doc, dé bẻ gãy, mùi thơm nhẹ, vị đắng hơi ngọt. Ở cuối thân rễ có rễ củ thường ít phát triển, có dạng con quay, hình trụ, đôi khi có dạng hình người, màu vàng nhạt, mang nhiều rễ con và có vân ngang.
Cây sâm trồng có rễ củ phát triển hơn và thường có 3 dang: dạng củ ca rốt, dạng con quay và phô biến là dạng một bó củ. Thân mọc thang đứng, màu xanh hoặc hơi tím, đường kính 5 — 8 mm, thường rụng hằng năm sau mùa sinh trưởng. Tuy vậy, đôi khi có 2 — 3 thân vẫn tôn tại vài năm. Thân rễ có thé phân nhánh nhiều lần và hình thành một bụi sâm nhưng rất hiếm.
Lá kép hình chân vịt, mọc ở đỉnh thân. Cuống lá kép dai 2 — 12 cm, mỗi lá kép thường có 5 lá chét hình trứng ngược, hình mác hoặc bầu dục, mép khía răng cưa, đầu lá nhọn, đôi khi có mũi nhọn, gốc lá hình nêm. Lá chét ở giữa lớn nhất dai 15 cm, rộng 3 — 5 em. Gan lá hình lông chim, thường có 10 cặp, gân phụ hình mạng.
Phiến lá màu xanh lục, mảnh, đễ rách, có nhiều lông cứng dài 1 — 2 mm, mặt dưới ít hơn. Cây nay mam từ hạt chỉ có 1 lá kép với 5 lá chét, năm thứ 3 đa số 2 lá kép, năm thứ 4 đa số 3 lá kép, năm thứ 5 và 6 đa số 4 — 5 lá kép, rất hiếm gặp cây 6 lá kép. Cum hoa thường xuất hiện ở cây có 3 lá kép trở lên. Cuống cum hoa dai 10 — 12 em mang một tan đơn ở tận cùng, đôi khi có thêm | — 4 tán phụ hay một hoa đơn ở phía dưới tán chính.
Mỗi cụm hoa có 50 — 120 hoa, cuống hoa dai 1 — 1,5 cm. Hoa màu vàng lục nhạt, đường kính 3 — 4 mm, gồm 5 lá đài hợp thành hình chuông, trên chia thành 5 răng nhỏ, hình tam giác, 5 cánh hoa, 5 nhị màu trắng. Bao phan hình xoan, đính lưng, đĩa hoa hơi lỗi. Bau cao 1 — 1,5 mm, có 2 lá noãn.
Hoa thường nở vào buổi sáng từ 9 đến 11 giờ. Lúc này nhiệt độ không khí thường khoảng từ 18 — 20°C và độ âm từ 85 — 90%. Hoa nở dan từ ngoài vào và từ dưới lên. Đài hoa rụng 1 — 2 ngày sau khi nở và tán bat đầu kết quả.
Mùa hoa thay đổi tùy theo vùng nhưng thường bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 6. 15 Quả mọng, khi chín màu đỏ tươi, đa phần có chấm đen ở đỉnh như Nhân sâm, một số quả không có chấm đen ở đỉnh như quả Tam thất. Quả sâm có 1 ô 1 hạt và hiếm gặp quả 2 6 2 hạt, hạt hình thận, một số ít có hình cầu det chứa 2 hạt, nhưng còn có cả quả 3 ô 3 hạt. Mỗi chùm hoa trung bình có từ 20 đến 30 quả, trọng lượng trung bình của một quả là 200 mg.
Đối với quả sâm Ngọc Linh quả nào khi có chấm đen ở đỉnh thì nảy mầm còn những quả nào không có chấm đen ở đỉnh thì không nảy mầm. Trên một bông càng có nhiều quả có 2 hạt và 3 hạt thì hệ số nhân giống càng cao. Mùa quả từ tháng 7 đến tháng 9. Quả tập trung ở trung tâm của tán.
Sau hai tháng, quả bắt đầu chuyền từ màu xanh đến màu xanh thẫm, vàng lục rồi đỏ cam và đỏ tươi với 1 cham den ở trên đỉnh qua. Hạt màu trắng nga hay màu vàng nhạt, dai 6 — 8 mm, rộng 5 — 6 mm, dày 2 mm, bề mặt có nhiều chỗ lồi lõm. Khối lượng của 1 hạt tươi là 95 mg (Trần Thị Liên và ctv, 2020). Đặc điểm sinh thái Sâm Ngọc Linh là loại cây đặc biệt ưa am và ưa bóng, thường mọc rải rác hay tập trung thành từng đám nhỏ dưới tán rừng kín thường xanh cây lá rộng, đôi khi xen cả cây lá kim, độ tán che có thể lên tới 80% hoặc hơn.
Môi trường nơi sâm mọc luôn ầm ướt, thường xuyên có mây mù. Nhiệt độ không khí trung bình ước tính từ 15 đến 18°C, lượng mưa xấp xi 3000 mm/năm. Dat rừng ở đây được tạo thành do lá cây mục lâu ngày, có màu đen, tơi xốp, hàm lượng mun cao và dường như chứa nhiều nước. Sâm Ngọc Linh sinh trưởng mạnh trong mùa xuân — hè.
Mùa hoa quả bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, cây ra hoa và quả tương 16 đối đều hàng năm. Sau khi quả chín rụng xuống đất, tồn tại qua mùa đông khoảng trên 4 tháng và sẽ nảy mầm vào đầu mùa xuân năm sau. Quan sát quan thé sim Ngọc Linh mọc hoang dai, thay trong cùng một đám có nhiều cây ở các lứa tuổi khác nhau. Điều đó chứng tỏ sâm Ngọc Linh có khả năng tái sinh tự nhiên từ hạt khá tốt (Đỗ Huy Bích và ctv, 2004).
Tác dụng dược lý Theo tiễn sĩ Nguyễn Bá Hoạt, Phó viện trưởng Viện Dược liệu Việt Nam, những kết quả nghiên cứu dược lý thực nghiệm sâm Ngọc Linh đã chứng minh tác dụng chống stress vật lý, stress tâm lý và trầm cảm, kích thích hệ miễn dịch, chống oxi hóa, lão hóa, phòng chống ung thư, bảo vệ tế bào gan. Nghiên cứu dược lý lâm sàng của sâm Ngọc Linh cũng cho kết quả tốt: bệnh nhân ăn ngon, ngủ tốt, lên cân, tăng thị lực, hoạt động trí tuệ và thể lực cải thiện, gia tăng sức đề kháng, cải thiện các trường hợp suy nhược thần kinh và suy nhược sinh dục, nâng cao huyết áp ở người bị huyết áp thấp.